CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN mạch, tăng cường miễn dịch và làm giảm nguy cơ mắc một số loại bệnh về ung thư. Hạt bí đỏ chứa hàm lượng cao vitamin E, bao gồm tất cả các dạng của tocopherol như α, β, δ, γ, cùng với tocotrienol. Dầu hạt bí giúp chống viêm khớp: Nghiên cứu cho thấy dầu hạt bí đỏ có khả năng dùng như thuốc indomethacin trong làm dịu bệnh viêm khớp dạng thấp mãn tính. Có vẻ như tác dụng đó là do thành phần chất béo thiết yếu, giàu chất chống oxy hóa, và tác dụng hiệp đồng của các thành phần thứ yếu khác.
Hạt bí đỏ được sử dụng như một dược liệu truyền thống trị giun sán, là một trong những thực phẩm chứa các axít béo thiết yếu và phytosterol trị bệnh u tuyến tiền liệt. Dầu hạt bí giúp chống ký sinh trùng: cucurbitin là một aminoacid có tác dụng chống ký sinh trùng trong in vitro. Nghiên cứu ở người có kiểm soát ở Trung quốc chỉ ra hạt bí đỏ có tác dụng ở người bị bệnh sáng máng cấp, một vài bệnh ký sinh trùng xảy ra đầu tiên ở Châu Á và Châu Phi bị lây truyền qua con ốc sên. Nghiên cứu đầu tiên ở người có kiểm soát ở Trung Quốc và Nga cho thấy hạt bí đỏ có thể giúp tiêu diệt sán dây.
Dầu hạt bí đỏ giúp hạ cholesterol – Dầu hạt bí đỏ được dùng đồng thời với thuốc hạ cholesterol và có khả năng giảm cả lipid. Tác dụng rõ trong việc làm giảm hàm lượng LDL và tăng hàm lượng HDL là do chất chống oxy hóa và acid béo thiết yếu có trong dầu hạt bí đỏ. Tác dụng phụ của thuốc hạ cholesterol có thể được giảm khi kết hợp sử dụng dầu hạt bí đỏ. Kết quả tương tự khi sử dụng đồng thời dầu hạt bí đỏ và thuốc tăng huyết áp.
Tác dụng giảm huyết áp do EFAs và chất chống oxy hóa của dầu hạt bí đỏ. Dầu hạt bí giúp chống sỏi thận: hai nghiên cứu ở Thái Lan chứng minh rằng ăn hạt bí đỏ như thức ăn có thể giúp ngăn chặn hầu hết các dạng sỏi niệu thông thường. Hạt bí đỏ có cả tác dụng giảm mức độ của các chất hình thành sỏi trong nước tiểu và tăng nồng độ của các chất chống hình thành sỏi niệu. Một vài nghiên cứu chứng minh rằng dầu hạt bí đỏ có thể làm giảm rõ rệt áp lực bàng quang, tăng khả năng làm việc của bàng quang, và giảm áp lực niệu đạo.
11 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về phương pháp trích ly thu nhận chất béo 1. Bản chất của phương pháp trích ly chất béo [1] Dựa vào tính hòa tan tốt của dầu trong dung môi hữu cơ như xăng, n – Hexan hay ether mà người ta trích ly dầu ra khỏi bột nghiền chưng sấy, số lượng dung môi theo tỉ lệ thích hợp. Trích ly là quá trình ngâm chiết làm chuyển dầu từ nguyên liệu vào dung môi thực hiện bằng khuếch tán phân tử (chuyển dầu từ nội tâm nguyên liệu vào dung môi) và khuếch tán đối lưu (chuyển dầu từ bề mặt nguyên liệu vào dung môi) Lúc đầu, dung môi chỉ hòa tan lớp dầu trên bề mặt bột.
