phần mở đầu, kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo đề tài trình bày các chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý lệ phí địa chính Chƣơng 2: Thực trạng quản lý lệ phí địa chính tại Sở Tài nguyên và Môi Trường Hà Nội Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháptăng cường quản lý lệ phí địa chính tại Sở Tài nguyên và Môi Trường Hà Nội.” 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ LỆ PHÍ ĐỊA CHÍNH 1. Những vấn đề chung về lệ phí địa chính 1. Địa chính, quản lý địa chính và lệ phí địa chính 1. Quan niệm về địa chính và quản lý địa chính Quan niệm về địa chính Ngày“nay, địa chính không còn quá xa lạ đối với người dân ở Việt Nam cũng như trên thế giới vì nó là một lĩnh vực gắn bó với đời sống của con người, nó liên quan đến quyền sở hữu bất động sản và quyền sử dụng đất, một giá trị rất nhạy cảm đối với mỗi người.
Địa chính chiếm một vị trí đặc biệt trong việc xác định bằng chứng pháp lý về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và là cơ sở để định thuế. Công tác địa chính đã và đang ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhất vào ngành của mình, nó cũng đặt ra các yêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực liên quan đến đo đạc, vẽ bản đồ, quản lý thông tin.” "Địa chính là cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ đo đạc, thống kê đất đai trong cả nước"(Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, năm 1996) "Địa chính là bản ghi (quyển sách) dùng làm căn cứ cho việc đăng ký đất đai, trưng thu ruộng đất của chính phủ đương thời"(Trung bảo kỳ, 1979) Địa“chính được xem như là trạng thái hộ tịch, quyền sở hữu nhà đất"(Hiến pháp 1996). Nội“dung địa chính có thể hiểu, 1). Là bản kê về sở hữu và sử dụng đất đai, trong đó có chứa đựng những thông tin tương đối đầy đủ đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân về các phương diện thuế đất, pháp lý và kinh tế.
Nói cách khác nó là bộ hồ sơ quản lý đất đai bao gồm sổ địa bạ và bản đồ địa chính; 2). Địa chính là việc quản lý đất đai do Nhà nước tiến hành bao gồm ba khâu cơ bản: thành lập bản đồ địa chính; thống kê số lượng, đánh giá chất lượng làm cơ sở đánh thuế; xác định khía cạnh pháp lý của đất đai nhằm quy định nghĩa vụ và quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, sử dụng.” 8 Như vậy có thể hiểu: địa chính là tổng hợp các tư liệu, văn bản xác định rõ vị trí, ranh giới, phân loại, số lượng, chất lượng của đất đai, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc phân bố, đánh giá thuế đất và việc quản lý đất đai có hiệu quả. Quản lý địa chính: khái niệm, nội dung và nguyên tắc Quản lý địa chính là hệ thống các biện pháp giúp cho cơ quan Nhà nước nắm chắc các thông tin đất đai, quản lý được quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người sở hữu và sử dụng đất.” Nội"dung QLNN về đất đai (quản lý địa chính) được quy định rõ trong luật đất đai và được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật. Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai với các nội dung như sau:" -“Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
- Khảo sát, đo đạc, xác định địa giới hành chính; lập và quản lý bản đồ địa giới hành chính, bản đồ địa chính và các loại bản đồ chuyên ngành vê đất đai. - Quản lý quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất. - Lập, quản lý hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết các khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý các dịch vụ công về đất đai.” Thông"qua các cơ quan chức năng lập pháp, hành pháp của Nhà nước từ trung ương đến địa phương và hệ thống cơ quan chuyên môn giúp việc để Nhà nước thực hiện đầy đủ quyền sở hữu và chức năng quản lý đất đai. Các nội dung trên đều phục vụ trên ba lĩnh vực cơ bản:" -“Hoạt động nắm chắc tình hình đất đai.
9 - Hoạt động phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch. - Hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất. Quản lý địa chính cần thực hiện theo nguyên tắc sau: - Quản lý địa chính theo một hệ thống thống nhất do Nhà nước đề ra và được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật như: Luật, nghị định, thông tư …. - Các tư liệu, tài liệu địa chính phải đảm bảo nhất quán, liên tục và hệ thống.
