ĐẶT VẤN ĐỀ Thực phẩm bảo vệ sức khỏe (TPBVSK) hỗ trợ giảm cân được sử dụng phổ biến khi số người mắc béo phì ngày càng tăng cao. Nhiều người hy vọng giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng thực phẩm bổ sung, vì không cần kê đơn, đặc biệt là các TPBVSK có nguồn gốc tự nhiên vì được coi là không gây tổn hại cho sức khỏe. Các thực phẩm này kiểm soát quá trình chuyển hóa lipid và carbohydrat, giảm cảm giác thèm ăn (tương tác với hệ thần kinh trung ương) và quá trình tạo mỡ, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ vi sinh vật đường ruột và tăng tiêu hao năng lượng. Bên cạnh đó thực phẩm hỗ trợ giảm cân cũng lại có những tác dụng phụ đáng lo ngại cho người dùng như gây mất ngủ, bệnh tiểu đường tuyp II, các vấn đề về tim mạch, do tiểm ẩn nguy cơ trộn trái phép các thuốc hóa dược trong đó có sibutramin và các dẫn xuất của nó [3, 4, 7, 8].
Sibutramin là một trong số ít thuốc điều trị béo phì đã được công nhận và chứng minh rõ ràng [25]. Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý an toàn đối với các sản phẩm TPBVSK, ngày 30/6/2021, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 10/2021/TT-BYT ngày quy định Danh mục chất cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ sức khỏe trong đó có sibutramin và các dẫn xuất của sibutramin [3]. Hiện nay ở Việt Nam các nghiên cứu về phương pháp định lượng các chất cấm trong nhóm giảm cân nói chung và các chất thuộc nhóm SB nói riêng đã có rất nhiều. Các phương pháp nghiên cứu đa dạng như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [4], [6], [9], [12], sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) [21] hay sắc ký lỏng khối phổ 2 lần (LC-MS/MS) [7], [26].
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp sắc ký lỏng phân giải cao (LC -HRMS) có detector là khối phổ với độ phân giải cao, độ đặc hiệu cao nên phù hợp trong công tác sàng lọc các chất, đặc biệt trong thực phẩm, dược liệu là những mẫu phân tích có nền mẫu phức tạp. Ưu điểm vượt trội của HRMS là xác định danh tính chất phân tích mà không cần chất chuẩn nhờ kết nối thư viện phổ trên toàn thế giới, đồng thời vẫn có thể định lượng đối với các chất đã có chuẩn đối chiếu. Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Nghiên cứu phương pháp sàng lọc và định lượng sibutramin và các dẫn xuất của sibutramin trong TPBVSK hỗ trợ giảm cân bằng LC-HRMS” với mục tiêu sau: 1. Xây dựng phương pháp sàng lọc sibutramin và các dẫn xuất của sibutramin trong TPBVSK hỗ trợ giảm cân bằng LC-HRMS.
Xây dựng phương pháp định lượng SB và 3 dẫn xuất của SB (DSB, DDSB, DIBS) trong TPBVSK hỗ trợ giảm cân bằng LC-HRMS. Áp dụng phương pháp đã xây dựng để phân tích một số chế phẩm trên thị trường. Tổng quan về sibutramin và dẫn xuất của sibutramin 1. Cấu trúc một số hợp chất từ sibutramin Bảng 1.1 Cấu trúc và tính chất của sibutramin và dẫn xuất Một số đặc STT Hợp chất TLTK điểm - Trọng lượng phân tử: 279,8 g/mol - Chất rắn, nhiệt độ nóng 1 [34] chảy 191 - 192°C, độ hòa tan trong nước Sibutramin 0,00094g/L, Tên IUPAC: 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]- logP = 5,2.
