Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC DIEM CUA QUAN HỆ PHÁP LUẬT 1. Khái niệm quan hệ pháp luật Trong khoa học pháp lý, khái niệm quan hệ pháp luật là một trong những khái niệm cơ bản thuộc phạm vi nghiên cứu của khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật và được xem xét một cách cụ thể hơn trong các môn khoa học pháp lý chuyên ngành. Trong bất kỳ một ngành luật nào thì các nhà khoa học cũng cố gắng xác định rõ nội dung và những nét đặc thù của quan hệ pháp luật được quyết định bởi đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành luật đó.
Những đặc điểm của việc điều chỉnh của các ngành luật khác nhau được thể hiện ở cấu trúc các quan hệ pháp luật, ở mối tương quan giữa quyền và nghĩa vụ, ở thành phần và những đặc điểm pháp lý của các chủ thể, ở các phương tiện tác động tới hành vi của các chủ thể đó. Việc nghiên cứu các quan hệ pháp luật cụ thể đã khám phá sâu hơn mối liên hệ giữa đối tượng và phương pháp điều chỉnh, các qui luật khách quan của mối tương quan giữa các loại quan hệ xã hội khác nhau với hình thức pháp lý của chúng. Việc nghiên cứu đặc điểm của các dạng quan hệ pháp luật khác nhau đã làm phong phú thêm lý luận về quan hệ pháp luật, làm sáng tỏ nội dung, bản chất của các quan hệ pháp luật đó. Thực tế ở nước ta, quan hệ pháp luật cũng đã được nghiên cứu ở mức độ nhất định của khoa học lý luận chung và khoa học pháp lý chuyên ngành.
Tuy nhiên việc nghiên cứu đó chưa có tính hệ thống và chưa có sự thống nhất trong nhận thức về nhiều vấn đề cụ thể, trước hết là khái niệm quan hệ pháp luật. Trong khoa học pháp lý có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quan hệ pháp luật trong đó có một số quan điểm hiện được sử dụng phổ biến sau: + Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội. Hình thức pháp lý này xuất hiện trên cơ sở sự điều chỉnh của pháp luật đốt với các quan hệ xã hội tương ứng và các bên tham gia quan hệ pháp luật đó đêu mang những quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy phạm pháp luật qui định [82, tr. Có thể nói, ở đây việc xem xét quan hệ pháp luật đã được gắn liền với quan hệ xã hội với sự điều chỉnh pháp luật nên có sự hợp lý nhất định để đi đến việc thừa nhận quan hệ pháp luật là một dạng thức quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, nếu cho rằng quan hệ xã hội là nội dung và khẳng định quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội thì chưa chính xác. Điều này thật sự khó lý giải đối với trường hợp quan hệ xã hội chỉ tồn tại ở một dang thức là quan hệ pháp luật. Loại quan hệ này không thể tồn tại ngoài hình thức pháp lý đặc trưng đã được xác định trong quy phạm pháp luật. Việc không tuân thủ hình thức pháp lý đó trên thực tế sẽ dẫn tới vi phạm pháp luật (ví dụ: quan hệ về tố tụng, bảo hiểm).
Hay chẳng hạn, một quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi có hành vi phạm tội xâm hại đến các quan hệ nhân thân (tính mang, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.) hoàn toàn không phải là hình thức pháp lý của các quan hệ nhân thân đó. Trong trường hợp này bản thân quan hệ pháp luật hình sự chỉ có thể phát sinh khi có hành vi phạm tội xâm hại đến quan hệ nhân thân. Nếu không có hành vi phạm tội đó thì quan hệ pháp luật hình sự cũng không thể phát sinh. Rõ ràng các quan hệ về nhân thân đã không đòi hỏi và không thể đòi hỏi một quan hệ pháp luật hình sự nào xảy ra.
Chúng tôi cho rằng, quan hệ xã hội tồn tại và phản ánh nhu cầu điều chỉnh nội tại của mình một cách khách quan. Khi quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh tức là nó được các quy phạm pháp luật xác định giới hạn, tính chất pháp lý cần thiết cho sự vận động và phát triển. Quá trình thực hiện quy phạm pháp luật làm xuất hiện quan hệ pháp luật. Thông qua các quan hệ pháp luật cụ thể thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể mới được bộc lộ ra ngoài.
Như vậy, quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý đặc thù của việc thực hiện quy phạm pháp luật trên thực tế. Còn hình thức pháp lý của quan hệ xã hội phải là quy phạm pháp luật. + Quan điểm thứ hai khẳng định, "quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điêu chỉnh (Rappots furidiques)" [66, tr. Theo quan điểm này, quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.
