§9% (2 Am Ro 4C T®--b BỘ GIÁO ĐỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HỒ CHÍ MINH KHOA ĐỊA LÝ SONG CUU LONG CHUYEN NGÀNH : DIA LY TY NHIÊN KHOA HỌC : 1992 - 1996 THAY HUGNG DAN : THAC SĨ TRAN VAN THÀNH TRƯƠNG HOÀNG PHƯƠNG SINH VIÊN THỰC HIEN : BÙI KIM THU TP.1996 LUẬN VĂN HOÀN THÀNH TẠI KHOA ĐỊA LY TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HỖ CHÍ MINH NGƯỜI HƯỚNG DAN KHOA HỌC 1: THẠC SĨ TRAN VĂN THÀNH Thala NGƯỜI HƯỚNG DAN KHOA HỌC 2 : THAY TRUONG HOANG PHƯƠNG NGƯỜI NHAN XÉT : « Luén văn được bảo vệ hồi ngày 24 tháng 05 năm 1996 © Tai Hội đồng chấm luận văn Khoa Địa Lý Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hé Chí Minh. « Cé thé tìm hiểu tại văn phòng Khoa Địa Lý LỜI NÓI ĐẦU CBN X4 X4 nO ROA FEE> Đất nước ta dang hước vào thời kỳ mở cửa giao hn với thế giới nhầm xây dựng nên kinh tế thi trường đa dang. nhiều thành phân theo định hướng XHCN. Chúng ta có rất phiền tiểm nang to lân về kính tế : nông nghiên, công nghiệp, da lịch, bởi lẻ được thiên phiền wn đãi, đất dai mầu mổ, tài nguyên rừng.
biển và khoáng sẵn đổi đào phong phd, lic lướng lao đông đông đảo. có sức kh», có trí thức và tinh than yêu nước. tính đại đoàn kết dân tộc. Với những tiém năng kính tế như vậy.
chắc chấn sé đưa đất nước tới môi tương lai ấm no, tươi sáng hơn. Ngày nay, mot trong những thế mạnh thu hút nhiều vin dau ut và phát triển kinh tế nước ta kì du lich. Suốt doc chiéu đài đất nước từ Nam ra Hắc đâu đâu cũng có danh lam. Diéu đó đã dem lại cho ngành du lịch Việt Nam nhiều lợi thé.
Suốt những năm tháng theo học 3 Khoa Địa lý trường ĐHSP TP.HCM chúng tôi đã có Jip di thực địa nhiều nơi. nơi để lại trong lòng tôi nhiều trần trở nhất đó là Đồng bằng châu thể sông Cứu Long (DBCTSCL) mãnh đất có nhiễu mãnh lực gới cảm nhưng chưa khai thác đúng ante để thu hút sự quan tầm mến mô của nhiều người. Xuất phát từ diéu trăn trà đó. Việc “hước đầu nghiên cứu gry hoạch du lịch sinh thái Đẳng bằng châu thể sông Cửu LongTM là để tài tôi chọn cho luận văn tốt nghiệp cuối khoá học 1992 - 1996.
'Trong quá trình làm để tài, tôi đã nhân được sự giúp đỡ. hướng dẫn tận tình của Thac si TRAN VĂN THANH, Thay TRƯƠNG HOÀNG PHƯƠNG, giảng viên khoa Địa lý trường ĐHSP, các thay cô trong khoa. su giúp đữ, cung cấp tài liêu của các cơ quan và cá nhân ở DIISCT1. cũng như ở TP.
các han trong lớp. Trước khi di vào phần chính của để tài tôi xin được nói lên Ki cám ơn chân thành sâu sắc nhất. Deo hạn chế về trình đô. thời gian nên chấc chấn trong luận văn này còn nhiều sai sốt vẻ nội dung lẫn hình thức.
Rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp. PHAN I: TONG QUAN SO LUGC LICH SU NGHIEN CUU VAN DE Du lịch là một lính vực hoạt động từ khi có con người. Con người trong thời tién sử an lông 3 6. cư ngụ trong các hang đông thiên nhiên.
con người đứng ở môi thung lũng nhìn bin phiá đểu có núi bao quanh, có lúc con người cũng xem mình đứng núi nào. Rồi trong nến kinh tế săn bắn, hái lượm. con người cũng thực hiện những hoạt động du lịch nhưng chưa hình dung được khái niệm du lịch. Xã hội loài người ngày một phát triển, nhu cẩn cuộc sống ngày tầng cao vể mức sống và trình độ hiểu hiết, du lịch lại là một hoạt động lành manh.
phổ biến trong cuộc sống con người nhất là những nước có nền kinh tế phát triển. Du lịch đã trở thành một ngành kính tế tổng hợp, xuất khẩu vô hình, xuất khẩu tại chổ chiếm môt vị trí ngầy càng quan trọng ở nhiễu quốc gia. Vì vậy, để đầm bảo nhu cầu của khách du lịch và mang lại hiệu quả kinh tế việc khai thác và sử đụng hợp lý nguồn tài nguyên du lịch (TNUI,) là rất cẩn thiết. Vấn để nghiên cứu đánh giá nguồn TNIM.
phục vụ mục dich du lịch có ý nghĩa thiết thực nên thu hút đông đảo các nhà khoa học tham gia. Đây cũng là lĩnh vực mới mẻ, phức tạp, có nhiều quan niệm khác nhau, tiếp cân và giải quyết cũng khác nhau. Đòi hỏi phai hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức. Đầu thế kỷ XX có các công trình nghiên cứu nhưng chỉ dừng lại việc mô tả cảnh quan tự nhiên, văn hoá ở các lãnh thổ nhất định.
Cho đến những năm 40 của thế kỷ này lĩnh vực nghiên cứu từng bước được hình thành, từ việc nghiên cứu các luỗng khách du lịch trong nước, các luồng khách du lịch quốc tế dẫn dn đi đến đánh giá TNII. Từ đó xác định được khả năng phát triển của từng vùng và xây dựng mô hình phát triển tối ưu nhất dim hảo tính khoa học. Ở Việt Nam, ngành du lịch hết sức mới mẻ chủ yếu phát triển hơn 30 năm nay, nhưng thật sự quan tâm chỉ trong những năm gắn đây. Năm 1990, năm du lịch Việt Nam vì thế lĩnh vực nghiên cứu phục vụ mục đích du lịch vẫn còn hạn chế.
Trong nhiều năm qua các công trình nghiên cứu như “Đánh giá tài nguyên đu lịch Việt Nam” do Viện nghiên cứu và phái triển du lịch chủ trì. Để tài chỉ cho chúng ta thấy được hức tranh chung về tiém năng, hiện trang và một số xu hướng phát triển du lịch. Năm 1992, công trình nghiên cứu luân án Phó tiến si khoa học Địa lý - Địa chất của Đăng Duy Lodi “Đánh giá và khai thác các điểu kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”, công trình đã xây dựng cơ sở khoa học của việc đánh giá và khai thác các điểu kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch tại một địa bàn cụ thể. Công trình “Những định hướng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theo các vùng lãnh thé” của Tổng cuc du lịch (1993) là môt dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vàng tam giác phid Hắc Hà Nôi - Hải Phòng - Quảng Ninh.
vàng tam giác phiá Nam TP.IICM - Biện Hoà - Vũng tau và trục Huế- DA Nẵng. Năm 1995 ra đời công trình nghiên cửu của Công ty du lịch SAIGON TOURIST về “thiết kế các tuyến điểm du lịch trong và ngoài TPHCM đến năm 2010", Các tác giả đã đánh giá được hiện trang các luyến điểm du lịch đang khai thác trong và ngoài TP.HCM và các tuyến du lịch nước ngoài mot cách tron ven trên cứ sở những chỉ tiêu cụ thể. môi hình thái du lịch neti ra đời đã gây tranh cãi cho mọi người trong ngành du lịch khi nó để cập ‹lến một quan điểm mới, Đó là hình thái du lịch sinh thái (ceotourism), mt hình thái được nói nhiền nhất trong thập kỷ 90 tướng tự như sự bùng nể của điện toán trong những năm 80. Mặc dd hình thái du lịch sinh thái này được chứ trong nhưng đến nay hấu như chưa có công trình di sâu nào tận trang nghiền cui ở nước ta.
