Tổng quan nghiên cứu

Dải bờ biển tỉnh Kiên Giang kéo dài hơn 200 km đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh quốc phòng vùng Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, dưới tác động kép của biến đổi khí hậu toàn cầu và các hoạt động nhân sinh, khu vực này đang đối mặt với nguy cơ sạt lở bờ biển nghiêm trọng. Báo cáo thực địa chỉ ra rằng toàn tỉnh có đến 64,37 km bờ biển bị xói lở, trong đó 31,21 km thuộc mức độ đặc biệt nguy hiểm và 11,25 km ở mức nguy hiểm. Tốc độ xâm thực bờ biển tại huyện Hòn Đất lên tới 20 - 50 m rừng phòng hộ mỗi năm, còn tại huyện An Minh là 10 - 20 m mỗi năm, đe dọa trực tiếp đến diện tích 2.894 ha rừng ngập mặn còn lại cùng đời sống của hơn 1,69 triệu người dân địa phương.

Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường của tác giả Lê Quang Y, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hà Quang Khải và PGS.TS. Võ Lê Phú tại Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (bảo vệ tháng 2 năm 2023), đã tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương bờ biển tỉnh Kiên Giang và đề xuất các giải pháp quản lý vùng bờ bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ đới bờ đất liền tỉnh Kiên Giang trải dài qua các huyện Kiên Lương, Hòn Đất, Châu Thành, An Biên, An Minh và thành phố Hà Tiên, Rạch Giá.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xây dựng bản đồ phân vùng tổn thương đường bờ chi tiết, lượng hóa rủi ro thành 5 cấp độ từ rất thấp đến rất cao. Đây là căn cứ khoa học chuẩn xác giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa 100% nguồn lực đầu tư đê kè, giảm thiểu thiệt hại tài sản cho hơn 144 đơn vị hành chính cấp xã, đồng thời cung cấp bộ cơ sở dữ liệu số tích hợp trực tiếp vào quy hoạch không gian biển của tỉnh đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên khung đánh giá tính dễ bị tổn thương do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007) và mô hình tổn thương của Turner (2003) tích hợp khung phân tích Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng (DPSIR). Cấu trúc lý thuyết xác định tính dễ bị tổn thương vùng bờ là hàm số hợp thành từ 3 khía cạnh: mức độ phơi bày trước hiểm họa tự nhiên, độ nhạy cảm của hệ sinh thái và năng lực thích ứng của hệ thống kinh tế - xã hội. Nghiên cứu cũng kế thừa quy trình đánh giá tổn thương tài nguyên môi trường biển tổng hợp của Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2017) để định hình các tiêu chí đặc thù cho vùng đồng bằng cửa sông ven biển.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Tính dễ bị tổn thương đường bờ (Coastal Vulnerability Index - CVI): Mức độ tổn thất hoặc suy thoái của hệ thống tự nhiên và xã hội ven bờ trước các tác động ngoại sinh do tai biến xói lở và nước biển dâng.
  • Tính nhạy cảm sinh thái (Ecological Sensitivity): Trạng thái dễ biến đổi của lớp phủ thực vật rừng ngập mặn và cấu trúc địa mạo dưới áp lực sóng gió.
  • Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity): Khả năng của cộng đồng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong việc hấp thụ, chống chịu và phục hồi sau thiên tai.
  • Tốc độ biến động đường bờ (End Point Rate - EPR): Suất thay đổi vị trí mép nước trung bình năm tính bằng mét trên năm (m/năm).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ ảnh viễn thám đa thời kỳ Landsat TM và Landsat OLI trên hệ thống USGS EarthExplorer giai đoạn 1989 - 2020, mô hình độ cao số DEM từ vệ tinh ALOS độ phân giải 30 m, bản đồ thổ nhưỡng tỉ lệ 1:100.000, bản đồ quy hoạch sử dụng đất tỉnh Kiên Giang và Niên giám thống kê tỉnh giai đoạn 2015 - 2020.

Về phương pháp phân tích, nghiên cứu ứng dụng quy trình xử lý không gian đa bước:

  1. Chiết tách đường bờ tự động: Sử dụng phần mềm ENVI 5.2 tính toán chỉ số khác biệt nước chuẩn hóa (NDWI) giữa kênh Green (kênh 2/kênh 3) và kênh NIR (kênh 4/kênh 5) để phân tách ranh giới đất - nước với ngưỡng phân tách tối ưu.
  2. Đo đạc tốc độ xói lở - bồi tụ: Ứng dụng công cụ Digital Shoreline Analysis System (DSAS) tích hợp trong ArcGIS 10.6, thiết lập hệ thống hơn 1.000 transect thẳng góc với đường cơ sở (baseline) cách nhau 100 m để tính toán tỷ lệ dịch chuyển đường bờ theo thời gian.
  3. Phân tích thứ bậc AHP (Saaty, 1980): Thiết lập ma trận so sánh cặp giữa 11 tiêu chí thuộc 2 nhóm nhân tố (vật lý: độ cao, độ dốc, địa mạo, cấu tạo đất, khoảng cách bờ biển, mật độ thực vật, tốc độ thay đổi đường bờ; kinh tế - xã hội: mật độ dân số, mạng lưới giao thông, sử dụng đất, điểm du lịch). Trọng số vector được kiểm chuẩn qua tỷ số nhất quán CR nhỏ hơn 0,10, đảm bảo tính khách quan toán học.
  4. Chồng lớp không gian có trọng số (Weighted Overlay): Hợp nhất 11 lớp bản đồ đơn tính để tạo lập bản đồ tính dễ bị tổn thương tổng thể trên lưới raster chuẩn hóa.

Lý do lựa chọn chuỗi phương pháp này là khả năng lượng hóa chính xác các biến số phi cấu trúc, giảm thiểu định kiến chủ quan của chuyên gia và giải quyết bài toán phân tích đa chiều trên dải bờ biển rộng lớn hơn 200 km.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả mô hình hóa không gian bằng phương pháp chồng lớp có trọng số AHP đã phân chia dải bờ biển tỉnh Kiên Giang thành 5 cấp độ tổn thương với các phát hiện định lượng nổi bật:

Thứ nhất, khu vực có mức độ tổn thương rất cao chiếm 14,3% và mức độ cao chiếm 26,2% tổng diện tích đới bờ. Tổng cộng có tới 40,5% dải bờ biển nằm trong tình trạng báo động nghiêm trọng, phân bố tập trung tại các xã Vân Khánh Tây, Vân Khánh, Đông Hưng A, Tân Thạnh, Thuận Hòa (huyện An Minh), Nam Thái (huyện An Biên), khu vực cửa sông Cái Lớn, Mỹ Lâm, Thổ Sơn, Vàm Rầy (huyện Hòn Đất), Bình An, Dương Hòa (huyện Kiên Lương) và các bãi tắm ven biển TP. Hà Tiên.

Thứ hai, khu vực có mức độ tổn thương thấp và rất thấp lần lượt chiếm 18,3% và 9,0% diện tích (tổng cộng 27,3%). Nhóm này phân bố tại khu vực nội ô TP. Rạch Giá, xã Nam Thái A, Nam Yên, Tây Yên (huyện An Biên) và xã Bình Sơn (huyện Hòn Đất). Đây là những nơi có địa hình đồi núi che chắn hoặc đã được xây dựng hệ thống đê biển, bờ kè bê tông kiên cố kết hợp với dải rừng ngập mặn dày trên 150 m.

Thứ ba, sự suy thoái nghiêm trọng của đai rừng phòng hộ là nhân tố kích hoạt xói lở nhanh nhất. Trong tổng số 2.894 ha rừng ngập mặn toàn tỉnh, các điểm xói lở nguy hiểm tại huyện Hòn Đất đã làm mất từ 20 đến 50 m thảm thực vật ven biển mỗi năm. Tại huyện An Minh, tốc độ sạt lở từ 10 đến 20 m mỗi năm đã phá vỡ thế cân bằng sinh thái, khiến bùn cát đáy biển bị sóng cuốn trôi ra xa, làm sâu hóa bãi triều.

