Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện ghi nhận khoảng 847 loài chim với gần 50 vườn chim phân bố trên khắp cả nước, trong đó hệ sinh thái đất ngập nước nội địa giữ vai trò sống còn đối với các loài chim di cư. Khu du lịch sinh thái Đảo Cò Chi Lăng Nam tại huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương có tổng quy mô 67,1 ha, nổi bật với hồ An Dương rộng 9,3 ha (tương đương 90.377,5 m2), là một trong những sinh cảnh ngập nước tự nhiên quý hiếm tại trung tâm Đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động dân sinh, khai thác thủy sản và du lịch tự phát đã tạo ra áp lực nặng nề lên môi trường sống của các quần thể chim hoang dã.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện cấu trúc thành phần loài chim nước, khảo sát các tác động nhân sinh tiêu cực và xây dựng cơ sở khoa học định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững. Nghiên cứu được triển khai liên tục trong 15 tháng (từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2012) tại địa bàn xã Chi Lăng Nam.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để quy hoạch không gian bảo tồn nguyên vẹn 100% diện tích làm tổ của các loài chim, đồng thời mở ra tiềm năng nâng cao 20% đến 30% doanh thu du lịch dịch vụ cho cộng đồng địa phương, đảm bảo sự cân bằng hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hệ sinh thái và nguyên lý phát triển du lịch sinh thái bền vững dựa trên mô hình tích hợp ba mục tiêu cốt lõi: bảo vệ tài nguyên môi trường, tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cộng đồng. Đề tài kế thừa khung lý thuyết 7 nguyên tắc du lịch sinh thái của Honey Martha công bố năm 1999, nhấn mạnh việc giảm thiểu tác động vật lý, xây dựng nhận thức môi trường và cung cấp lợi ích tài chính trực tiếp cho công tác bảo tồn bản địa.

Nội dung học thuật tập trung vào 4 khái niệm nền tảng: hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, đa dạng sinh học, sức tải môi trường và du lịch có trách nhiệm. Cơ sở pháp lý được xây dựng vững chắc từ Quyết định số 845/TTg ngày 22/12/1995 và Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam, kết hợp cùng các cam kết quốc tế từ Công ước Ramsar năm 1989 và Công ước Bonn về bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được thu thập qua 11 đợt điều tra thực địa với tổng thời gian 42 ngày nghiên cứu thực tế từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2012. Tác giả thiết lập 5 tuyến điều tra trọng điểm, bao gồm 3 tuyến khảo sát đi bộ quanh bờ đê thôn An Dương, thôn Triều Dương, thôn Hội Yên, cánh đồng lúa Đống Trâu và 2 tuyến đường thủy di chuyển bằng thuyền quan sát dặng cây quanh hồ An Dương.

Phương pháp chọn mẫu định tính kết hợp định lượng được áp dụng bài bản nhằm đảm bảo tính đại diện:

  • Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 22 cá nhân am hiểu địa bàn được phỏng vấn sâu (thợ săn hoàn lương, người cao tuổi, cán bộ địa phương) và 65 phiếu thẩm vấn người dân vùng đệm về nhận thức sinh thái.
  • Cỡ mẫu phân tích thành phần thức ăn được thực hiện trực tiếp trên 10 mẫu dạ dày chim thu giữ từ các vụ săn bắt trái phép (gồm 5 cá thể cò trắng, 2 cò bợ, 2 le hôi và 1 sâm cầm), kết hợp quan sát bãi phân chim ngoài tự nhiên.

Lý do lựa chọn phương pháp quan sát điểm kết hợp quan sát tuyến trực tiếp trong khung giờ 5h00 đến 8h00 và 14h00 đến khi mặt trời lặn là vì đây là khoảng thời gian hoạt động kiếm ăn mạnh nhất của các loài chim nước. Thiết bị chuyên dụng gồm ống nhòm, kính viễn vọng quang học Tele-scope và máy ghi âm tiếng hót trong bán kính 50 m. Toàn bộ dữ liệu sinh học được phân tích thống kê và mô hình hóa biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Excel phiên bản 2000.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận cấu trúc cảnh quan đặc thù với diện tích khu du lịch sinh thái rộng 67,1 ha, tâm điểm là hồ An Dương rộng 9,3 ha sâu từ 3 đến 8 m (vị trí sâu nhất đạt 18 m) và hồ Triều Dương rộng 4,3 ha. Hai hòn đảo gồm Đảo Cũ rộng 3.000 m2 và Đảo Mới mở rộng thêm 2.531 m2 từ năm 2003 đã tạo nên nơi cư trú an toàn cho hàng nghìn cá thể thuộc các loài quý hiếm như cò trắng, cò ngàng lớn, diệc xám, le hôi, sâm cầm, mòng két và gà lôi nước.