Ở nước ngoài, du lịch sinh thái đã bat đầu ở Thái Ï an, Malaysia, Nhật bin. Đối với Dong bằng châu thể sông Cita Long nơi được thiên nhiên ưu đãi, nếu khai thác hớp lý tiểm năng thiên nhiên vốn có thì trong tương lai du lịch sẽ phát triển mạnh mẽ cùng với xu hưởng chung của thế guii. Dac biết, xu hướng khai thác du lịch sinh thái dang the hút khách du lich thế giới. tap trung về các nước nhiệt đới của khu vực Châu A - Thái Binh Dương.
CHƯƠNG II : PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUI HOẠCH DU LICH SINH THÁI ỆM SỐ KHÁI NICƠ li. MỘT BẢN VỀ DU LICH lI.1 Du lịch : “Thuật ngữ “Du lịch” xuất phát từ liếng “Teo Tour” của người Anh, có nghĩa là đi dạo chơi, leo nui, van đông ngoài trời. “Teo Tour" và “Teour” đều bất đầu từ tiếng La tinh “Turnws” hoặc tiếng Hy Lap “Tornos" có nghĩa là đi chai, đi dã ngoại. Kể từ khi thành lập Hiệp Hội các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Offical Travel Organization) năm 1925 tại Hà Lan cho đến nay, khai niệm du lịch luôn luôn được tranh luận.du lịch được hiểu là việc di lại của cá nhân hoặc nhóm người rời khỏi chổ ở của mình trong khoảng thời gian ngấn đến các vùng xung quanh để nghĩ ngơi, giải trí, hoặc chữa bênh.
trên thế giới người ta đã thống nhất hiểu khái niệm du lịch với ý nghĩa rộng. bao gồm các hoạt đông di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước, ngoại trừ việc đi cư trú chính trị, tìm việc làm và đi xâm lược nước khác. Thuật ngữ “Du lịch” được quốc tế hoá là “TourismTM và được nhiều nước ở Châu Âu sử dung trực tiếp mà không dịch nghĩa.Guyer Freuler (1905), du lịch vớiý nghĩa hiện đại của từ này là hiện tượng của thời đai chúng ta. dựa trên cơ sở tăng nhu cầu hổi phục sức khoẻ và sự thay đổi môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển các tình cảm đối với các vẻ đẹp của thiên nhiên.
Như vậy, tác giả người Đức này cho rằng khách du lịch là những người di chuyển tạm thời ra khi nơi cư trú thường xuyên để thay đổi không khí nhầm tăng cường sức khoẻ và chiêm ngưỡng phong cảnh của tự nhiên. ' Giáo sư BI Edmod Picara (1910) quan niệm :”Ðw lịch la tổng hợp các tổ chức và cắt chức năng của nó không chỉ về phương diện khách van lai mà cái chính là về phương diện giá trị mà khách du lịch chỉ ra, và khách nước ngoài đến với một túi tiên đẩy ấp, tiêu dag trực tiếp (trước hết ding cho khách sạn nhà tro) và gián tiếp cho các chỉ phí của họ nhẦềm thoả mãn nhu cầu hiểu biết hoặc giải trí”. Như vậy theo giáo sư, khách du lịch là những người đi chơi nhằm mục đích hiểu biết và giải trí và họ cần được tiêu dùng khoản tién của họ có ở các nơi họ tới du lịch tức là họ cần được phục vụ trong thời gian đi du lịch.Woglivia, nhà kinh tế học Anh (1933) cho rằng :"Khdch du lịch là những người thỏa mãn đẳng thời 2 điểu kiện sau : xa nhà trong thời gian không quá một năm, chi tiêu xài ở nơi khác mà không thêm gi” A. Norwal (1936) quan niệm tương tự F.