Tổng quan nghiên cứu

Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu diện tích tự nhiên rộng lớn khoảng 40.000 km² cùng mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và hệ thống sinh thái ngập nước phong phú. Với quy mô dân số đạt 14,6 triệu người vào giai đoạn 1993 - 1995, trong đó có 12,3 triệu người sinh sống tại khu vực nông thôn, khu vực này nắm giữ nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn vô cùng trù phú. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại vùng hạ lưu sông Mê Kông thời kỳ này còn mang nặng tính tự phát, phân tán, thiếu quy hoạch không gian bài bản và chưa tận dụng hết lợi thế sinh thái miệt vườn đặc trưng.

Trước bối cảnh đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế, đề tài tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: xác lập cơ sở khoa học về tổ chức lãnh thổ du lịch nhằm quy hoạch mạng lưới du lịch sinh thái bền vững cho toàn vùng. Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm việc xây dựng bộ tiêu chí lượng hóa tài nguyên, khảo sát thực địa 33 điểm tiềm năng và thiết kế hệ thống 7 tuyến, 2 khu du lịch sinh thái trọng điểm. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 12 tỉnh thành Tây Nam Bộ, với mốc thời gian thực hiện từ năm 1992 đến năm 1996, định hướng phát triển đến năm 2000 và tầm nhìn 2010.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ quy hoạch giúp gia tăng hiệu quả kinh tế dịch vụ, bảo vệ hơn 16.500 ha rừng ngập mặn cửa sông Tiền và phục hồi đa dạng sinh học tại các vùng đất ngập nước trọng yếu. Đề tài mở ra hướng đi mới trong việc nâng cao tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào ngân sách nhà nước, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho hàng triệu cư dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Hệ thống Lãnh thổ Du lịch của M. Preobrazhensky làm nền tảng chủ đạo, xem cấu trúc du lịch là một địa hệ thống xã hội hoàn chỉnh gồm 4 phân hệ tương tác hữu cơ: khách du lịch, tài nguyên du lịch, công trình kỹ thuật - hạ tầng và đội ngũ quản lý điều khiển. Bên cạnh đó, mô hình hệ thống không gian du lịch của Neil Leiper được kết hợp nhằm phân tích dòng lưu chuyển giữa vùng phát sinh khách và điểm đón nhận khách. Khái niệm Thể tổng hợp Lãnh thổ Du lịch của I. I. Pirojnik cũng được kế thừa để luận giải tính liên kết kinh tế giữa các cơ sở dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật trong cùng một không gian địa lý.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm: Du lịch sinh thái, được định nghĩa là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa; Tài nguyên du lịch tự nhiên; Sức chứa du lịch; và Tuyến - Điểm - Khu du lịch sinh thái theo các cấp phân vị địa lý học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa thống kê thứ cấp ngành du lịch giai đoạn 1990 - 1995 và điều tra sơ cấp thực địa. Phương pháp chọn mẫu điển hình phi xác suất được áp dụng để khảo sát 33 điểm tài nguyên sinh thái đại diện cho 9 loại hình cảnh quan tự nhiên trên toàn địa bàn 12 tỉnh thành. Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 2 nhóm phiếu chuyên biệt: phiếu thăm dò ý kiến dành cho 50 hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp và phiếu khảo sát đối với 300 du khách nội địa cùng quốc tế tại các điểm trung chuyển trọng điểm như Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích đánh giá đa tiêu chí kết hợp thang điểm trọng số là nhằm lượng hóa chính xác các thuộc tính tài nguyên vốn mang tính định tính. Quy trình xử lý dữ liệu trải qua 4 bước: khảo sát thực địa, ma trận hóa điểm số theo hệ số phân cấp, ứng dụng mô hình hình học và bản đồ phân vùng không gian. Toàn bộ lộ trình nghiên cứu thực địa và tổng hợp dữ liệu được thực hiện liên tục trong thời gian 4 năm, từ khóa học 1992 đến năm bảo vệ 1996.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả đánh giá phân hạng 23 điểm tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên cốt lõi cho thấy sự phân hóa rõ rệt: có 5 điểm đạt tiêu chuẩn Loại A (chiếm tỷ lệ 21,74%) đủ năng lực đón tiếp khách quốc tế và 18 điểm xếp Loại B (chiếm tỷ lệ 78,26%) phù hợp phục vụ thị trường khách nội địa. Các điểm nổi trội đạt điểm tối đa về tính hấp dẫn và cảnh quan sinh thái bao gồm Cù lao Bình Hòa Phước, Vườn quốc gia Côn Đảo, Khu bảo tồn Tràm Chim, Đảo Phú Quốc và Rừng ngập mặn Cà Mau.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng kinh tế du lịch tại các cực phát triển giai đoạn 1994 - 1995 diễn ra rất nhanh nhưng thiếu tính đồng đều. Tại Cần Thơ, tổng doanh thu toàn ngành năm 1994 đạt 35,200 tỷ đồng, đến năm 1995 đã tăng lên 42,233 tỷ đồng, trong đó doanh thu thuần du lịch đóng góp 32,503 tỷ đồng và nộp ngân sách 12,680 tỷ đồng. Tại Vĩnh Long, năm 1994 đón 61.793 lượt khách với 11.241 khách quốc tế, mang lại nguồn thu ngoại tệ 229 nghìn USD, tăng gấp 4,58 lần so với mức 50 nghìn USD của năm 1991. Tại Tiền Giang, lượng khách năm 1994 đạt 81.000 lượt, trong đó khách quốc tế chiếm 51.300 lượt, vượt 72,73% so với 29.700 lượt khách nội địa.