N,N,3-trimethylbutan-1-amin - Trọng lượng 2 phân tử: 251,79 [35] g/mol Didesmethylsibutramin Tên IUPAC: 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]-3- methylbutan-1-amin 2 - Trọng lượng 3 phân tử: [37] 313,9 g/mol Desisobutyl-benzylsibutramin Tên IUPAC: 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]- N,N-dimethyl-2-phenylethanamin - Trọng lượng 4 phân tử: [36] 265,82 g/mol Desmethylsibutramin Tên IPPAC: 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]- N,3-dimethylbutan-1-amin 1. Dược động học, dược lực học sibutramin Cơ chế tác dụng: Đầu tiên, tác dụng rõ nhất là ức chế chọn lọc tái hấp thu trước synap của các chất dẫn truyền thần kinh monoaminrgic serotonin (5-hydroxytryptamin; 5-HT), noradrenalin (NA) và ở mức độ thấp hơn là dopamin tăng cường cảm giác thèm ăn, ức chế hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh này[28]. Khả năng giảm trọng lượng cơ thể của sibutramin cũng có thể là do tăng tiêu hao năng lượng. Sibutramin tăng tiêu hao năng lượng cơ bản bằng cách kích hoạt MCR-4 [16].
Ngoài ra, sibutramin có thể làm tăng sinh nhiệt thông qua hoạt hóa thụ thể β 3 -adrenergic, một tác dụng qua trung gian NA, trong mô mỡ trắng ngoại vi [13]. Tác dụng giảm cân của sibutramin phần lớn 3 là do các chất chuyển hóa amin chính (N-desmethylsibutramin) và thứ cấp (N- didesmethylsibutramin) chứ không phải do hợp chất gốc [22]. Tuy nhiên, việc sử dụng sibutramin cũng tiềm ẩn nhiều tác dụng gây hại cho người dùng. Từ năm 2002, một số tác dụng phụ về tim mạch (tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim) đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng sibutramin [29].
Điều này dẫn đến chống chỉ định sử dụng thuốc chống béo phì này ở những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch vành, đột quỵ trước đó, suy tim hoặc rối loạn nhịp tim. Thử nghiệm kết quả tim mạch Sibutramin (SCOUT) gần đây đã xác nhận rằng những đối tượng mắc bệnh tim mạch từ trước (CVD) điều trị lâu dài (5 năm) bằng sibutramin (10 - 15 mg/ngày) có nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim không tử vong và đột quỵ không tử vong tăng lên đáng kể. Cuộc đánh giá của Ủy ban Sản phẩm Thuốc dùng cho Con người kết luận rằng lợi ích của sibutramin như một chất hỗ trợ giảm cân không lớn hơn nguy cơ tim mạch và khuyến nghị đình chỉ cấp phép tiếp thị sibutramin trên toàn EU [28]. Tình hình trộn trái phép và các quy định hiện hành Tại châu Âu 2.559 hồ sơ thực phẩm bổ sung có vấn đề về chất lượng đã được xác định trong RASFF, một số trong đó [319 (12,5%)] đã được bán trên thị trường để hỗ trợ giảm cân.
Sibutramin là hoạt chất xếp thứ hai (69 sản phẩm, 21,6%) từ năm 1988 đến năm 2019 [20]. Từ tháng 10/2010, FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ) đã ban hành quyết định cấm lưu hành tất cả sản phẩm có Sibutramin vì dữ liệu thử nghiệm lâm sàng cho thấy nguy cơ đau tim và đột quỵ tăng lên [33]. Một nghiên cứu đã báo cáo mối liên quan giữa lượng sibutramin sử dụng và đột tử do tim ở bệnh nhân không có tiền sử bệnh tim mạch vành trước đó [18]. Bệnh nhân đã dùng thực phẩm bổ sung thảo dược giảm cân, sibutramin và các chất chuyển hóa của nó (desmethylsibutramin và didesmethylsibutramin) được tìm thấy trong huyết thanh.
“Biến chứng ngộ độc Sibutramin cấp tính” được xác định là nguyên nhân gây tử vong. Nồng độ sibutramin trong các thực phẩm chức năng giảm cân khác nhau được thu thập ở các nước châu Á thay đổi đáng kể, từ 0,14 đến 781. Hàm lượng sibutramin cao (5400–781.200 mg/kg) được tìm thấy trong 9 viên nang giảm béo mua từ các cửa hàng trái phép ở Iran. Những thực phẩm bổ sung này được sản xuất ở các nước châu Á, bao gồm Trung Quốc, Iran và các nước Đông Nam Á [24].
