MỞ ĐẦU Lâm sản là sản phẩm khai thác từ thực vật rừng , động vật rừng và các bộ phận dẫn xuất của chúng có nguồn gốc từ rừng (kể cả động vật thủy sinh có nguồn bản địa hoặc không có nguồn gốc bản địa được cơ quan có thẩm quyền cho phép nuôi thả tại ao, hồ, sông suối trong rừng (157/2013/NĐ-CP). Lâm sản được chia thành gỗ và lâm sản ngoài gỗ. [1] Trong 15 năm qua, xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đã có sự tăng trưởng rất nhanh chóng. Năm 2016, tiếp tục đạt mức cao nhất từ trước đến nay, xấp xỉ 7,2 tỷ USD.
Xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng nhanh do chúng ta có chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cùng tham gia cạnh tranh, phát triển lành mạnh. Các doanh nghiệp cũng rất năng động, sáng tạo, đầu tư thiết bị công nghệ chế biến gắn với thị trường, mở được thị trường xuất khẩu tới hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hiện đồ gỗ nội, ngoại thất chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu gỗ, đồ gỗ và lâm sản, đặc biệt các thị trường khó tính nhất, đòi hỏi chất lượng cao như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Những thị trường khó tính này hiện chiếm tỷ trọng hơn 50% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của Việt Khóa luận tốt nghiệp đại học Nam. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu trong nước ổn định và tạo được sự cạnh tranh về giá cả phục vụ ngành sản xuất chế biến đồ gỗ.
Năm 2016, rừng trồng các loại trong nước đã cung cấp khoảng 17 triệu m3 gỗ nguyên liệu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nước ngoài. Năm 2016, Việt Nam chỉ còn nhập hơn 1,8 tỷ USD, giảm gần 16% so với năm trước. Việc giảm nhập nguyên liệu này trong khi kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng mạnh là minh chứng cho việc đóng góp rất lớn của ngành lâm nghiệp đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến.sinh vật rừng khác. LSNG là những sản phẩm không phải gỗ có nguồn gốc sinh vật, được khai thác từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng có giá trị nhiều mặt, góp phần phát triển KT-XH.
Lâm sản ngoài gỗ thể hiện sự đa dạng phong phú về chủng loại, có nguồn gốc từ thực vật, động vật, như :Tre nứa, song mây, nấm, mật ong, sâm. Cánh kiến, hổ phách., hình thành bởi hai nguồn: nguồn phát triển tự nhiên và nguồn do con người nuôi trồng. Lâm sản ngoài gỗ phần lớn có giá trị kinh tế cao, cung cấp những sản phẩm có tác dụng nhiều mặt đối với đời sống con người, như: nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất đồ gia dụng, thuốc chữa bệnh. Đặc biệt, phát triển lâm sản ngoài gỗ sẽ góp phần tăng cường đa 1 dạng sinh học, bảo vệ nguồn gien, đảm bảo khả năng phòng hộ của rừng, giải quyết việc làm cho nông dân.
Đồng Hới là trung tâm hành chính của Tỉnh, trong quá trình đô thị hóa diện tích đất lâm nghiệp và diện tích rừng của Thành Phố biến động thường xuyên do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, trong năm chuyển đổi mục đích sử dụng 9,6 ha (giảm so với năm 2015 là 6,88 ha) tập trung trên điạ bàn xã Bảo Ninh, Quang Phú để xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp khách sạn, xây dựng cơ sở về giao thông; trong quá trình thực hiện đã chỉ đạo kiểm lâm địa bàn kiểm tra giám sát theo đứng quy định của pháp luật. Trước yêu cầu cần thiết phải bảo vệ nguồn tài nguyên lâm sản nhưng vẫn đảm bảo được đời sống của người dân địa phương thì việc: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý lâm sản trên địa bàn TP Đồng Hới.” Khóa luận tốt nghiệp đại học 2 PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về Lâm Sản trên Thế Giới Diện tích rừng trên thế giới ngày càng suy giảm qua các thời kì, theo tài liệu của Qũy bảo vệ động vật hoang dã (WWF,1998) trong thời gian 30 năm(1960- 1990) , độ che phủ rừng trên thế giới giảm đi gần 13% , tức diện tích rừng đã giảm đi từ 37 triệu km xuống còn 32 triệu km với tốc độ giảm trung bình 160 nghìn km /năm.
Thực tế cho thấy rằng, sự mất rừng lớn nhất xảy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone trung bình mỗi năm rừng bị thu hẹp 19 nghìn km trong suốt 20 năm qua. Bốn loại rừng bị hủy diệt khá lớn là rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới lên đến khoảng 70%, châu á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất, khoảng 70%. Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo bệ phát triển vốn rừng, bảo tồn đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong đó có: - Công ước quốc tế về buôn bán các loại động thực vật quý hiếm (CITES) có hiệu lực từ năm 1975 là một thỏa thuận môi trường đa phương với 180 nước Khóa luận tốt nghiệp đại học thành viên. Mục đích của công ước này là để đảm bảo là việc buôn bán quốc tế các loại động thưc vật hoang dã không đe dọa sự sống của chúng.
