mở đầu của một chu trình NSNN. Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN. Từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán.
+ Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có giới hạn. Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng phải đạt hiệu quả một cách tốt nhất. Mặt khác, do đặc thù của hoạt động NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp. Nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn.
Nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN. Luan van 13 + Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN: Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN. Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên. Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta và đang thực hiện việc chi trực tiếp qua KBNN như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi 5 này.
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải quyết tốt một số vấn đề sau: Thứ nhất, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền qui định và phải được thủ trưởng ĐVSD kinh phí NSNN hoặc người được uỷ quyền quyết định chi. Thứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án… sử dụng kinh phí NSNN( gọi chung là ĐVSD ngân sách nhà nước ) phải mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của CQTC, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán NSNN. Thứ ba, BTC, Sở tài chính - vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Phòng tài chính kế hoạch quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là CQTC) có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo dự toán đã được thẩm tra cho các đơn vị thụ hưởng kinh phí NS; kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSNN.
Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng qui định; tham gia với các CQTC, cơ quan QLNN có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác định số thực chi NSNN. KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho các ĐVSD NSNN biết đồng gửi cho CQTC đồng cấp giải quyết trong các trường hợp sau: - Chi không đúng Luan van 14 mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt. - Chi không đúng chế độ, định mức chi tiêu tài chính nhà nước. - Không đủ các điều kiện về chi theo qui định.
Thứ năm, mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam 6 theo từng niên độ NS, từng cấp NS và MLNSNN. Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được qui đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền qui định. Thứ sáu, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của CQTC hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chi NSNN.2 Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN.
Lập kế hoạch dự toán chi thường xuyên NSNN Thực hiện Thông tư số 161/20012/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2012 thay thế Thông tư 79/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính Hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước, các nội dung liên quan đến dự toán quý, nhu cầu chi quý đã được loại bỏ. Dựa trên thực tế, kế hoạch NSNN được hướng dẫn điều hành theo năm của Bộ Tài chính. Dự toán của Kho bạc Nhà nước dựa trên các dự toán được giao của đơn vị Dự toán cấp I cho các đơn vị sử dụng NSNN cấp II. Cơ quan giao dự toán NSNN (cấp I): căn cứ vào khả năng ngân sách hàng năm được Quốc hội, HDND các cấp quyết định dự toán chi tiêu trong đó có chi thường xuyên NSNN cho các ngành, các địa phương.
Bộ Tài chính đối với ngân sách trung ương, UBND các cấp đối với ngân sách địa phương ra quyết định giao dự toán cho các cấp,các ngành. Sau đó các cấp, ngành giao dự toán cho các đơn vị sử dụng NSNN. Luan van 15 Thực hiện dự toán chi thường xuyên NSNN Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm như đầu tư XDCB, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được đơn vị dự toán cấp I giao cùng với giao dự toán năm. Điều kiện cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN Chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau: Một là: Đã có trong dự toán chi NSNN hàng năm được giao.
Dự toán chi NSNN của các đơn vị phải phản ảnh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, trong dự toán phải ghi rõ các nguồn thu của đơn vị được sử dụng và phần hỗ trợ của NSNN; các khoản chi phải theo nhóm mục của mục lục NSNN. Cơ quan tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra kết quả lập và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị. Nếu có sự sai lệch so với nội dung dự toán được cấp có thẩm quyền giao thì yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại.
Hai là: Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định: Định mức tiêu chuẩn chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành là căn cứ quan trọng để lập dự toán chi NSNN hàng năm và là căn cứ để Kho bạc Nhà nước kiểm soát khi cấp phát thanh toán cho đơn vị sử dụng ngân sách. Những khoản chi chưa có tiêu chuẩn định mức được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, Kho bạc Nhà nước căn cứ vào dự toán được cơ quan cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng ngân sách phê duyệt làm căn cứ để kiểm soát. Ba là: Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi: Trong quản lý và điều hành ngân sách, chuẩn chi là sự cho phép, đồng ý chi. Thẩm quyền chuẩn chi phải là người đứng đầu cơ quan, Luan van 16 đơn vị, đồng thời là chủ tài khoản, đã được cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền phê duyệt.
Chủ tài khoản phải đăng ký chữ ký mẫu và con dấu của cơ quan, đơn vị tại Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch. Bốn là: Các khoản chi phải có đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ. Mỗi khoản chi đều phải lập theo mẫu chứng từ quy định và được cấp có thẩm quyền duyệt. Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ trước khi cấp phát, thanh toán kinh phí NSNN cho đơn vị sử dụng.
Ngoài các điều kiện quy định trên, trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Cơ chế quản lý chi thường xuyên qua KBNN là phương thức tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý chi Thường xuyên NSNN tại hệ thống KBNN đối với các đối tượng sử dụng NSNN, nó bao gồm các việc: thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN đảm bảo phù hợp với các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà nước quy định. Kiểm soát và báo cáo chi thường xuyên NSNN Kho bạc Nhà nước nơi thực hiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN: kiểm soát chi NSNN thực hiện theo thông tư hướng dẫn về kiểm soát chi NSNN qua kho bạc (Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính quy định về chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước). Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán chi thường xuyên theo hệ thống kiểm soát TABMIS, nên hệ thống báo cáo được kịp thời.
Số liệu trong hệ thống kho bạc nối mạng quốc gia nên giảm được các hình thức báo cáo truyền thống. Có thể nói việc triển khai dự án TABMIS nói riêng,dự án cải cách quản lý tài chính công nói chung, đến nay đã đạt được mục tiêu quan trọng, từ cải cách về cơ chế chính sách, hiện đại hóa công nghệ,cũng như nâng cao chất lượng nguồn lực,đồng thời đẩy mạnh cải cách quản lý ngân sách như cải cách Luan van 17 quy trình hạch toán,quyết toán, chuyển nguồn và rút ngắn thời gian chỉnh lý ngân sách cho các cấp ngân sách theo TT 107/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008;xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS (TT 212/2009/TT-BTC ngày 06/11/2009),xây dựng hệ thống kế toán đồ(COA)đảm bảo theo dõi đầy đủ các đối tượng kế toán cần quản lý cũng như đầy đủ thông tin về mục lục NSNN; xây dựng ban hành cơ chế về kiểm soát cam kết chi ngân sách (TT 113/2008TT-BTC ngày 27/11/2008), thực hiện cải cách quản lý vay nợ, từng bước tổ chức thực hiện quản lý ngân quỹ và thực hiện tài khoản thanh toán tập trung của Kho bạc Nhà nước ( TSA).