Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài - Sau 10 – 15 ngày trồng mầm cỏ mọc cao lên trên mặt đất thì trồng dặm vào những chỗ hom chết, xới xáo cỏ dại. - Mỗi lần cắt xong phải làm sạch cỏ dại, cắt sạch lá khô dưới gốc, vào mùa khô sau mỗi lần bón phân tiến hành tưới đẫm để giúp cỏ phát triển tốt. * Thời gian và lượng phân bón: - Đối với cỏ mới trồng, khi cây cỏ cao khoảng 30 – 35 cm tiến hành bón phân để giúp cây cỏ phát triển tốt. - Đối với cỏ voi đang trong thời gian khai thác, sau khi đã khai thác xong khoảng 10 – 15 ngày, cây cỏ đã xuất hiện mầm mới cao khoảng 20 – 25cm, tiến hành bón phân để giúp cây cỏ phát triển tốt.
- Lượng phân bón: mùa khô bón 80 kg Ure/lần thu hoạch, mùa mưa bón 80kg Ure + 15 kg KCl/ha/lần thu hoạch. - Bên cạnh việc bón phân định kỳ sau mỗi đợt thu hoạch thì hàng năm ta bổ sung thêm phân lân 400 kg/ha, bón vào đầu và cuối mùa mưa của năm. * Cách bón phân : Lượng phân bón được trộn đều với nhau và tiến hành bón đều trên diện tích trồng cỏ. Vào mùa mưa sau khi bón phân không cần tưới nước, nhưng vào mùa nắng sau khi bón phân xong thì tiến hành tưới để giúp cây cỏ hấp thu được lượng phân đã bón.
Thu hoạch: - Đợt thu hoạch khi cỏ được 50 – 60 ngày tuổi (không thu hoạch non đợt đầu ảnh hưởng tới khả năng tái sinh của cỏ). Các đợt sau thu hoạch cách nhau khoảng 40 - 45 ngày. Cắt non quá cỏ nhiều lá, mềm, bò thích ăn nhưng chất khô của cỏ rất thấp (có thể dưới 10%), vì vậy bò ăn no bụng nhưng vẫn thiếu chất khô. Cắt già quá phần thân dưới hoá gỗ cứng, bò ăn không hết trở nên lãng phí.
Cỏ voi không được chăm sóc sẽ phát triển chậm, thân già cứng sớm bò cũng không thích ăn. - Như vậy mỗi năm tiến hành thu hoạch 8 lần, ước lượng năng suất đạt khoảng 240 tấn/ha/năm. * Chú ý: Khi khai thác cỏ voi không nên phát sát mặt đất hoặc phát chừa gốc lại quá cao. Vì cỏ voi sau mỗi chu kỳ khai thác, cây sẽ bật mầm ở vị trí mắt gần sát gốc, nên nếu ta phát 8 do an Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài sát mặt đất có khả năng cây sẽ không bật mầm mới và dẫn tới chết cây, ngược lại nếu phát chừa gốc lại quá cao sẽ dẫn tới hiện tượng lồi gốc và cây phát triển lại rất yếu.
Một số kỹ thuật xử lý cỏ sau thu hoạch - Thức ăn xanh đem ủ nhờ lên men yếm khí hạn chế bị hư hỏng do ôxy hoá. - Acid tạo ra trong quá trình lên men hay acid bổ sung vào sao cho quá trình lên men đều dừng lại. Nguyên liệu: - Cỏ xanh hay một số phụ phế phẩm khác nhiều nước như: Vỏ, lỏi trái thơm, bã trái điều, hèm bia. - Vấn đề ủ xanh đặt ra khi nguồn cỏ xanh dồi dào vào mùa mưa, nhưng ta không thể phơi khô cất giữ đến mùa khô được.