Các báo cáo về ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng liên quan đến các chất bổ sung thảo dược đã góp phần nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của việc phát triển một hệ thống kiểm tra phần sản phẩm. Trung Quốc đã thông qua Luật An toàn Thực phẩm vào năm 2015, với một hệ thống mới để quản lý các chất bổ sung trong chế độ ăn uống. Các sản phẩm “Được phân loại là thực phẩm bổ sung” phải trải qua quá trình thử nghiệm 4 rộng rãi, phê duyệt trước khi đưa ra thị trường và thử nghiệm độc tính trước khi bán [27]. Mặc dù việc xây dựng tiêu chuẩn hóa cho các sản phẩm thảo dược đang được phát triển trên toàn thế giới nhưng hiện tại vẫn chưa có các quy định chung.
Cần phải kiểm soát chặt chẽ các quy định về các sản phẩm giảm béo, bao gồm việc cấp phép, hướng dẫn ghi nhãn và xác minh thành phần để chống lại các hành vi gian lận [19]. Hiện nay, tại Việt Nam, cục Quản lý Dược, bộ Y tế đã ngưng cấp phép nhập khẩu nguyên liệu sibutramin và tiến hành thu hồi các sản phẩm chứa chất này từ năm 2011 [5]. Nhưng vẫn phát hiện tình trạng TPBVSK có trộn trái phép nhóm chất này: ➢ Năm 2021, Ban Quản lý An toàn thực phẩm tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành triển khai giám sát ô nhiễm thực phẩm theo kế hoạch, trong đó thực hiện giám sát đối với nhóm thực phẩm bảo vệ sức khỏe, kết quả kiểm nghiệm do Viện Kiểm nghiệm ATVSTP Quốc gia thực hiện phát hiện 06 mẫu sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe có chứa chất cấm Sibutramin [31]. ➢ Cục An toàn thực phẩm đã ban hành Quyết định số 97/QĐ-ATTP, ngày 04/4/2022, về việc thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm bổ sung cafe Hoàng Gia [32].
Danh mục chất cấm thực phẩm bảo vệ sức khỏe quy định tại Thông tư số 10/2021/TT- BYT, hiện nay đang có 4 dẫn xuất của sibutramin [3] (Bảng 1.2 Danh mục các chất cấm thuộc dẫn chất sibutramin STT Tên chất Tên khoa học 1-(1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl)-N,N- 8 Benzyl sibutramin dimethyl-2-phenylethan-1- amin Desisobutyl- 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]-N,N- 23 benzylsibutramin dimethyl-2-phenylethanamin 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]-N,3- 25 Desmethylsibutramin dimethylbutan-1-amin 1-[1-(4-chlorophenyl)cyclobutyl]-3- 30 Didesmethylsibutramin methylbutan-1-amin 5 1. Các nghiên cứu xác định sibutramin và dẫn xuất Trên thế giới đã có rất nhiều phương pháp được phát triển nhằm sàng lọc và định lượng sibutramin và dẫn xuất. Từ những phương pháp rất phổ biến như HPLC [4], [9], [6], [12] tới phương pháp ít phổ biến hơn như HPTLC [21]. Và cả những phương pháp có độ đặc hiệu cao như sắc ký- khối phổ (Bảng 1.
Nghiên cứu của Lê Đình Chi và cộng sự xác định sibutramin bằng HPLC [4] xây dựng giới hạn phát hiện là 10 µg/g, giới hạn định lượng là 25 µg/g. Trong 34 mẫu phân tích phát hiện 11 mẫu (32%) chứa chất cấm sibutramin với hàm lượng từ 22,0- 69,2 mg/g. Nghiên cứu của Nguyễn Thái Ngọc Mai và cộng sự xây dựng phương pháp định lượng sibutramin bằng HPLC [9]. Kết quả giá trị LOD và LOQ lần lượt là 0,33 mg/kg và 1 mg/kg, phát hiện sibutramin trong 8/10 mẫu với khoảng nồng độ từ 17,51 - 16349,46 mg/kg.
Một nhà nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ [12] tiến hành xây dựng 2 phương pháp phân tích HPLC và HPTLC thực hiện so sánh sơ bộ về hàm lượng sibutramine trong các sản phẩm giảm béo. Kết quả SB được phát hiện trong ba sản phẩm dưới dạng sản phẩm giảm béo tự nhiên. Các nhà nghiên cứu tại đại học Y Plovdiv đã xây dựng phương pháp phân tích HPTLC để phát hiện SB trong TPBVSK [21]. Kết quả xác định LOD, LOQ lần lượt là 0,0765 μg/vết and 0,2318 μg/vết.