Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ 1. Ngân sách Nhà nước và Ngân sách cấp xã 1. Tổng quan về Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm Ngân sách Nhà nước Theo điều 4 Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ chín thông qua ngày 25/6/2015 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017 thì: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.
Ngân sách nhà nước gồm hai phần là thu và chi Thu ngân sách nhà nước là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là tập hợp các quan hệ kinh tế gắn liền với quá tŕnh sử dụng ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước. Đặc điểm của ngân sách nhà nước: Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về ngân sách nhà nước thông qua các đặc điểm của nó, đó là: - Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế-chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. - Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn lực tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước.
- Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng. 5 - Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định. - Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thể hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Chức năng của ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nước có 4 chức năng cơ bản đó là: - Thứ nhất là, cùng với các công cụ khác của Nhà nước, ngân sách nhà nước là một công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống lạm phát và giảm thất nghiệp. - Thứ hai là, chức năng phân bổ nguồn lực trong xã hội: Để tạo lập và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý ngân sách nhà nước, nhà nước thực hiện phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, có nhiều rủi ro, cần khuyến khích hoặc hạn chế phát triển; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bổ nguồn lực của các thành phần kinh tế và khu vực tư nhân. - Thứ ba là, chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội: Nhà nước thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập dưới hình thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hạn chế bớt sự phân hóa xã hội, sự bất bình đẳng về thu nhập đảm bảo sự công bằng hợp lý, làm cho nguồn thu nhập của xã hội được sử dụng một cách kịp thời hiệu quả. Nhà nước thực hiện các mục tiêu trên thông qua công cụ thuế và công cụ chi tiêu.
- Thứ bốn là, chức năng điều chỉnh kinh tế: Chính sách ngân sách nhà nước là một bộ phận không thể tách rời của chính sách kinh tế-xă hội. Khi nền kinh tế suy thoái người ta thường khuyến cáo dùng chính sách tài khóa kích cầu bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công, từ đó làm tăng khối lượng sản xuất xã hội. Khi nền kinh tế phát triển bình thường, trong điều kiện mở cửa thì chính sách tài khóa kích thích sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền: chính sách tài khóa kích thích nới lỏng 6 với mục đích tăng tổng cầu, mức lãi suất trong nước tăng, giá đồng nội tệ tăng, thuần xuất khẩu giảm, tổng cầu giảm. Như vậy, trước mắt chính sách tài khóa có thể kích thích tổng cầu có tác động đến tăng trưởng kinh tế, nhưng về lâu dài lại kìm hãm chính quá trình tăng trưởng.
Đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khóa nói riêng phải tính đến việc sử dụng công cụ ngân sách nhà nước một cách thích hợp trong quá trình điều chỉnh nền kinh tế. Trong lý thuyết “Điều chỉnh nền kinh tế của nhà nước”, nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) đề cao vai trò kinh tế của nhà nước, ông cho rằng cần phải sử dụng ngân sách của nhà nước để kích thích đầu tư của tư nhân và nhà nước, phải sử dụng một hệ thống các công cụ và các chính sách kinh tế, trong đó tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ là một trong những công cụ để quản lý kinh tế vĩ mô rất quan trọng., bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhịp nhàng ổn định. Bốn chức năng nói trên có mối quan hệ rất gắn bó, phản ánh được bản chất hoạt động của ngân sách nhà nước trong quá trình tạo lập, khai thác động viên, phân bổ, tổ chức huy động các nguồn vốn cũng như tham gia kiểm soát, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Vai trò của Ngân sách Nhà nước: Ngân sách Nhà nước được nhà nước quản lý và sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nên vai trò của ngân sách nhà nước không thể tách rời với vai trò của nhà nước, thể hiện qua các điểm sau đây: - Thứ nhất là, vai trò huy động nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước Đây là vai trò cơ bản của ngân sách nhà nước, được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước là nguồn tài chính cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước.
Hình thức truyền thống được sử dụng từ trước đến nay để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là thuế. Ngoài ra nhà nước còn có nguồn thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, các khoản thu huy động nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và một số khoản thu khác. 7 - Thứ hai là, vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội. Vai trò này của ngân sách nước phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể trong từng giai đoạn và mức độ can thiệp của nhà nước đối với hoạt động của nền kinh tế và được thể hiện ở ba nội dung cơ bản sau: + Điều chỉnh cơ cấu kinh tế đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định và bền vững: Thông qua hai công cụ chủ yếu là thuế và các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước có tác động điều chỉnh cơ cấu kinh tế đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định và bền vững bằng việc phối hợp thuế trực thu - thuế gián thu, vận dụng thuế suất thích hợp, nhà nước vừa kích thích vừa gây sức ép chuyển dịch cơ cấu kinh tế lên các chủ thể trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm từ đó tạo cơ sở vật chất kỹ thuật thúc đẩy sự ra đời các cơ sở kinh tế mới cũng góp phần rất lớn làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế. + Điều tiết thị trường, ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát: Trong cơ chế thị trường, cung cầu là những yếu tố chi phối mạnh mẽ đến hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm giá cả tăng - giảm đột biến gây ra các biến động trên thị trường. Để điều tiết cung - cầu, ổn định giá cả, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng, nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước can thiệp vào thị trường dưới các hình thức trực tiếp như: chi ngân sách mua hàng hóa, địch vụ để điều chỉnh tổng cầu, trợ giá, tài trợ vốn nhằm kích cầu, kích cung.Đồng thời sử dụng thuế, một bộ phận của ngân sách nhà nước để tác động gián tiếp vào cung cầu thông qua hạn chế hoặc khuyến khích sản xuất và tiêu dùng.
Bên cạnh đó, NSNN còn được sử dụng để can thiệp vào thị trường tài chính thông qua sử dụng các quỹ dự trữ tài chính tác động vào cung cầu tiền tệ, trên cơ sở đó nhà nước thực hiện kiềm chế và kiểm soát lạm phát. + Điều tiết thu nhập của dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội: Với chức năng phân phối cụ thể là phân phối tổng sản phẩm xã hội, ngân sách nhà nước được xem là một công cụ quan trọng để điều tiết làm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập, hạn chế sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cư và góp phần vào 8 thực hiện công bằng xã hội. Vai trò này của ngân sách nhà nước được thể hiện ở cả hai mặt thu và chi. Về thu, nhà nước sử dụng thuế trực thu, thuế gián thu để điều tiết thu nhập của mọi tầng lớp dân cư; về chi, thông qua các khoản chi tiêu ngân sách, nhà nước thực hiện các chính sách phúc lợi và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ công phục vụ cho nhu cầu chung của toàn xã hội.
Tóm lại, gắn với sự ra đời của nhà nước ngân sách nhà nước ngày càng trở thành cơ sở vật chất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Đồng thời thông qua hoạt động của Nhà nước, NSNN có tác động sâu-rộng đến mọi mặt kinh tế-xã hội và trở thành yếu tố chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống ngân sách nhà nước Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước. Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế độ xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính.
Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính.