CHƯƠNG 1 ‘Tren thế giới cũng như ở Việt Nam vùng bờ biển là nơi thường xẩy ra nhiều thiên tai, hiểm hoa, tai biến, do tác động của các yếu tố biển như thuy triểu, sóng gió, dong chảy, sóng thin, bão tố v. Do đó, hệ thống các công trình bảo vệ bờ biển đồng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ an toàn cho các trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, các vùng dan cư ven biển. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hóa, cũng như với sự biến đổi của khí hậu trên toàn cầu thì những yêu cầu về việc bảo vệ các khu dân cư và kinh tế vùng ven biển chống sự. phá hoại của bão lũ, nước dâng ngày càng trở nên cấp bách.
Bên cạnh việc cùng cố, nâng cấp các hệ thống công trình đã có thì việc quy hoạch, xây dựng các hệ thống công trình bảo vệ bờ biển mới đang được dat ra cho cả ba miền của đất nước. ‘Chu Quang Thành - CH17CT 21 ‘Chu Quang Thành - CH17CT “Mình 1-11: Hiện trang bờ biển xã Quỳnh Long, luyện Quỳnh Liaw ‘Chu Quang Thành - CH17CT 2 Chương 2 TONG QUAN VỀ BG BIỂN VÀ GAC CONG TRÌNH BẢO VỆ BỪ BIỂN TINH NGHỆ AN 2. DIEU KIEN TỰ NHIÊN VUNG BIỂN NGHỆ AN.1 Vi trí địa ly inh Nghệ An có bờ biển dài 82 km từ xã Quỳnh Lập ( huyện Quỳnh Lưu) in xã Phúc Tho ( huyện Nghỉ Lộc) trong phạm vi 18°46" + 19°18" vĩ độ Bắc, 105'37" + 105°49° kinh độ Đông. "Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá; Phia Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; Phía Tây giáp vùng đồng bằng của tỉnh; "Phía Đông giáp biển Dong.
Bờ biển tỉnh Nghệ An nằm trong phạm vi 59 phường, xã thuộc huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghỉ Lộc và thị xã Cửa Lò, có tổng diện tích tự nhiên là 40.328,1 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp có 16.248,8 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 1,339 ha, 2. Đặc điểm địa hình. Vang biển Nghệ An nằm hoàn toàn trong vùng đồng bằng Diễn - Yên - Quynh và Nam - Hưng — Nghĩ, cao độ tự nhiên phổ biến từ +2,0:3,0m, sát bờ biển có nơi cao độ từ +0,5+1,5m, có những cổn cát cao từ +4,0+5,0m, bãi ‘Chu Quang Thành - CH17CT 24 biển xoai, song địa hình bờ biển không chạy đài liên tục mà bị chia cắt thành nhiều đoạn độc lập bởi 6 cửa sông và 2 day núi sát biển. Do đó có thể phân chia địa hình vùng ven biển làm 4 tiểu vùng như sau: - Tiểu vùng I: Vùng biển thuộc huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò dài 11,0 km từ Cửa Hội đến Cửa Lò, cao độ tự nhiên đại bộ phận từ +2, + 43,5m, vùng sát cửa sông và biển cao độ từ 40.
Có nhiều sống cát chạy doc theo bờ biển có cao độ từ +5,0z6,0m, bãi biển xoải, bờ biển sát cảng Cửa Lò, Cửa Hội đã được trồng cây phi lao chống sóng, phần còn lại là bãi tắm; - Tiểu vàng 2: Từ Cửa Lò đến khe Su thuộc xã Diễn Trung ( huyện Diễn Châu), bờ biển đài 14 km, đổi núi nhô ra sát biển, chia cắt đồng ruộng thành nhiều vùng độc lập nhau. Đất canh tác có cao độ từ +3,0+4.0m, đổi núi nhô ra sát biển có đỉnh cao từ 100+120m như núi Long Kho cao 120 m, núi So Cai cao 100 m; - Tiểu vàng 3: Từ khe Su (Diễn Chau) đến cửa Cờn thuộc xã Quỳnh Phương ( huyện Quỳnh Lưu) bờ biển dài 47,5 km, nằm hoàn toàn trong vùng đồng bằng Diễn - Yên - Quỳnh. Cao độ tự nhiên dọc bờ biển từ +2,03,0m, sát bờ biển có cao độ từ +1,. Song bờ biển bị phân cắt bởi 4 cửa lạch (Lach Van, Lach Thơi, Lach Quèn, Lach Can) và nhiều ngâm lạch nhỏ khác bãi biển thoải, doc bờ biển nhân dan đã trồng rừng phi lao chống sóng; - Tiểu vàng 4: Từ Cửa Com (Quỳnh Phương) đến giáp Rú Trùng thuộc xã Quỳnh Lập ( huyện Quỳnh Lưu ) bờ biển dài 9,5 km, đổi núi nhô ra sit bid chia cắt đồng ruộng thành nhiều vùng độc lập, đất canh tác ven biển có cao độ từ +3,04,0m, sit biển có cao độ từ +1,0+2,0m, bãi biển tương đối xoải, đỉnh núi nhô ra sát biển có đỉnh cao từ 150+200 m, như.
núi Trụp cao 139 m, núi Chảy cao 200 m, núi Truong cao 140 m. ‘Chu Quang Thành - CH17CT 25 (Chu Quang Thành - CHITCL 26 2. chất, thổ nhưỡng. 4) Địa chat: Địa chất ving ven biển Nghệ An có thể chia làm 2 vùng: ~ Vùng từ huyện Quỳnh Lưu đến Bác thị xã Cửa Lò: địa chất bờ khá phúc tạp, các thành tạo đá gốc trim tích chạy xát tới bờ biển tạo nên đường bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm, bờ ở đây hẹp, chạy vòng cung và được cấu tạo chủ yếu bởi vật liệu vụn, thô, sạn, cát, thạch anh và vụn xác sinh vật; ~ Vùng Nam thị xã Cửa Ld: vùng này có địa chất bờ don giản hơn bờ thẳng, phẳng, bãi biển kéo dài từ Cửa Lò đến Cửa Hội, bãi biển xoải.
Bai được cấu thành bởi các thành tạo cát hạt trung, mịn, mầu xám, vàng nhạt, xám trắng. Địa hình ở day thuộc đồng bảng tích ty các dòng phù sa của sông Củ, sông Cấm đã cung cấp cho ving này lượng trim tích đáng kể, Các thành tạo hólôxen muộn đã phủ lên toàn bội ign tích đồng bằng; - Trầm tích đáy ở các vùng man Ig vùng ven biển Nghệ An gồm cất 67.5+27%, sét 0,2+10,4%, với hàm lượng hữu cơ trung bình 1,61+5,6%, độ pH của trầm tích đáy thay đổi từ 5,6+7,8, độ mặn 2,1+2,0/„,, như vậy trầm tích vùng này khá thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản (tôm, cua); Vé dia chất công trình: Qua nghiên cứu đã xây dựng vùng ven biển, dia chất công trình là cát, cát hat min và cát chả sâu 7,028,0 m, khi nghiên cứu xây dựng công trình, cần được xử lý nên móng để đảm bảo ổn định. 5) Thổ nhưỡng: ‘Theo tài liệu thổ nhưỡng của Sở Địa chính, đất dai vùng ven biển Nghệ An có các loại đất chính như sau: ‘Chu Quang Thành - CH17CT 2 ~ Cổn cất và dun cát: Diện tích 5.3% điện tích toàn vùng, phân bố dọc theo bờ biển 4 huyện và thị xã, chủ yếu là Nghỉ Lộc, cát rời rac, không có kết cấu, chủ yếu để trồng phi lao ven biển; - Đất cát biển: Diện tích 5.396 ha, chiếm 17,4% điện tích toàn vùng và được phân bố ở cả 4 huyện thị xã, nhưng tập trung nhiều ở Nghỉ Lộc, Diễn Châu. Thành phẩn cơ giới thô, không có kết cấu, độ thẩm thấu cao nên dé gây hạn, thích hợp cho cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày: - Đất phù sa không được bồi: Diện tích 4.850 ha, chiếm 15,7% diện tích toàn vùng, phân bố chủ yếu ở Quỳnh Lưu.
Đây là loại đất trung bình và đất thịt nhẹ, có chất lượng khá, thích hợp cho trồng lúa nước; ~ Đất mặn si vet lầy hoang hoá: Diện tích 762 ha, chiếm 2,63% diện tích toàn vùng, phân bố chủ yến ở sông Quỳnh Lưu và một số vùng ở Nghỉ Lộc; = Đất mặn nhiều: Có diện tích 2.145 ha, chiếm 7% diện tích toàn vùng, phân bố chủ yếu ở khu vực cửa sông sát biển thuộc các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Chau và một số ít huyện Nghỉ Loc: ~ Đất mặn chua và chua mặn: Diện tích 669 ha, chiếm 2,2% toàn vùng, phân bố chủ yếu ở Quỳnh Lưu; ~ Đất Feralít xói mòn trở thành sỏi đá: Có diện tích lớn nhất so với 8 loại trên, loại đất này có điện tích 7105 ha, chiếm 23% diện tích toàn vùng ven biển, phân bố chủ yếu ở Bắc Quỳnh Lưu và khu vực sông Cấm.2, DAC ĐIỂM KHÍ HẬU, THUY VAN VÀ DONG CHẢY.1 Đặc điểm khí hậu. 4) Chế độ nhiệt: ‘Chu Quang Thành - CH17CT 28 ‘Vang Bắc khu 4 nói chung và vùng ven biển Nghệ An nối riêng, chế độ nhiệt có hai mùa rõ rệt ~ Mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 3, lạnh nhất là tháng 1, mùa lạnh nhiệt độ vùng đồng bằng ven biển cao hơn vùng miễn núi, nhiệt độ trung bình mùa lạnh tại Vinh t= 19,4°C, tại Cửa Rao t = 18,6°C, tại Tây Hiếu t = 18,4°C, tại Quỳnh Lưu t= 18,8°C, nhiệt độ tối thấp tại Vinh t= 4"C (1/1914), tại Cửa Rao 1,7°C (1/1974), tại Quy Châu t = +0,5°C (1/1974); ~ Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình từ 27%C:29%C, nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ tối cao trung bình tháng 7 tại Vinh 34,1°C, tại Quynh Lưu 33,9°C, tại Cửa Rao 34,7°C, tại Tây Hiếu 34,1°C, nhiệt độ cao tuyệt đối tại Vinh 42,7°C, tại Tây Hiếu 42,1°C. 4) Độ ẩm: "Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm biến động từ 82+85%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 7, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 1 và tháng 2: “Bảng 2-1: Độ dim trung bình tháng trong năm (don vi tinh %) tramdo | 1 |2 |3 | + | s | 6 |2 {s |9 | wn] [am vinh 3960| 91,0] 990] 80| 820) 760| 740| 800| 870| 860 89.0] 860) ©) Bốc hơi: Luong bốc hơi cả nam do bằng Pische, trung bình toàn tỉnh 800:900mm, lượng bốc hơi trung bình nhiều nam tại Vinh là 862,7 mm, tại Quỳnh Lưu 786.5 mm, tại Đô Lương 112.0 mm, tại Con Cuong 34. ‘Chu Quang Thành - CH17CT 29 4) Gió, bão: ih Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: ~ Mùa đông thịnh hành là hướng gió Đông Bắc, tốc độ gió trung bình tir ':2.5m(s, gió Đông Bắc kèm theo rốt, lạnh có mưa phùn: - Mùa hè thịnh hành hướng gió Đông Nam, tốc độ gió trung bình từ 1,5+3,0m/s, gió mát thường gây mưa.
Mùa này thường hay có gió Tây Nam thổi, còn gọi là gió Lào, gió Lào mỗi năm thường có từ 5:7 đợt, thời gian thổi từ 30235ngày, gió Lào nóng, độ ẩm giảm, không có mưa; ~ Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 11 thường hay có bão đổ bộ từ Biển Đông vào, đặc biệt trong các tháng 9 và 10. Theo số liệu của Đài khí tượng thuỷ văn Bắc Trung Bộ thì từ năm 1967 đến năm 1989 có 34 cơn bão đổ bộ vào Nghệ Tĩnh thì có 8 cơn bão cấp 12 (tấn suất 24%), 11 cơn cấp 11. Theo thống kê bão có st ức gió cấp 11 đến 12 và trên cấp 12 đổ bộ vào tinh ta chigin tới 56% tổng số bão. Điển hình có bão số 7 đổ bộ vào thành phố Vinh ngày 18/10/1982 có sức gió mạnh nhất 45km/h (cấp 14), bão số 9 đổ bộ vào Diễn Châu ngày 13/10/1989 có.
xúc gió mạnh nhất 40km/h (cấp 13). Năm 1939 trong 10 ngày có 3 cơn bão liên tiếp. Các tận bão thường.