Thứ tư, kết quả phân tích độ nhạy AHP xác định trọng số của nhóm yếu tố vật lý chiếm ưu thế 60%, trong đó tốc độ biến động đường bờ và mật độ rừng ngập mặn là hai tiêu chí có trọng số cao nhất (đều trên 18%). Trong nhóm kinh tế - xã hội (chiếm 40% trọng số), mật độ dân cư và phân loại đất nuôi trồng thủy sản ven biển là hai nhân tố đóng góp lớn nhất vào mức độ tổn hại kinh tế khi tai biến xảy ra.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tổn thương nghiêm trọng tại 40,5% chiều dài bờ biển Kiên Giang bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa chế độ nhật triều không đều vịnh Thái Lan (biên độ triều dao động từ 0,8 m đến 1,18 m tại trạm Rạch Giá) và sóng lừng trong mùa gió Tây Nam với tốc độ gió tối đa lên tới 17 m/s (sóng cao 3 - 4 m). Thêm vào đó, địa hình trũng thấp của vùng đồng bằng phù sa cổ với cao độ chỉ từ 0,2 m đến 0,8 m kết hợp nền đất phèn mặn có lực dính yếu khiến bờ biển rất dễ bị dòng chảy bóc mòn. Hoạt động chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang đầm nuôi tôm tự phát giai đoạn trước năm 2015 đã làm suy giảm lớp chắn sóng sinh học tự nhiên.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế của Naser Ahmed và cộng sự (2021) tại Bangladesh hay A. Hzami và cộng sự (2021) tại Bắc Phi, kết quả luận văn có sự tương đồng sâu sắc: các hoạt động nhân sinh thiếu quy hoạch kết hợp địa hình thấp trũng luôn làm tăng cấp độ tổn thương lên gấp 2 đến 3 lần so với biến động tự nhiên thuần túy. So với nghiên cứu của Hà Quang Hải và cộng sự (2018) tại dải ven biển Hà Tiên - Kiên Lương, luận văn đã mở rộng quy mô toàn diện và chi tiết hóa ma trận trọng số AHP, giúp phản ánh chân thực mối quan hệ giữa áp lực kinh tế và khả năng suy thoái vùng bờ.

Về mặt biểu diễn trực quan, các kết quả này được hệ thống hóa thành bản đồ phân vùng tổn thương CVI tỉ lệ 1:50.000 với 5 gam màu chuẩn hóa, kết hợp biểu đồ cơ cấu tỷ lệ diện tích tổn thương (14,3% rất cao; 26,2% cao; 32,2% trung bình; 18,3% thấp; 9,0% rất thấp) và bảng tổng hợp 11 ma trận so sánh cặp AHP, tạo nên công cụ trực quan hỗ trợ đắc lực cho công tác chỉ đạo phòng chống thiên tai.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân vùng tổn thương, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý tích hợp, có lộ trình và chỉ số đo lường cụ thể:

Thứ nhất, triển khai giải pháp công trình bảo vệ bờ biển đa tầng:

  • Xây dựng 31,21 km đê ngầm giảm sóng bằng các khối bê tông rỗng đục lỗ kết hợp kè đá đổ bán ngập tại các đoạn xói lở đặc biệt nguy hiểm thuộc huyện An Minh và Hòn Đất nhằm tiêu tán 70 - 80% năng lượng sóng ngoài khơi trước khi truyền vào bờ.
  • Nâng cấp và kiên cố hóa 64,37 km tuyến đê biển số 2 chống chịu được mực nước triều dâng cực đoan và bão cấp 9.
  • Timeline: Giai đoạn 2023 - 2027.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang phối hợp Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh.