Về bản chất thì phải thừa nhận quá trình điều chỉnh pháp luật tạo nên hình thức pháp lý cho quan hệ xã hội đồng thời đem lại khả năng hình thành quan hệ pháp luật thực tế. Tuy nhiên, cần phải hiểu quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và quan hệ pháp luật không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Quan hệ xã hội là một khái niệm chung để chỉ mối quan hệ của con người - con người trên một lĩnh vực hoạt động nhất định. Quan hệ xã hội xuất hiện và tồn tại một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Không phải mọi quan hệ xã hội đều được pháp luật điều chỉnh, bởi vậy khi cho rằng "quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh" đã tỏ rõ mục đích điều chỉnh của pháp luật tới quan hệ xã hội cụ thể nhất định. Hay, quan hệ xã hội đó chính đã nằm trong "thước ngắm" của pháp luật, thuộc lĩnh vực ma pháp luật tác động tới. Trong lúc đó, quan hệ pháp luật là khái niệm cho thấy trạng thái thực tế của điều chỉnh pháp luật. Quan hệ pháp luật xuất hiện do kết quả của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật trong thực tiễn và được coi là hình thức cơ bản để thực hiện quy phạm pháp luật.
” Hơn nữa, cũng không phải có sự điều chỉnh pháp luật tới quan hệ xã hội thì xuất hiện quan hệ pháp luật. Chẳng hạn, mặc dù Nhà nước ta đã có Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhưng, nếu các nhà đầu tư quốc tế thấy chưa hấp dẫn (vì nhiều lý do) thì họ chưa đầu tư. Vì vậy, quan hệ pháp luật cụ thể chưa hình thành mặc dù sự điều chỉnh pháp luật đối với lĩnh vực này đã có. 10 Điều chỉnh pháp luật thực chất là quá trình nhà nước dựa vào pháp luật và sử dụng một loạt các phương tiện pháp lý đặc thù để bảo đảm cho các quan hệ xã hội vận động trong một trật tự có định hướng nhất định.
Điều chỉnh pháp luật cũng có thể được hiểu là sự tác động đặc thù lên quan hệ xã hội với tính cách nhân tố điều chỉnh có tính qui phạm và tính bắt buộc chung. Theo Giáo sư Tiến sĩ khoa học Dao Trí Úc thì "điều chỉnh pháp luật đó làviệc Nha nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động theo những hướng nhất định vào các quan hệ xã hội" [85, tr. Điều chỉnh pháp luật cũng có thể là dùng pháp luật để bảo vệ các quan hệ xã hội khỏi bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới. + Quan điểm thứ ba có cách lý giải khác, "quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội đặc biệt nảy sinh do sự tác động hữu cơ giữa quy phạm pháp luật và sự kiện pháp ly" [18, tr.
Khác với hai quan điểm trên, quan điểm này tiếp cận quan hệ pháp luật từ thực tế, nghĩa là nó không thể hình thành nếu không có sự kiện pháp lý xuất hiện, mặc đù có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đó. Sự kiện pháp lý chính là yếu tố bộc lộ quan hệ xã hội trên thực tế và có vai trò làm cầu nối giữa hai hiện tượng quy phạm pháp luật với quan hệ pháp luật. Đây là những nội dung hợp lý của quan điểm thứ ba khi nhìn quan hệ xã hội trong một trạng thái động. Tuy nhiên, khó có thể hình dung nổi là bằng cách nào quy phạm pháp luật lại có thể tự mình tác động "hữu co" tới quan hệ xã hội được để làm xuất hiện quan hệ pháp luật nếu không có các hoạt động của quá trình điều chỉnh pháp luật thực tiễn.
Bản thân quy phạm pháp luật là qui tắc thành văn chỉ tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật mà thôi. + Quan điểm thứ tư lại hiểu, "Quan hệ pháp luật là quan hệ có tính chất tác động qua lại về mặt xã hội trên cơ sở những sự kiện pháp lý nhất định để qua đó chủ thể dat được những mục dich của minh do pháp luật qui định" [84, tr. Đây là quan điểm cho thấy sự hợp lý về cách tiếp cận quan hệ pháp luật từ thực tế và sự nhìn nhận nhạy cảm về ranh giới tác động qua lại của các li đặc tính xã hội - pháp lý thông qua sự kiện pháp lý. Đây là một khái niệm có tính khái quát hóa cao về mặt lý luận, mặc dù trên thực tế không phải mọi người có thể hiểu một cách thấu đáo và đều nhất trí với quan điểm này.
Như vậy, các quan điểm trên đã cho thấy tính phức tạp trong nhận thức luận về quan hệ pháp luật và sự đa dạng trong cách lý giải đối với hiện tượng này. Mặc dù có những phương pháp tiếp cận khác nhau nhưng điểm cốt lõi là các nhà khoa học đều thừa nhận quan hệ pháp luật là một dạng quan hệ xã hội, là hình thức đặc thù của quá trình thực hiện quy phạm pháp luật. Qua phân tích và xem xét một cách toàn diện, chúng tôi thống nhất với các quan điểm trên đây ở những nội dung cơ bản: - Quan hệ pháp luật là một dạng quan hệ xã hội. - Các bên tham gia quan hệ pháp luật đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý.
- Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý chủ thể trong quan hệ pháp luật được đảm bảo bằng các biện pháp nhà nước.