Thứ ba, sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ lưu trú chất lượng cao là điểm nghẽn lớn nhất. Toàn tỉnh Trà Vinh chỉ có 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn lưu trú cơ bản, còn Vĩnh Long sở hữu 5 khách sạn với 442 giường nhưng chỉ có 124 phòng đạt chuẩn đón khách quốc tế.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu được tổng hợp và biểu diễn khoa học thông qua Bảng ma trận đánh giá 7 chỉ tiêu tài nguyên (tính hấp dẫn, cơ sở hạ tầng, tính an toàn, tính bền vững, tính liên kết, tính thời vụ, sức chứa) cùng Bản đồ phân vùng không gian 7 tuyến du lịch sinh thái. Biểu đồ cơ cấu phân hạng tài nguyên phản ánh rõ nét thực trạng hơn ba phần tư điểm đến mới dừng lại ở mức độ phục vụ nội vùng do thiếu vắng hạ tầng liên kết.

Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ việc đầu tư phân tán, manh mún, thiếu sự chỉ đạo điều phối thống nhất giữa các tỉnh trong vùng hạ lưu. So với mô hình du lịch sinh thái đã vận hành hiệu quả tại Thái Lan hay Malaysia trong cùng thập niên 1990, ĐBSCL sở hữu hệ sinh thái rừng ngập mặn và chim nước độc đáo hơn nhiều, đơn cử như Tràm Chim quy tụ 147 loài chim nước và 246 loài động vật quý hiếm. Tuy nhiên, việc khai phá đất nông nghiệp và phá rừng nuôi tôm tự phát tại Cửa sông Tiền hay Năm Căn đang trực tiếp đe dọa chuỗi thức ăn tự nhiên, đòi hỏi các chính sách quy hoạch vùng phải gắn liền với báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch đồng bộ mạng lưới 7 tuyến du lịch sinh thái liên tỉnh và 2 khu du lịch trọng điểm Phú Quốc, Côn Đảo với mục tiêu đưa vào vận hành ổn định trước năm 2000. Tổng cục Du lịch chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các địa phương thiết kế các hành trình chuyên đề từ 1 đến 3 ngày, tối ưu hóa tốc độ vận chuyển đường bộ và đường thủy nhằm đảm bảo thời gian di chuyển không vượt quá 50% tổng thời lượng tour mỗi ngày.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng giao thông tiếp cận và cải tạo cơ sở lưu trú thân thiện sinh thái tại các cù lao trọng điểm trong giai đoạn 1996 - 2005. Sở Du lịch tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long cần hướng dẫn các đơn vị lữ hành đầu tư hệ thống cụm nhà nghỉ kiểu bungalow sinh thái, xây dựng cầu tàu đón khách và trạm dừng chân đạt chuẩn sức chứa từ 300 đến 500 khách cùng lúc tại Cù lao Thới Sơn và Cù lao Bình Hòa Phước, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ điểm đến Loại A lên trên 40% vào năm 2010.

Thứ ba, thiết lập hành lang bảo tồn nghiêm ngặt và kiểm soát sức chứa môi trường tại các khu bảo tồn thiên nhiên trước năm 1998. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cùng Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim, Đầm Dơi, Vồ Dơi ban hành quy định giới hạn số lượng phương tiện tắc ráng gắn máy vào mùa chim làm tổ từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, giữ vững diện tích 7.600 ha vùng lõi ngập nước để bảo vệ loài sếu đầu đỏ Sarus phương Đông.

Thứ tư, triển khai chương trình đào tạo nhân lực du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trong lộ trình 1997 - 2005. Trường Đại học Sư phạm TP.HCM và các trường nghiệp vụ du lịch liên kết mở các khóa tập huấn kỹ năng diễn giải môi trường cho 100% đội ngũ hướng dẫn viên, cam kết tạo việc làm và sử dụng tối thiểu 80% lực lượng lao động dịch vụ là người dân địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách du lịch, bao gồm Tổng cục Du lịch và Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có thể ứng dụng trực tiếp bộ chỉ tiêu phân hạng và phương án phân vùng không gian để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế du lịch dài hạn.