Thứ hai, phục hồi và mở rộng đai rừng ngập mặn phòng hộ:

  • Trồng mới và phục hồi 1.500 ha rừng phòng hộ ven biển bằng các loài cây tiên phong như Mắm trắng (Avicennia alba), Đước đôi (Rhizophora apiculata) tại các bãi bồi sau đê giảm sóng ở xã Vân Khánh, Vân Khánh Tây, Thổ Sơn, hướng tới mục tiêu giảm tốc độ xói lở xuống dưới 2 m/năm.
  • Phục hồi đai rừng dày tối thiểu 100 - 200 m để tạo bẫy giữ bùn cát phù sa.
  • Timeline: Giai đoạn 2023 - 2030.
  • Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm Kiên Giang, Ban Quản lý rừng phòng hộ ven biển phối hợp cùng chính quyền địa phương cấp xã.

Thứ ba, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển và quản lý tổng hợp đới bờ (ICZM):

  • Ban hành quy chế cấm xây dựng công trình kiên cố trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ biển tối thiểu 100 m tính từ mép triều kiên cố; di dời toàn bộ hơn 1.200 hộ dân đang sinh sống tại các điểm sạt lở nguy hiểm ven đê vào các cụm tuyến dân cư an toàn.
  • Chuyển đổi mô hình kinh tế ven biển sang nuôi tôm - rừng sinh thái bền vững đạt chuẩn chứng nhận quốc tế cho 100% diện tích ven biển huyện An Minh và An Biên.
  • Timeline: Giai đoạn 2023 - 2026.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên Giang phối hợp UBND các huyện An Minh, An Biên, Hòn Đất, Kiên Lương.

Thứ tư, số hóa và xây dựng hệ thống quan trắc đường bờ viễn thám định kỳ:

  • Thiết lập quy trình giám sát biến động đường bờ 6 tháng một lần bằng ảnh vệ tinh quang học và Radar Sentinel/Landsat, tích hợp 100% cơ sở dữ liệu GIS vào Cổng thông tin tài nguyên môi trường tỉnh để phát hiện sớm các cung sạt lở mới.
  • Timeline: Bắt đầu vận hành từ quý IV/2023.
  • Chủ thể thực hiện: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh phối hợp các viện, trường đại học chuyên ngành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng cao, là tài liệu tham khảo đắc lực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách:
  • Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thủy lợi các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Use case: Ứng dụng trực tiếp bản đồ phân vùng CVI và ma trận trọng số AHP để xây dựng Đề án phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển, đồng thời thẩm định quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2021 - 2030 tầm nhìn 2050.
  1. Kỹ sư tư vấn thiết kế và quy hoạch công trình ven biển:
  • Các viện quy hoạch đô thị, công ty tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, giao thông thủy bộ.
  • Use case: Tham khảo mô hình đê giảm sóng đa tầng kết cấu rỗng, tính toán thông số thủy triều và dòng chảy ven bờ để tối ưu hóa kết cấu chân kè cho các dự án đê biển Tây Nam Bộ.
  1. Nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học:
  • Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Trắc địa - Bản đồ, Hải dương học và Biến đổi khí hậu.
  • Use case: Kế thừa quy trình tự động hóa chiết tách đường bờ qua chỉ số NDWI trên ảnh Landsat kết hợp phần mềm DSAS để triển khai các đề tài nghiên cứu biến động địa mạo bờ biển tại các vùng sinh thái tương đồng.
  1. Các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính quốc tế (GIZ, UNDP, WB, ADB):
  • Quản lý dự án và chuyên gia biến đổi khí hậu phụ trách các chương trình phát triển bền vững vùng ven biển.
  • Use case: Sử dụng bộ số liệu định lượng về 64,37 km bờ biển sạt lở và hiện trạng 2.894 ha rừng ngập mặn làm cơ sở xây dựng đề xuất dự án tài trợ vốn ODA cho các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái (EbA).

Câu hỏi thường gặp

  1. Phương pháp phân tích thứ bậc AHP kết hợp GIS trong luận văn có độ tin cậy khoa học như thế nào? Phương pháp AHP lượng hóa ý kiến chuyên gia thành ma trận so sánh cặp toán học với chỉ số tỷ số nhất quán CR nhỏ hơn 0,10, loại trừ hoàn toàn các mâu thuẫn chủ quan. Khi tích hợp vào phần mềm ArcGIS 10.6 qua công cụ Weighted Overlay, 11 lớp dữ liệu đơn tính được chồng lớp đồng bộ theo tọa độ chuẩn VN-2000, mang lại độ chính xác không gian trên 85% so với thực địa.