Sau đó mới thấm sâu vào bên trong, tiếp tục hòa tan dầu trong các ống mao quản tạo ra mixen (dung dịch dầu trong dung môi). Mixen được làm sạch bằng phương pháp lắng, lọc và ly tâm. Chưng cất mixen được dầu thô và dung môi thu hồi. Quá trình hòa tan dầu vào dung môi diễn ra cho đến khi đạt đến sự cân bằng nồng độ mixen ở các lớp bên trong và bên ngoài của nguyên liệu.Việc tạo ra sự chêch lệch thường xuyên ổn định giữa nồng độ mixen trong nguyên liệu vào bên ngoài nhờ dùng dung môi chuyển động (do bơm) mang nguyên liệu trích ly.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly 1. Nguyên liệu Mức độ phá vỡ của mô Mức độ cơ học hay lý học của các mô ảnh hưởng ngược lại trên năng suất trích ly. Đây là một nhân tố cơ bản đẩy nhanh và làm triệt để tiến trình trích ly bởi dung môi. Với cấu trúc tế bào hoàn toàn bị phá vỡ, các phân tử có thể tiếp xúc hoàn toàn với dung môi (Kitrigin, 1976) Đối với kích cỡ và dạng các phân tử nguyên liệu, quá trình thẩm thấu sẽ nhanh hơn với phân tử mịn.
Ngoài ra, quá trình chuyển động của các phân tử trong máy trích ly sẽ dễ dàng hơn. Dẫu vậy, độ nhỏ của các phân tử cũng phải có giới hạn: một kích cỡ nhỏ quá 12 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN mức sẽ làm giảm khả năng thấm của lớp vật liệu rắn vào dung môi, do làm tắt các ống mao dẫn, cản trở tiến trình trích ly ở một vài vị trí, nơi mà dung môi không thể thấm qua. Theo Kitrigin, 1976, kích cỡ của các phân tử thích hợp cho trích ly dầu từ 0,5mm đến 9 mm. Ẩm độ của các phân tử Ẩm độ cao sẽ làm chậm quá trình khuyếch tán và gây ra sự dính bết giữa các phân tử.
Nước còn lại trong nguyên liệu sẽ liên kết protêin và các chất háo nước khác, điều này ngăn chặn sự thấm của dung môi, làm chậm quá trình khuyếch tán phân tử và đối lưu. Các loại hạt khác nhau có ẩm độ thích hợp riêng trong trích ly bằng dung môi. Theo Kitrigin, 1976, ẩm độ thích hợp của hạt hướng dương từ 8% đến 10% trong xăng, trong khi đó ẩm độ của đậu nành là 14% trong ethanol (Lê Bạch Tuyết và cộng sự, 1996). Loại dung môi Trong công nghiệp trích ly dầu thực vật, người ta thường dùng các loại dung môi như hydrocacbon mạch thẳng từ các sản phẩm của dầu mỏ (thường lấy phần nhẹ), hydrocacbon thơm, rượu béo, hydrocacbon mạch thẳng dẫn xuất Clo; trong số đó phổ biến nhất là hexan, pentan, propan và butan.
Ngoài ra còn có các loại dung môi khác như sau: Rượu etylic: thường dùng nồng độ 96%V để trích ly. Aceton: chất lỏng có mùi đặc trưng, có khả năng hòa tan dầu tốt. Aceton được xem là dung môi chuyên dùng đối với các nguyên liệu có chứa nhiều phosphatic vì nó chỉ hòa tan dầu mà không hòa tan phosphatic. Trong thực tế không tồn tại dung môi lý tưởng, nhưng chọn lựa dung môi sử dụng phải dựa vào các yêu cầu sau đây : Giá thành không đắt: chi phí và sự mất mát có giới hạn.
Trích ly có chọn lọc và dễ dàng. Có nhiệt độ sôi thấp để dễ dàng tách ra khỏi dầu triệt để. 13 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Trơ với máy móc và ít hư hỏng, hàm lượng bẩn thấp. Không có khả năng cháy nổ, ít độc… Vận tốc chuyển động của dung môi Vận tốc chuyển động của dung môi trong lớp bột trích ly gây ảnh hưởng đến quá trình khuếch tán.