Thứ hai, đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa tại khu vực tạo sinh cảnh tối ưu với nhiệt độ không khí trung bình năm đạt 23,3°C, tổng lượng mưa trung bình 1.561,9 mm/năm và độ ẩm tương đối luôn duy trì trên 80%. Hệ thống kênh dẫn nước dài 800 m nối liền hai hồ cùng 40,17 ha đất nuôi trồng thủy sản cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên vô cùng dồi dào.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế xã Chi Lăng Nam giai đoạn 2005-2010 có bước chuyển biến tích cực: tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 55,275 tỷ đồng (tăng 1,7 lần so với năm 2005), tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ tăng mạnh từ 18,1% lên 39,2%, đạt 21,665 tỷ đồng.

Thứ tư, công tác quản lý du lịch bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng khi bộ máy Ban quản lý chỉ có 11 nhân sự với mức thù lao rất thấp khoảng 250.000 đồng/người/tháng. 100% cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn du lịch sinh thái, thiếu hướng dẫn viên chuyên trách và hoạt động du lịch còn bị khoán thầu phân tán cho tư nhân.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm chất lượng sinh cảnh bắt nguồn từ việc địa phương chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, khiến toàn bộ nước thải sinh hoạt của 5.415 nhân khẩu và nước mặt nông nghiệp xả trực tiếp vào hồ An Dương. Tiếng ồn từ các phương tiện cơ giới cùng thói quen khai thác thủy sản quá mức đã làm xáo trộn tập tính sinh sản của đàn chim di cư.

So với các vùng bảo tồn đất ngập nước quy mô lớn như Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) hay các sân chim miền Tây rộng từ 5 đến 100 ha, Đảo Cò Chi Lăng Nam có diện tích vùng lõi tương đối nhỏ nhưng mật độ cá thể chim trên một mét vuông lại rất cao. Do đó, việc duy trì cơ chế khoán thầu tự phát sẽ trực tiếp đẩy hệ sinh thái này vào ngưỡng quá tải sinh thái.

Dữ liệu khảo sát được tổng hợp trực quan qua các bảng cấu trúc thành phần loài và biểu đồ phân tích tương quan giữa lượng khách du lịch với doanh thu thực tế. Các đồ thị dạng cột kết hợp đường thể hiện rõ sự tăng trưởng đột biến về lượng khách vào mùa lễ hội chùa Nam (thu hút hơn 1.000 lượt khách/ngày vào tháng 2 âm lịch), từ đó làm nổi bật nhu cầu cấp thiết phải phân luồng tuyến tham quan nhằm giảm xung đột sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập phân vùng chức năng bảo vệ nghiêm ngặt: Khoanh vùng bảo vệ tuyệt đối khu vực lõi hai hòn đảo (diện tích 3.020,8 m2) và vùng đệm mặt nước 67,1 ha. Ban hành quy định cấm toàn bộ phương tiện cơ giới tạo tiếng ồn lớn di chuyển gần đảo trong khung giờ chim đi ăn và về tổ (từ 5h00 đến 8h00 và 16h00 đến 18h30). Ủy ban nhân dân huyện Thanh Miện cùng Ủy ban nhân dân xã Chi Lăng Nam chịu trách nhiệm thực thi ngay trong quý I năm 2013.

Thứ hai, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường: Triển khai hệ thống gom và xử lý nước thải sinh hoạt phân tán công suất 150 đến 200 m3/ngày đêm cho hai thôn ven hồ là An Dương và Triều Dương. Mục tiêu cắt giảm 80% tải lượng chất ô nhiễm hữu cơ xả thẳng vào lòng hồ An Dương giai đoạn 2013-2015 dưới sự chủ trì của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương.

Thứ ba, tái cơ cấu bộ máy và nâng cao năng lực quản lý: Chấm dứt cơ chế khoán thầu du lịch ngắn hạn cho tư nhân; chuyển đổi thành mô hình Ban quản lý chuyên trách trực thuộc huyện hoặc xã. Tổ chức 2 khóa tập huấn chuyên sâu về sinh thái học và kỹ năng thuyết minh cho 100% nhân sự (11 cán bộ quản lý và các lái đò địa phương), nâng mức thu nhập cơ sở lên tối thiểu 2.000.000 đồng/người/tháng trong năm 2013 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương chủ trì.

Thứ tư, phát triển chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái có trách nhiệm: Thiết kế 2 tuyến du lịch quan sát chim bằng thuyền chèo tay truyền thống không phát khí thải; tích hợp chương trình giáo dục môi trường tại Trung tâm Giáo dục Môi trường Đảo Cò. Đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ khách tham quan tham gia hoạt động tìm hiểu sinh thái lên trên 60% và kéo dài thời gian lưu trú bình quân của du khách đạt 1,5 ngày vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Dương, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Miện). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để hoạch định chính sách bảo tồn đất ngập nước 67,1 ha, cấp phép kinh doanh du lịch và ban hành quy chế bảo vệ động vật hoang dã di cư.