  2. Vì sao vùng bờ biển huyện Hòn Đất và huyện An Minh lại ghi nhận mức độ tổn thương cao nhất toàn tỉnh? Hai khu vực này có cao độ địa hình thấp chỉ từ 0,2 m đến 0,4 m, cấu tạo đất chủ yếu là bùn sét phèn mặn kém liên kết và chịu tác động trực diện của sóng Tây Nam với chiều cao sóng lên tới 3 - 4 m. Tình trạng mất 10 - 50 m rừng phòng hộ mỗi năm đã triệt tiêu lớp bảo vệ tự nhiên, khiến đường bờ xói lở đặc biệt nguy hiểm trên tổng chiều dài hơn 31,21 km.

  3. Chỉ số khác biệt nước chuẩn hóa (NDWI) hoạt động ra sao trong việc chiết tách đường bờ từ ảnh Landsat? NDWI khai thác sự tương phản phổ giữa kênh ánh sáng nhìn thấy Green và kênh hồng ngoại gần NIR. Nước hấp thụ mạnh sóng NIR (hệ số phản xạ nhỏ hơn 0) trong khi đất và thực vật phản xạ mạnh sóng NIR (hệ số lớn hơn 0). Qua công cụ phân ngưỡng trên phần mềm ENVI 5.2, ranh giới mép nước và bãi triều được tách biệt hoàn toàn tự động và chuẩn xác.

  4. Mô hình công trình bảo vệ bờ biển đa tầng được đề xuất trong luận văn có ưu điểm gì vượt trội so với kè truyền thống? Mô hình đê ngầm giảm sóng đa tầng kết hợp rạn nhân tạo và thảm rừng ngập mặn giúp triệt tiêu 70 - 80% năng lượng sóng từ xa mà không làm biến đổi đột ngột trường sóng ven bờ. Giải pháp này vừa giảm 30 - 40% chi phí duy tu kè cứng, vừa tạo vùng nước tĩnh phía sau đê để bồi tụ bùn cát và phục hồi sinh khối rừng ngập mặn.

  5. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể chuyển giao áp dụng cho các tỉnh ven biển lân cận như Cà Mau hay Bạc Liêu không? Toàn bộ quy trình đánh giá 11 tiêu chí vật lý - kinh tế xã hội và bộ trọng số AHP hoàn toàn có thể chuyển giao cho Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng. Do các tỉnh này có cùng điều kiện tự nhiên đới bờ trũng thấp, chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều vịnh Thái Lan hoặc bán nhật triều Biển Đông và sự suy giảm rừng ngập mặn tương đồng.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công quy trình tích hợp viễn thám Landsat đa thời kỳ, công cụ DSAS và phân tích thứ bậc AHP trên nền tảng GIS để đánh giá toàn diện tính dễ bị tổn thương cho hơn 200 km bờ biển Kiên Giang.
  • Xác định chính xác 40,5% dải bờ biển thuộc cấp độ tổn thương cao và rất cao (tổng cộng 64,37 km xói lở, trong đó 31,21 km đặc biệt nguy hiểm), tập trung tại các điểm nóng Hòn Đất, An Minh và Kiên Lương.
  • Làm rõ vai trò quyết định của 2.894 ha rừng ngập mặn ven biển trong việc giảm thiểu tốc độ xói lở từ 20 - 50 m/năm xuống mức an toàn dưới 2 m/năm.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật - quản lý khả thi gồm công trình đê giảm sóng đa tầng, phục hồi 1.500 ha rừng phòng hộ, quy hoạch hành lang đới bờ và số hóa dữ liệu giám sát viễn thám giai đoạn 2023 - 2030.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Kiên Giang phê duyệt đề án phân vùng rủi ro, bố trí ngân sách công trình đợt 1 trước năm 2025; các nhà quản lý và nhà nghiên cứu hãy nhanh chóng khai thác bộ dữ liệu này để chung tay bảo vệ dải bờ biển Tây Nam bền vững.