- Năm 1980: chiến lược bảo tồn thế giới, tiếp theo hội nghị Stockholm, các tôt chức bảo tồn như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Thế Giới (IUCN), chương trình mội trường Liên Hợp Quốc( UNEP), và quỹ bảo vệ thiên nhiên Thế Giới (WWF) đã đưa ra “ Chiến Lược Bảo Tồn Thế Giới” chiến lược này thúc dục các nước soạn thảo các chiến lược bảo tồn quốc gia mình. Ba mục tiêu chính về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhấn mạnh trong chiến lược như sau: duy trì những hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống (như cải tạo đất, tái sinh nguồn dinh dưỡng, bảo vệ an toàn nguồn nước ); bảo tồn tính đa dạng di truyền ; bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loại và các hệ sinh thái, từ khi chiến lược bảo tồn được công bố cho đến nay đã có 60 chiến lược bảo tồn quốc gia được phê duyệt.Tiếp theo chiến lược này, một công trình khoa học có tiêu đề “Cứu lấy trái đất chiến lược cho cuộc sống bền vững” đã được IUCN, WWF,UNEP soạn thảo về công bố năm 1991. Năm 1992: Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc Rio de Janeiro, Brazil là nơi đăng cai tổ chức hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất. Tên chính thức là hội nghị về môi trường và phát triển Liên Hợp Quốc (UNCEP),tại đây các đại biểu tham gia đã có những nguyên tắc cơ bản và phát động một 3 chương trình hành động vì sự phát triể bên vững có tên chương trình Nghị Sự 21.
Với sự tham gia của đại diện trên 200 nước trên thế giới cùng một số lực lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã thông qua các văn bản quan trọng : tuyên bố Rio về môi trường và phát triển với 27 nguyên tắc chung, xác định những quyền và trách nhiệm của quốc gia nhằm làm cho thế giới PTBV. Rừng chiếm 31% tổng diện tích đất trên thế giới, là thảm thực vật giữ vai trò to lớn đối với con người như cung cấp gỗ, củi, điều hòa không khí, ngăn chặn gió báo, tạo ra oxy, nơi cư trú của muôn loài thực vật và nơi tàng trữ các nguồn tài nguyên quý hiếm. Đặc biệt, rừng là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững toàn cầu. Theo Ngân hàng Thế giới, ước tính có hơn 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng và ngành công nghiệp lâm sản là một nguồn cung cấp khối lượng lớn việc làm, góp phần vào tăng trường kinh tế của quốc gia và khu vực.
Số liệu thông kế mới đây cho thấy, 30% diện tích rừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thương mại lâm sản ước đạt 327 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, hiện nay rừng đang bị con người khai thác quá mức, khiến thiên nhiên bị tàn phá nặng nề, môi trường và khí hậu thay đổi, đe dọa sự sống trên khắp trái đất. Liên quan đến hiện tượng biến đổi khí hậu, Ngân hàng Thê giới cho rằng, 20% lượng phát khí thải nhà kính hiện nay là do phá rừng. Tổ Khóa luận tốt nghiệp đại học chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO) vừa công bố một con số khiến nhiều người quan tâm đó là mỗi năm 130.000 km2 rừng trên thế giới bị biến mất do nạn phá rừng.
Điều này khiến cho môi trường sống của 2/3 loài trên Trái đất bị thu hẹp, đa dạng sinh học bị suy giảm và với đà này trong tương lai không xa, chúng ta sẽ phải nói lời chia tay với 100 loài. Bên cạnh đó, việc chuyến đổi đất rừng sang đất nông nghiệp, đất định cư, thu hoạch gỗ không bền vững, quản lý đất đai không hiệu quả… cũng là những lý do phổ biến nhất cho sự thất thoát rừng ở nhiều khu vực trên thế giới. Nghiên cứu mới nhất của Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc (UNEP) công bố cho biết: Nạn phá rừng trên quy mô toàn cầu vẫn tiếp tục ở mức báo động, mỗi năm thế giới mất tới 13 triệu héc ta rừng, tương đương với diện tích của đất nước Bồ Đào Nha. Diện tích rừng bị mất hàng năm này làm gia tăng 6 tỷ tấn CO2 gây hiệu ứng nhà kính, gấp 3,6 lần lượng khí thải do các nhà máy điện và các nhà máy công nghiệp của Liên minh châu Âu thải vào khí quyển năm 2010 theo chương trình tín dụng khí thải của Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu của UNEP xác định rừng có thể hỗ trợ giữ nhiệt độ Trái đất không tăng quá 20ºC, mức tăng nhiệt độ an toàn để biến đổi khí hậu không đe dọa cuộc sống nhân loại vào cuối thế kỷ này, nếu giảm được 50% diện tích rừng bị mất vào năm 2030. Để đáp ứng mục tiêu này, thế giới cần đầu tư từ 17-33 tỷ USD mỗi năm để trồng rừng và khôi phục 4 các diện tích rừng bị mất. Đáng chú ý, rừng của Việt Nam cũng đang nằm trong vấn đề chung có quy mô toàn cầu về sự tàn phá, nhất là khi rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Theo đó, trong 10 năm qua, đất nông nghiệp tại Tây Nguyên tăng lên rất nhanh, từ 8,0% năm 1991 lên đến 22,6% năm 2000, trong khi đó đất lâm nghiệp giảm từ 59,2% xuống còn 54,9% đất tự nhiên.