Chương 1). Kế hoạch phát triển trường học xem xét và ưu tiên các hoạt động của trường học trong bối cảnh các chính sách quốc gia và địa phương để đưa ra một chiến lược thực tế nhằm quản lý hiệu quả và thuận lợi cho trường học. Kế hoạch phải cải thiện chất lượng giáo dục của học sinh trong nhà trường. Khi phân tích bản chất của các kế hoạch phát triển trường học, bốn lĩnh vực cơ bản sau nên được xem 15 xét: “1.
Tầm quan trọng của kế hoạch phát triển trường học; 2. Mục đích sử dụng nội bộ và bên ngoài của kế hoạch phát triển trường học; 3. Tham gia vào quá trình lập kế hoạch phát triển trường học; 4. Tính tổng thể của kế hoạch phát triển trường học” [100, tr.
Tác giả đi sâu phân tích việc quản lý kế hoạch: vòng quay của các hoạt động (Chương 2), nội dung của kế hoạch phát triển trường học (Chương 3) cũng như việc quản lý quá trình - vai trò của quản lý, nhân viên, phụ huynh và học sinh trong việc hoạch định phát triển trường học (Chương 4). Tác giả cũng đã đưa ra định dạng của kế hoạch phát triển trường học (Chương 5). Trong các chương 6, 7, 8 và 9, các tác giả đưa ra những dẫn chứng cụ thể, các trường hợp nghiên cứu, các báo cáo phát triển của các trường học. Chris Lehmann - Zac Chase (2015), Building School 2.0 - Xây dựng trường học [89].
Sách bàn những vấn đề cơ bản về xây dựng trường học chất lượng cao với những luận điểm và đề xuất rất đáng chú ý. Theo các tác giả, xây dựng trường học chất lượng cao hướng tới mục đích và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với xã hội hiện đại đòi hỏi. Có thể tổng quan một số tư tưởng đáng chú ý như: Sự có mặt “vô hình” nhưng cấp thiết của công nghệ - kỹ thuật ứng dụng trong môi trường học tập; các mô hình lớp học tập trung vào người học mà các tác giả sách gọi là “thiết kế ngược” truyền thống; ứng dụng công nghệ - kỹ thuật nào cho tốt mà không nhất thiết lải là công nghệ mới nhất. Nhưng hơn tất cả các tác giả sách đã nhấn mạnh vai trò dẫn lối, mang những trải nghiệm thế giới thực vào trường học (thay vì lý thuyết suông) cho người học.
Như vậy các tác giả sách đã rất coi trọng yếu tố thực tiễn trong dạy học ở nhà trường cả nội dung, phương pháp và tổ chức các hình thức dạy học mà quá trình phát triển nhà trường nhất là phát triển chất lượng giáo dục nhà trường cần coi trọng đúng vấn đề này để dạy học trong nhà trường gắn sát với thực tiễn đang đòi hỏi. Hai tác giả David Jerner Martin Kimberly S. Trong nội dung cuốn 16 sách có nội dung bàn về triết lý giáo dục trong đó có triết lý về trường học và tuyên bố sứ mệnh. Theo đó sách có đề cập tới tuyên bố sứ mệnh của loại hình trường tư thục các tác giả viết: “Chúng tôi tin rằng mỗi học sinh sẽ học tập tốt nhất trong môi trường có thể hỗ trợ quá trình phát triển riêng của mỗi em.
Chúng tôi chú trọng phát triển về nhận thức và thể chất cùng với ý thức về toàn cầu hóa và giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn giúp học sinh tiến hành nhiều loại nghiên cứu khác nhau tùy theo sở thích phát triển trí tò mò cũng như lòng ham học ở các em. Chúng tôi ưu tiên tạo điều kiện để các em đưa ra lựa chọn thông minh, chú trọng tập trung và tham gia các hoạt động tương tác có mục đích, đồng thời biết quan tâm đến môi trường cũng như những người xung quanh” [56, tr. Tư tưởng này chỉ ra trong quá trình phát triển nhà trường, nhất là phát triển chất lượng dạy học của nhà trường cần khuyến khích sự sáng tạo và vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động học cho học sinh phù hợp với dạy học hiện đại.
Trong cuốn sách A Critical Review of the Early Childhood Literature – Tổng quan về văn hoá mầm non [107], do Tổ chức nghiên cứu về gia đình của Úc xuất bản tháng 10 năm 2016, các tác giả Dianna Warren, Meredith O’Connor, Diana Smart và Ben Edwards (2016) nghiên cứu về văn hoá trẻ em ở các loại hình trường mầm non khác nhau. Tác giả thực hiện đánh giá phê bình các tài liệu hiện có, tập trung cụ thể vào sự khác biệt giữa hệ thống chăm sóc và GDMN/mầm non của Úc và những nơi đã thực hiện các nghiên cứu quốc tế trọng điểm và mức độ mà những phát hiện từ các nghiên cứu quốc tế này có thể được dịch sang ngữ cảnh của Úc với những khác biệt này. Đánh giá văn hoá hiện tại bằng việc tập trung vào những khác biệt giữa hệ thống các trường mầm non/các cơ sở chăm sóc giáo dục trẻ mầm non của Úc với các trường mầm non nơi tập trung chủ yếu vào dạy chương trình quốc tế [107, tr. 17 Đặc biệt, trong phần 6.6, tác giả đề xuất một số biện pháp chính như sau: Bằng chứng rõ ràng rằng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có được nhiều lợi ích nhất từ Chương trình GDMN chất lượng cao (Chương trình giáo dục và chăm sóc trẻ mầm non); Đánh giá chất lượng cao cần được lồng ghép trong bất kỳ thay đổi nào để chứng minh hiệu quả đối với cả việc tham gia vào các loại hình GDMN khác và chăm sóc chỉ tại nhà.