Ngược lại, nếu khi cần mới cắt cho ăn thì chất lượng cỏ thay đổi rất nhiều, cỏ già sẽ kém tiêu hoá, lượng đạm giảm đáng kể và Lignin tăng. Đối với mỗi loại cỏ có thời kỳ thu cắt tối ưu. - Phạm vi trong tỉnh: Thân vỏ bắp non, xác khoai mì, thân cây họ đậu, dây khoai lang. là nguồn nguyên liệu khá lớn có thể dự trữ làm thức ăn xanh cho bò.
thực hành ủ thức ăn xanh. Ủ cỏ xanh với rỉđường và muối. - Nguyên liệu: Có thể ủ xanh cỏ tự nhiên, cỏ trồng (như cỏ voi, cỏ sả, cỏ họ đậu) hay thân cây bắp tươi, cây đậu phụng thậm chí cả cây lục bình. Cỏ nên cắt vào thời điểm trước khi ra hoa.Cỏ không quá non chứa nhiều nước khó ủ, cũng không chờ cỏ quá già.Nếu là cỏ trồng nên cắt sau 45 ngày.
Có thể ủ nhiều loại cỏ họ đậu với nhau, cỏ họ đậu nên ủ chung với cỏ voi. Các nguyên liệu bổ sung như rỉ đường 2-4 %, muối 1-2 % so với trọng lượng cỏ tươi. - Chuẩn bị nguyên liệu ủ cỏ: Chọn ngày nắng ráo để cắt cỏ, trải ra sân phơi cho héo, sau đó cắt ngắn độ 2-3 cm. Ủ chua thân, vỏ bắp thu trái non.
Cách làm hố ủ: Số lượngbắp ủ tính trên số lượng trâu, bò và số lượng vỏ bắp thu hoạch. Một con bò có thể ăn 15-20kg vỏ bắp ủ/ngày. Hầm ủ có thể tích 1m3 ủ được 600-800 kg vỏ, thân bắp non. Có hai loại hố ủ: hố hình khối và hố hình giếng.
Hố hình giếng: Giống như cái giếng bên trong xây gạch dày. Đối với hố đào không xây gạch, có thể 9 do an Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài lót bên trong bằng một túi nylon, chừa phần dư bên dưới để lót đáy hố, chừa phần dư bên trên để có thể cột chặt khi ủ xong hố. Cho vỏ, thân bắp vào hố ủ: - Cân vỏ bắp: Đối với hố có đường kính 1,2 m x đáy 1,2 m x cao 1,2m cho vào hố mỗi lớp:50kg vỏ bắp + 1kg cám + 0,5 kg muối (cám 2% + muối 1%). Hoặc50kg vỏ bắp+ 2,5kg mật đường + nước + 0,5 kg muối (mật đường 5% + muối 1%).
- Dậm bằng chân kỹ lưỡng, nhất là vách hố ủ. Cứ thực hiện cho đến khi đầy hố. - Khi đã ủ đầy hố, cột chặt miệng túi nylon. - Đặt một tấm vĩ, bên trên xếp những tảng đá hoặc những vật nặng.
Cách lấy vỏ bắp ủ cho bò ăn: - Có thể lấy cho bò ăn sau khi ủ 3 tuần. - Bốc bỏ phần bắp ủ bị nhiễm mốc hoặc vỏ bắp ủ bị nhũng. - Khi đã mở hố ủ nên cho bò ăn liên tục, không nên ngưng. - Tuỳ cấu trúc của hố mà lấy vỏ bắp ủ cho bò ăn: + Nếu hố dài nên lấy từng phần và xắn theo chiều sâu của hố.
+ Nếu hố hình giếng, lấy lớp trên rồi nén lại cho chặt, đậy kỹ như cũ. Đánh giá chất lượng vỏ bắp ủ bằng cảm quan: - Mùi thơm axit dễ chịu. - Màu vàng xanh của dưa cải muối, không mềmnhũng. - Vị không đắng và không chua gắt.
- Không có nấm mốc. Tình hình chăn nuôi trâu bò ở nước ta Tình hình chăn nuôi trâu bò thịt Về truyền thống chăn nuôi trâu bò thịt ở nước ta thực chất là chăn nuôi bò địa phương kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngày nay, trong khi đàn trâu bò cày kéo có xu hướng giảm thì chăn nuôi trâu bò theo hướng lấy thịt đang ngày càng phát triên mạnh hơn đê đáp ứng nhu 10 do an Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân.1 cho thấy diễn biến đàn trâu bò qua một số năm gần đây ở nước ta. Năm Trâu Bò 1980 2 313 1 664 1985 2 590 2 598 1990 2 854 3 121 1995 2 963 3 638 2000 2 960 4 127 2005 2 922 5 541 2007 2 990 6 720 Nguồn: FAO Statistics (2005) Bảng 1.