Nhóm 2: Các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Sinh thái học, Quản lý Môi trường, Du lịch học. Tài liệu cung cấp phương pháp luận thực địa 42 ngày bài bản, bộ dữ liệu giải phẫu thực nghiệm thức ăn và quy trình nghiên cứu khu hệ chim nước tại vùng châu thổ sông Hồng.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch sinh thái. Cung cấp dữ liệu thị trường và mô hình thiết kế tour ngắm chim chuyên đề (bird-watching), hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh doanh dịch vụ thân thiện với môi trường gắn với sinh kế của hơn 5.400 người dân bản địa.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và quỹ môi trường (như Quỹ Môi trường Toàn cầu, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên WWF). Luận văn là hồ sơ cơ sở hữu ích phục vụ thẩm định dự án tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng bền vững tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Hồ An Dương và Đảo Cò Chi Lăng Nam có quy mô diện tích và đặc điểm sinh thái thế nào?
Hồ An Dương có diện tích mặt nước 9,3 ha, sâu trung bình 3 đến 8 m và điểm sâu nhất đạt 18 m. Khu vực sở hữu 2 hòn đảo với tổng diện tích hơn 3.000 m2 nằm giữa vùng lõi sinh thái 67,1 ha, tạo môi trường đất ngập nước nội địa biệt lập lý tưởng cho nhiều loài chim nước cư trú và sinh sản.

Những hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý du lịch tại Đảo Cò ở thời điểm nghiên cứu là gì?
Ban quản lý chỉ gồm 11 nhân sự là cán bộ hưu trí và cựu chiến binh, nhận thù lao thấp khoảng 250.000 đồng/người/tháng. 100% đội ngũ chưa qua đào tạo nghiệp vụ du lịch, thiếu hướng dẫn viên am hiểu sinh thái và hoạt động khai thác du lịch bị chia nhỏ theo hình thức khoán thầu tư nhân.

Điều kiện tự nhiên tại xã Chi Lăng Nam hỗ trợ khu hệ chim nước phát triển ra sao?
Vùng có nền nhiệt độ trung bình 23,3°C, lượng mưa hàng năm đạt 1.561,9 mm và độ ẩm không khí duy trì trên 80%. Mạng lưới kênh thủy lợi dài 800 m cùng 40,17 ha diện tích nuôi thủy sản tạo nguồn cung thức ăn thủy sinh vô cùng trù phú cho các loài cò, vạc.

Phương pháp nào được tác giả sử dụng để xác định thành phần thức ăn của các loài chim?
Tác giả thực hiện giải phẫu và phân tích trực tiếp mẫu thức ăn trong dạ dày của 10 cá thể chim tịch thu từ các vụ săn trộm (gồm 5 cò trắng, 2 cò bợ, 2 le hôi, 1 sâm cầm), kết hợp với kỹ thuật soi phân tích chất thải và thức ăn rơi vãi ngoài thực địa.

Giải pháp cấp bách nào cần ưu tiên triển khai để bảo vệ đàn chim nước tại Đảo Cò?
Địa phương cần thay thế hoàn toàn thuyền gắn động cơ bằng thuyền chèo tay trên 2 tuyến đường thủy ngắm chim, duy trì cự ly quan sát tối thiểu 30 m và cấm triệt để hoạt động đánh bắt thủy sản cơ giới trong lòng hồ An Dương nhằm giữ yên tĩnh cho đàn chim làm tổ.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định giá trị sinh thái nổi bật của vùng đất ngập nước 67,1 ha và lòng hồ An Dương rộng 9,3 ha trong mạng lưới bảo tồn đa dạng sinh học Đồng bằng sông Hồng.
  • Đề tài nhận diện chính xác 4 nhóm nguyên nhân gây suy giảm sinh cảnh, nổi bật là hạ tầng nước thải thiếu đồng bộ và mô hình quản lý khoán thầu tư nhân còn nhiều bất cập.
  • Công trình đóng góp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng phong phú thông qua 11 đợt điều tra thực địa trong 42 ngày và kết quả giải phẫu chi tiết 10 mẫu dạ dày chim hoang dã.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành toàn diện với lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2013 đến năm 2015, tập trung vào phân vùng chức năng, xử lý nước thải và đào tạo nhân lực.
  • Chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý chuyên ngành cần sớm ứng dụng các khuyến nghị của luận văn vào quy hoạch thực tế nhằm bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên chim nước quý giá.