Đánh giá để đo lường sự thành công trong việc thúc đẩy việc tiếp nhận các dịch vụ của những trẻ em dễ bị tổn thương nhất trong cộng đồng [107, tr. Cuốn sách Monitoring Quality in Early Childhood Education and Care, Approaches and Experiences from selected countries - Giám sát chất lượng trong chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, thành tựu và kinh nghiệm từ một số nước [130] của các tác giả Nicole Klinkhammer, Britta Schafer, Dana Harring và Anne Gwinner (2017). Nội dung sách đã phân tích những thành tựu đã đạt được và những kinh nghiệm giám sát chất lượng GDMN của một số nước. Cuốn sách gồm 11 bài viết khác nhau, trong đó có những vấn đề đáng chú ý như: 1:Quality development and assurance in Early Childhood Education and Care - International Perspectives (Bảo đảm và phát triển chất lượng trong CS,GD trẻ mầm non); 2:Regulating for Quality in Australian Early Childhood (Quy định chất lượng GDMN của Úc); 3:Preschool Quality, Governance and systematic Quality work in a Swedish Preschool context (Chất lượng trường mầm non, quản trị và hệ thống chất lượng công việc trong bối cảnh trường mầm non ở Thụy Điển); 4:Quality Assessment and Assurance in Preschool Education in Slovenia (Đánh giá và đảm bảo chất lượng GDMN ở Slovenia); 5:The supervision of early childhood education in the Netherlands (Giám sát GDMN ở Hà Lan); 6:Monitoring Quality in Danish ECEC settings with special focus on including children’s perspectives by adapting the Mosaic approach in a pedagogical context (Giám sát Chất lượng trong các cơ sở GDMN của Đan Mạch với sự tập trung đặc biệt vào quan 18 điểm của trẻ em thích nghi với phương pháp Mosaic trong bối cảnh sư phạm); 7:Does monitoring Quality in Early Childhood Education and Care contribution to Quality improvement? The staff’s perspective (Giám sát Chất lượng trong CS,GD Mầm non có đóng góp vào Cải tiến Chất lượng không? Quan điểm của nhân viên?); 8:The road to monitoring Quality in Childcare Settings for babies and toddlers in Flanders (Con đường để giám sát chất lượng trong cơ sở chăm sóc trẻ em cho trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi ở Flanders); 9:How are children doing in ECEC? Monitoring Quality within a process-oriented approach (Trẻ em học ở trường mầm non như thế nào? Giám sát chất lượng trong cách tiếp cận theo định hướng quá trình); 10:Monitoring as a guarantee of Qualiry? Evaluation of national reports and points of contact for Germany (Giám sát như một đảm bảo của chất lượng? Đánh giá các báo cáo quốc gia và các đầu mối liên hệ ở Đức).
Các tác giả Alison Andrew, Orazio Attanasio, Raquel Bernal, Lina Cardona Sosa, Sonya Krutikova và Marta Rubio-Codina (2019) với nghiên cứu Preschool Quality and Child Development - Phát triển trẻ em và chất lượng trường mầm non [93], do Văn phòng nghiên cứu kinh tế Quốc Gia chịu trách nhiệm xuất bản tại Cambridge, Vương quốc Anh. Nội dung sách đã tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc phát triển chất lượng trường mầm non đến phát triển của trẻ em. Nghiên cứu gồm 4 phần: Phần 1: Introduction (Giới thiệu); Phần 2: Interventions, Study Design and Empirical Strategy (Can thiệp, Thiết kế Nghiên cứu và Chiến lược Thực nghiệm), Phần 3: Outcomes and Measurement (Kết quả và Đo lường), Phần 4: Result (Kết quả). Trong nghiên cứu này, tác giả so sánh và đối chiếu ảnh hưởng của các khía cạnh có chủ đích khác nhau của chất lượng trường mầm non đến phát triển của trẻ em.
Tác giả phân tích cả những thay đổi được định sẵn và không định sẵn trong số lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như những thay đổi trong đầu tư của cha mẹ tạo ra những hiệu quả, ảnh 19 hưởng như thế nào. Cụ thể, tác giả đã thiết kế một thử nghiệm ngẫu nhiên được kiểm soát áp dụng cho 3 trường được lựa chọn (three-armed randomized controlled trial) xung quanh việc phát hành chương trình chính phủ rộng khắp quốc gia tại Campuchia để nâng cao chất lượng của các trường mầm non công lập cho trẻ em khuyết tật [93, tr. Kết quả nghiên cứu cho thấy bằng chứng xác thực mới là những tiếp cận khác nhau đến việc tăng cường đầu tư cho chất lượng giáo dục sớm có thể có những ảnh hưởng khác nhau [93, tr. Các nghiên cứu về trường mầm non ở các nước trên thế giới đều đã khẳng định vai trò của các trường MNTT trong hệ thống giáo dục quốc dân và các nước cũng có sự ủng hộ, định hướng cho sự phát triển của các trường MNTT phát huy được vai trò của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ em trên đất nước.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xã hội hóa giáo dục và phát triển giáo dục. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Đức [2019] ở sách “Quản lý đào tạo và quản trị nhà trường hiện đại” [30] cho biết: Từ năm 1947 hệ thống giáo dục Nhật Bản mới được hình thành với cấu trúc 6-3-3-4, trong đó các bậc học cơ bản từ Tiền tiểu học, Tiểu học, Trung học và Đại học theo luật cơ bản về Giáo dục và Luật Giáo dục nhà trường. Hệ thống giáo dục bao gồm các bậc học và loại hình trường cơ bản sau đây: Giáo dục tiền học đường (Pre-school), Giáo dục tiểu học, Giáo dục trung học, Giáo dục đại học.