- Đảm bảo độ chính xác và có độ tin cậy cao. - Đảm bảo tính khái quát và tính hoàn chỉnh. Một số vấn đề chung về phí và lệ phí Khái niệm phí, lệ phí Căn cứ vào pháp lệnh về phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 38/2001 ngày 28 tháng 8 năm 2001, tại điều 2 và 3 có quy định: "Phí là khoản tiền mà các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí". "Lệ phí là khoản tiền mà các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải nộp khi được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức được uỷ quyền phục vụ công việc quản lý Nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí".
Còn“theo Luật phí và lệ phí quy định” “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công”. “Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan Nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý Nhà nước”. Và như vậy, có thể hiểu:"Phí là khoản tiền mà các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải trả cho một cơ quan Nhà nước, tổ chức khi nhận được dịch vụ do cơ quan và tổ chức này cung”cấp.“Trong hoạt động xã hội có nhiều tổ chức kinh doanh lẫn tổ chức thuộc bộ máy công quyền cung cấp ra bên ngoài những dịch vụ công. Phí của những dịch vụ này chính là số tiền cần thiết phải thu của đối tượng thụ hưởng theo quy định của pháp luật nhằm bù đắp chi phí hoạt động và có lợi nhuận (đối với tổ chức kinh doanh).
Còn lệ phí là khoản tiền mà các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân 10 phải nộp cho một cơ quan Nhà nước khi thụ hưởng dịch vụ liên quan đế quản lý hành chính Nhà nước do cơ quan này cung cấp.” Phân loại phí, lệ phí Quy định"về Danh mục phí, lệ phí của các nước rất khác nhau, thường theo hai xu hướng: (i) Quy định cụ thể danh mục các loại phí, lệ phí trong Luật về phí, lệ phí như In-đô-nê-xi-a; (ii) Một số nước không quy định cụ thể Danh mục phí, lệ phí trong Luật mà được các bộ, ngành xây dựng Danh mục phí trên cơ sở chức năng và hoạt động cung cấp dịch vụ công của cơ quan Nhà nước được quy định trong Hiến pháp cũng như Luật Phí quy định theo hướng dẫn chung của Bộ Tài chính (Ca-na- đa, Phần Lan). Đối với những nước không xây dựng Luật về phí, lệ phí thì Danh mục phí, lệ phí được quy định tại các văn bản luật của các bộ khác nhau, tùy vào lĩnh vực thu phí (Thái Lan) hoặc trên cơ sở hướng dẫn chung về phí, lệ phí, các đơn vị, CQĐP thực hiện xây dựng Danh mục phí, lệ phí, mức thu của mình (Trung Quốc, Phi-líp-pin). Đối với Việt Nam hiện nay khi Luật phí và lệ phí chưa có hiệu lực thi hành thì cơ sở, căn cứ để xác định phí và lệ phí vẫn tuân theo pháp lệnh về phí và lệ phí, đồng thời căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý địa phương được phân cấp về quản lý phí, lệ phí." Theo“quy định của Pháp lệnh phí, lệ phí, Danh mục phí gồm 73 loại phí được phân thành 12 nhóm theo tính chất công việc gắn với lĩnh vực, nhóm ngành có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật tương tự như nhau; danh mục lệ phí gồm 43 loại được phân thành 5 nhóm theo các công việc quản lý hành chính”Nhà nước.“Trên cơ sở đó,“Chính phủ đã quy định chi tiết danh mục gồm 301 khoản phí, lệ phí bao gồm 171 khoản phí và 130 khoản lệ”phí.“Đối với Luật phí và lệ phícó hiệu lực từ ngày 01/01/2017, Nhà nước đã ban hành 89 mục với 212 phí và 54 mục với 109 lệ phí; còn các phí, lệ phí khác trong danh mục phí lệ phí quy định ở pháp lệnh 38/2001 về phí và lệ phí được chuyển sang thực hiện theo cơ chế giá.” Phân loại phí:trong 212 khoản phí được sắp xếp, phân loại thành 13 mục. Phân loại theo theo lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội bao gồm: phí thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (10 mục); phí thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại, đầu tư, xây dựng (9 mục); phí thuộc lĩnh vực ngoại giao (4 11 mục); phí thuộc lính vực an ninh, quốc phòng (5 mục ); phí thuộc lĩnh vực giao thông vận tải (4 mục); phí thuộc lính vực thông tin và truyền thông (11 mục); phí thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch (6 mục); phí thuộc lĩnh vực y tế (4 mục); phí thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường (10 mục); phí thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ (8 mục); phí thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm (4 mục); phí thuộc lĩnh vực tư pháp (10 mục); phí trong lĩnh vực khác (4 mục).