1 Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua (1000 con) Phân bố của đàn trâu bò theo các vùng sinh thái được trình bày ở bảng 1. Khoảng 45% tổng số đàn bò của cả nước tập trung ở các tỉnh miền trung Việt Nam, đây là vùng cung cấp bò cày cho vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đồng bằng châu thố Sông Hồng. Khoảng 54,5% số lượng đàn bò được phân bố trên 5 vùng sinh thái khác nhau của đất nước, là nguồn sức kéo chủ yếu của nông nghiệp cho các vùng trên. Tây Nguyên là vùng đất rộng lớn, có nhiều đất đai và đồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi bò nhưng tại đây số lượng bò chỉ chiếm khoảng 10,7% tổng số bò của cả nước và đàn trâu rất ít.
Vùng sinh thái Đàn trâu (%) Đàn bò (%) 1. Miền núi phía bắc 58,3 16,9 2. Đồng bằng Sông Hồng 5,1 12,3 3. Bắc Trung bộ 23,9 20,2 4.
Nam Trung bộ 4,2 18,8 5. Miền Đông Nam bộ 3,9 12,2 7. Đồng bằng Sông Cửu long 1,6 8,5 Tổng số 100 100 Bảng 1. 2 Phân bổ đàn trâu bò theo vùng sinh thái (năm 2004) Nguồn: Niên giám thống kê (2005) 11 do an Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Từ năm 1990 đến nay, đàn bò của nước ta phát triển với tốc độ tăng đàn hàng năm trên 4%.
Miền Bắc có Đồng Bằng Sông Hồng và miền Nam có Đông Nam Bộ là hai vùng có tốc độ phát triển đàn bò nhanh nhất so với các vùng sinh thái khác với tỷ lệ tương ứng là 7,61% và 9,85%. Tuy nhiên, khoảng gần 70-75% tổng đàn bò của cả nước hiện nay vẫn là bò vàng địa phương, sinh trưởng chậm, khối lượng thấp, trung bình con đực là 180-200 kg và bò cái từ 150-160 kg. Bò vàng có tỷ lệ thịt xẻ thấp khoảng 40-44% so với khối lượng sống. Thịt trâu bò trên thị trường chủ yếu là thịt của trâu bò nội (kiêm dụng lao tác-thịt).
Hiện nay (năm 2004), sản lượng thịt hơi trâu bò hàng năm của ta chỉ đạt khoảng trên 170 nghìn tấn trong tông số 2,5 triệu tấn thịt hơi của các loại gia súc gia cầm. Lượng thịt tiêu thụ bình quân khoảng 30 kg thịt hơi/người/năm, trong đó chỉ có khoảng 2,2 kg là thịt trâu bò. Xuất phát từ yêu cầu tiêu dùng và đế từng bước xây dựng đàn bò thịt ở Việt Nam, từ những năm 1960 Nhà nước đã có chương trình cải tiến đê nâng cao năng suất của đàn bò địa phương bằng cách cho lai với các giống bò Zêbu như bò Red Sindhi. Thực tế bò Red Sindhi đã được nhập vào nước ta từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước và đã tạp giao với bò địa phương tạo ra bò Lai Sin có khả năng cho thịt tốt hơn bò địa phương rất nhiều.
Vào những năm 70 ngoài các giống bò thịt nhiệt đới như bò Red Sindhi, Sahiwal và Brahman ra thì một số bò ôn đới như Limousin, Hereford, Simmental, Santa Gertrudis, v. cũng đã được nhập nội để tăng cường việc lai tạo và cải tiến đàn bò địa phương trên phạm vi và quy mô lớn hơn. Các loại bò lai hướng thịt có tốc độ tăng trọng và khối lượng trưởng thành khá cao (45-47%). Tuy nhiên, cho đến nay đàn bò lai mới chiếm khoảng 25-30% tống đàn bò của cả nước.
Để phát triến chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, trong các năm 2002-2004 khoảng 2500 con bò thịt nhiệt đới giống Brahman và Droughtmaster của Australia đã được nhập vào nước ta.