LỜI MỞ ĐẦU Lý do lựa chọn đề tài Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang trở thành một điểm đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp quốc tế, với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế và cơ sở hạ tầng (Tính đến ngày 31/12/2022, vốn Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép tại Việt Nam lên đến 440.535,09 triệu usd –gso. Các tỉnh thành lớn trên khắp cả nước đã trở thành các trung tâm tập trung của các khu công nghiệp, đồng thời mở ra những cơ hội phát triển kinh tế mạnh mẽ. Tuy nhiên, không phải mọi nơi đều được hưởng lợi từ sự phát triển này. Một số tỉnh miền núi, như tỉnh Sơn La, vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển kinh tế và cải thiện cuộc sống cho người dân.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và cải thiện quản lý chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp trở nên vô cùng quan trọng. Quản lý chuỗi cung ứng không chỉ đảm bảo sự liên kết và mượt mà trong hoạt động sản xuất và cung ứng hàng hóa, mà còn góp phần tối ưu hóa tài nguyên và gia tăng hiệu suất kinh doanh. Trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ tập trung vào Công ty TNHH IC Food tại Sơn La, một ví dụ điển hình cho việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng tại một vùng địa phương đang trong quá trình phát triển kinh tế. Từ việc đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh (hoạt động ngày 28/04/2010) , tập đoàn IC Food đã tiến xa hơn bằng việc mở rộng hoạt động sản xuất đến Sơn La.
Sự lựa chọn này không chỉ dựa vào việc tận dụng lợi thế địa lý của Sơn La mà còn thể hiện sự cam kết trong việc phát triển bền vững và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong vùng miền núi. Tìm hiểu sâu hơn bằng cách đi vào chi tiết về cách mà IC Food đã thực hiện quản lý chuỗi cung ứng tại nhà máy Sơn La. Từ việc liên kết với các nhà cung cấp địa phương, quản lý nguồn nhân lực, đến việc điều phối các hoạt động sản xuất và vận chuyển, chúng ta sẽ tìm hiểu cách công ty đã áp dụng các chiến lược và biện pháp để đảm bảo hoạt động của công ty diễn ra một cách hiệu quả nhất. Bằng những trải nghiệm làm việc thực tế tại công ty TNHH IC Food Sơn La, tôi đã có được những góc nhìn khách quan về việc quản lý chuỗi cung ứng tại công ty.
Từ đó nhìn nhận ra những điểm hạn chế còn tồn tại, những điểm khiến cho chuỗi cung ứng hoạt động chưa được hiệu quả. Với tất cả lý do kể trên, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hoạt động quản lý chuỗi cung ứng tại công ty TNHH IC Food Sơn La” để làm rõ hơn những ưu nhược điểm còn đang tồn tại. Mục tiêu nghiên cứu + Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. 2 + Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của Công ty TNHH IC Food Việt Nam trong thời gian qua, phân tích các ưu điểm, mặt hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi để cải thiện công tác này.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của Công ty TNHH IC Food Sơn La trong thời gian tới. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu + Đối tượng nghiên cứu là chuỗi cung ứng và hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của Công ty TNHH IC Food Sơn La. Phạm vi nghiên cứu + Khoá luận tiến hành nghiên cứu chuỗi cung ứng ngành sản xuất thực phẩm cho thị trường Hàn Quốc của Công ty TNHH IC Food Sơn La. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chuỗi cung ứng cho công ty trong giai đoạn tới.
+ Không gian thực hiện nghiên cứu: nghiên cứu và khảo sát được thực hiện chủ yếu tại Công ty TNHH IC Food Sơn La. Phương pháp nghiên cứu: + Phương pháp được sử dụng là Nghiên cứu phân tích dữ liệu tổng hợp. Các dữ liệu trong bài là dữ liệu thứ cấp, lấy từ công ty TNHH IC Food Sơn La và các bài báo cáo có liên quan. 3 Thư viện ĐH Thăng Long TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG 1.
Tổng quan về chuỗi cung ứng 1. Định nghĩa về chuỗi cung ứng Định nghĩa về chuỗi cung ứng hiện nay đã được hoàn chỉnh hơn rất nhiều khi chuỗi cung ứng trở nên phổ biến và được quan tâm nhiều hơn. Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng nhưng những định nghĩa của Mentzer và cộng sự, 2001 và Hugos, 2018 là hoàn thiện, được sử dụng rộng rãi nhất [1]: + Chuỗi cung ứng (CCU) là sự gắn kết của các công ty nhằm đưa sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường (Lambert, Stock, & Ellram, 1998). + CCU là một mạng lưới các các cơ sở vật chất và các phương án phân phối thực hiện các chức năng mua sắm nguyên vật liệu và chuyển đổi chúng thành các bán thành phẩm, thành phẩm, đồng thời thực hiện chức năng phân phối tới khách hàng (Ganeshan, 1995).