Nhóm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và dịch vụ du lịch như Saigontourist cùng các công ty du lịch địa phương có thể sử dụng cấu trúc 7 tuyến tour mẫu để thiết kế các gói sản phẩm du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn độc đáo, tối ưu hóa cung đường và nâng cao trải nghiệm của du khách.

Nhóm các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Địa lý Tự nhiên, Địa lý Du lịch, Quản lý Môi trường và Kinh tế Vùng có thể kế thừa khung lý thuyết Hệ thống Lãnh thổ Du lịch và phương pháp lượng hóa điểm số tài nguyên phục vụ công tác giảng dạy, mở rộng đề tài nghiên cứu liên vùng.

Nhóm ban quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và các tổ chức phi chính phủ về môi trường có thể tham khảo các nguyên tắc quản lý sức chứa và phương án du lịch sinh thái cộng đồng để vừa bảo tồn đa dạng sinh học, vừa tạo nguồn tài chính tái đầu tư cho sinh cảnh rừng.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái trong luận văn được xây dựng như thế nào?
Luận văn thiết lập khung đánh giá gồm 3 chỉ tiêu thu hút khách (tính hấp dẫn, cơ sở hạ tầng, tính an toàn) và 4 chỉ tiêu quản lý khai thác (tính bền vững, tính liên kết, tính thời vụ, sức chứa). Mỗi chỉ tiêu được chia làm 4 bậc và nhân với hệ số trọng số từ 1 đến 3 để xếp hạng điểm đến thành Loại A, B hoặc C.

Tại sao luận văn xác định Đồng bằng sông Cửu Long là một Thể tổng hợp Lãnh thổ Du lịch?
Khu vực này có sự gắn kết hữu cơ giữa các điểm tài nguyên sông nước, hệ thống cù lao miệt vườn với cơ sở hạ tầng giao thông thủy bộ dùng chung. Toàn vùng nằm trong giai đoạn hình thành và tăng trưởng mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự liên kết kinh tế - lãnh thổ chặt chẽ giữa 12 tỉnh thành.

Mô hình du lịch sinh thái trong nghiên cứu có điểm gì khác biệt so với du lịch miệt vườn đại trà?
Du lịch sinh thái đòi hỏi trách nhiệm bảo vệ môi trường, giáo dục nâng cao nhận thức của du khách về động thực vật bản địa, kiểm soát chặt chẽ sức chứa lưu trú và chia sẻ lợi ích kinh tế trực tiếp với cộng đồng cư dân địa phương thay vì chỉ thuần túy khai thác hoạt động tham quan ngắm cảnh.

Luận văn đã phân định không gian du lịch sinh thái toàn vùng thành những tuyến điểm cụ thể nào?
Nghiên cứu đã quy hoạch chi tiết 23 điểm du lịch sinh thái tự nhiên, kết nối thành 7 tuyến du lịch liên tỉnh tiêu biểu với thời gian 1 đến 3 ngày (như tuyến Tràm Chim, Sông Tiền, Sông Hậu, Cà Mau) cùng 2 khu du lịch sinh thái biển đảo độc lập là Vườn quốc gia Phú Quốc và Côn Đảo.

Những rào cản lớn nhất đối với du lịch sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn này là gì?
Khó khăn lớn nhất nằm ở hệ thống hạ tầng giao thông kết nối kém phát triển, cơ sở lưu trú đạt chuẩn quốc tế chỉ chiếm tỷ lệ thấp, các hoạt động du lịch còn tự phát, trùng lặp sản phẩm giữa các địa phương và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của các sân chim.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về tổ chức lãnh thổ du lịch và phương pháp đánh giá định lượng tài nguyên sinh thái vùng ngập nước.
  • Xác định 23 điểm tài nguyên sinh thái tự nhiên then chốt, chứng minh tính khả thi trong việc khai thác 5 điểm Loại A đón khách quốc tế và 18 điểm Loại B phục vụ nội địa.
  • Thiết kế hoàn chỉnh khung phân vùng không gian gồm 7 tuyến du lịch sinh thái đặc trưng và 2 khu bảo tồn biển đảo trọng điểm đến năm 2000.
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng tăng trưởng du lịch tại các cực trung chuyển như Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, chỉ rõ những nút thắt hạ tầng cần tháo gỡ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành kết hợp giữa đầu tư có trọng điểm, phân cấp quản lý môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bản địa.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai quy hoạch chi tiết từng tiểu vùng du lịch trong giai đoạn 1996 - 2000, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa tài nguyên và nhân rộng các mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng. Hãy áp dụng ngay các định hướng khoa học từ công trình nghiên cứu này để cùng kiến tạo một nền du lịch xanh, bền vững và giàu bản sắc văn hóa sông nước Cửu Long.