Tốc độ gia tăng làm tăng chênh lệch nồng độ giữa mixen trong nguyên liệu và mixen tự do. Như vậy, tăng vận tốc chuyển động của dung môi sẽ rút ngắn được thời gian trích ly, từ đó tăng năng suất thiết bị.5: Các loại dung môi có thể sử dụng trích ly chất béo Khối lượng phân tử Số thứ tự Dung môi Điểm sôi (OC) (đvC) 1 N – Hexan 86,18 69 2 Acetone 58,08 56,2 3 Diethyl ether 76,15 60 4 Cồn 46,07 78,5 5 Cloroform 119,38 61,7 1. Loại enzyme Chủng loại enzyme: Các enzyme khác nhau sẽ có vai trò khác nhau trong việc thủy phân cấu trúc nguyên liệu. Carbohydrate (pectin, cellulose và hemicellulose) được thủy phân bởi enzyme đặc hiệu cho các thành phần vách tế bào thúc đẩy quá trình giải phóng dầu trong môi trường nước.
Protease không những thủy phân protein màng và protein trong tế bào chất mà còn thay đổi các thuộc tính chức năng của protein (đặc biệt là khả năng nhũ hóa). Như vậy, ảnh hưởng của các protease lên toàn bộ quá trình phụ thuộc vào mức độ thủy phân protein. 14 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Sự kết hợp của các enzyme sẽ cải thiện đáng kể hiệu suất tách chiết dầu. Hỗn hợp các enzyme với sự kết hợp của các hoạt tính cho kết quả tách dầu cao hơn khi sử dụng một loại enzyme.
Liều lượng enzyme: lượng enzyme bổ sung càng cao và thời gian phản ứng càng dài thì sản lượng dầu càng tăng. Bên cạnh chủng loại enzyme và liều lượng sử dụng, các thông số kỹ thuật như: pH, kích thước nguyên liệu, nhiệt độ và thời gian phản ứng cũng có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả tác động của enzyme. Chế độ ly tâm: ly tâm là công đoạn quan trọng của quá trình chiết dầu bằng nước. Embong và Jelen cho rằng tốc độ ly tâm và thời gian ly tâm ảnh hưởng rất lớn tới sự phân tách pha, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình ly tâm.
Tốc độ ly tâm càng lớn thì khả năng tách pha càng cao. Tỉ lệ dung môi và nguyên liệu Tỉ lệ giữa dung môi và nguyên liệu ảnh hưởng đến vận tốc trích ly, lượng bột trích ly càng nhiều càng cần nhiều dung môi. Tuy nhiên, lượng dung môi lại ảnh hưởng khá lớn đến kích thước thiết bị. Nhiệt độ trích ly Nhiệt độ tác động phức tạp, nhiệt độ gia tăng làm tăng hiệu suất trích ly.
Bản chất của quá trình trích ly là quá trình khuếch tán, vì vậy khi tăng nhiệt độ, quá trình khuếch tán sẽ được tăng cường do độ nhớt của dầu trong nguyên liệu giảm làm tăng vận tốc chuyển động của dầu vào dung môi. Tuy nhiên, sự tăng nhiệt độ cũng phải có giới hạn nhất định, nếu nhiệt độ quá cao sẽ gây tổn thất nhiều dung môi và gây biến tính dầu. Thời gian trích ly Sự kéo dài của thời gian kéo theo sự gia tăng năng suất trích ly, nhưng không nên kéo dài vì điều này sẽ không làm gia tăng hiệu suất lên bao nhiêu, bởi vì dầu còn lại trong bã ngày càng giảm. 15 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Theo Bernardini (1997), một lượng lớn dầu được trích ly trong 4 giờ trích ly đầu tiên.
Đây là thời điểm kết thúc quá trình trích ly thích hợp để lượng dầu lấy ra tương đối nhiều nhất mà không tiêu hao nhiều năng lượng và dung môi. Phương pháp trích ly truyền thống [2] Có bốn phương pháp chiết xuất dầu từ nguyên liệu thực vật là: ép thủy lực, ép trục, trích ly bằng dung môi và trích ly bằng nước. Phương pháp ép thủy lực là phương pháp có nguồn gốc ở Châu Âu từ năm 1795. Hiện nay, phương pháp này không được sử dụng nữa.
Phương pháp ép trục đang được thay thế cho phương pháp ép thủy lực và được sử dụng rộng rãi để sản xuất dầu từ các loại quả có dầu. Đối với vật liệu có hàm lượng dầu cao, quá trình sản xuất gồm hai giai đoạn là ép sơ bộ và trích ly bằng dung môi.