+ CCU là một “mạng lưới của các tổ chức có liên quan đến nhau, thông qua mối quan hệ cung ứng hoặc phân phối trong các quy trình hoạt động khác nhau để tạo ra giá trị dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng” (Mentzer và cộng sự, 2001). + CCU bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Các thành viên trong chuỗi không chỉ bao gồm các công ty sản xuất, cung cấp, phân phối, mà còn có cả các công ty vận tải, kho bãi, nhà bán lẻ, và khách hàng của mình (Chopra, Sunil, & Peter Meindl, 2015). + Sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống và chiến thuật phối hợp các chức năng này trong một công ty nói riêng và giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, nhằm mục đích nâng cao kết quả hoạt động trong dài hạn”- (Mentzer và cộng sự, 2001) + “Quản lý chuỗi cung ứng là việc phối hợp sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận chuyển giữa những người tham gia trong chuỗi cung ứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa khả năng đáp ứng hiệu quả với thị trường được phục vụ” (Hugos, 2018).
Như vậy, trên các nghiên cứu cũng như định nghĩa được cải thiện qua từng năm, ta có thể nhìn nhận Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động logistics truyền thống và còn mở rộng đến cả khâu marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính và dịch vụ chăm sóc 4 khách hàng. Mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng là tối ưu hóa hiệu suất, giảm thiểu lãng phí và đảm bảo sự hài lòng của khách hàng. Phân biệt Quản lý chuỗi cung ứng và Logistics Theo Larson và cộng sự (2007), thì Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) trên nhiều khía cạnh xuất phát từ Logistics. Vì thế, quan điểm truyền thống đề cập đến Supply Chain Management (SCM) như một thành phần bên trong Logistics, hỗ trợ cho Logistics.
Ngược lại, quan điểm tái định vị cho rằng Logistics nên mang một thuật ngữ chính xác hơn, đó là Quản lý chuỗi cung ứng. Ngoài ra, quan điểm hợp nhất xem xét Logistics là một phần của một thực thể rộng hơn, SCM. Cuối cùng, quan điểm kết hợp đề xuất việc sự giao nhau giữa Logistics và SCM, mỗi khái niệm có một phần giao cắt và cũng có sự phân biệt riêng biệt. Hình 1:Bốn quan điểm về SCM và Logistics (Nguồn: Viindoo Blog) Quản lý chuỗi cung ứng và Logistics là hai khía cạnh quan trọng trong quản lý hoạt động kinh doanh và cung ứng hàng hóa.
Dưới đây là cách phân biệt giữa chúng: Logistics (Hậu cần): Khái niệm: Về cơ bản, logistics liên quan đến các hoạt động diễn ra trong phạm vi một tổ chức riêng lẻ, còn khi nhắc đến chuỗi cung ứng thì phải kể đến mạng lưới vận hành và phối hợp hoạt động giữa các công ty để đưa hàng hóa ra thị trường. Bên cạnh đó, hoạt động logistics truyền thống tập trung vào việc thu mua, phân phối, bảo quản và quản lý lượng hàng lưu kho. [1] 5 Thư viện ĐH Thăng Long Mục tiêu: Mục tiêu chính của logistics là đảm bảo hàng hóa được chuyển đến đúng nơi, đúng thời gian, đúng số lượng và trong tình trạng tốt nhất với mức chi phí hợp lý. Phạm vi: Logistics tập trung chủ yếu vào các hoạt động cụ thể liên quan đến vận chuyển, quản lý kho và quản lý thông tin.
Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM): Khái niệm: Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động logistics truyền thống và còn mở rộng đến cả khâu marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính và dịch vụ chăm sóc khách hàng. Khi xem xét ở bình diện rộng hơn, giờ đây, chuỗi cung ứng được xem như là một phần tất yếu cần có để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng. Quản lý chuỗi cung ứng coi chuỗi cung ứng và các tổ chức trong đó là một thực thể độc lập. [1] Mục tiêu: Mục tiêu chính của quản lý chuỗi cung ứng là tạo ra một mô hình hoạt động hiệu quả, linh hoạt và tích hợp để tối ưu hóa hoạt động của tất cả các bên trong chuỗi cung ứng, từ việc đáp ứng nhu cầu khách hàng đến tối ưu hóa lưu trữ, vận chuyển, và sản xuất.
Phạm vi: Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm cả logistics nhưng còn bao quát các khía cạnh khác như quản lý mối quan hệ với nhà cung cấp, quản lý rủi ro, tích hợp thông tin và dữ liệu, cải thiện hiệu suất toàn bộ chuỗi cung ứng, và nắm bắt cơ hội thị trường. Như vậy quan điểm tách riêng 2 định nghĩa này ra sẽ giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng. Các thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng trong một doanh nghiệp bao gồm tất cả những phòng ban liên quan đến hoạt động kinh doanh, bán hàng của doanh nghiệp đó. Mở rộng ra hơn nữa, một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh nhất sẽ được cấu thành từ 5 thành phần sau: Nhà sản xuất; Nhà phân phối; Nhà bán lẻ; Khách hàng; Các nhà cung cấp dịch vụ.