Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Minh Thu thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2013), thuộc chuyên ngành Kinh tế học (Thống kê kinh tế - xã hội), mã số 62.01, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Ngọc Kiểm và TS. Bùi Đức Triệu.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, phát triển bền vững là đòi hỏi khách quan kết hợp hài hòa giữa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Nhằm giám sát tiến trình phát triển, Việt Nam đã ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê với 30 chỉ tiêu theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, hệ thống chỉ tiêu này có quy mô lớn, các chỉ tiêu vận động theo chiều hướng và mức độ khác nhau, gây khó khăn cho việc theo dõi xu thế chung nếu chỉ dựa vào các dãy số thời gian đơn lẻ. Các nghiên cứu trước đó đã tiếp cận phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp nhưng chưa đưa ra được công thức cụ thể, đồng bộ và có tính khả thi để áp dụng vào thực tế số liệu của Việt Nam. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết câu hỏi quản lý "Thực tế phát triển bền vững ở Việt Nam như thế nào?" và câu hỏi nghiên cứu "Sử dụng phương pháp nào để đánh giá thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam?".

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là xây dựng phương pháp tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững có tính khả thi để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ các nội dung lý luận về phát triển bền vững và hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững.
  2. Đề xuất phương pháp tính các chỉ số riêng biệt, chỉ số thành phần và chỉ số tổng hợp đánh giá phát triển bền vững trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu thống kê sẵn có tại Việt Nam.
  3. Tính toán thử nghiệm chỉ số tổng hợp phát triển bền vững của Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2010.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển bền vững, tập trung vào quy trình lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê, xác định nguồn số liệu, xây dựng công thức tính toán và phân tích thực trạng.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Phạm vi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
  • Thời gian: Giai đoạn 10 năm từ 2001 đến 2010, tương ứng với khung thời gian của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm của Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về phát triển bền vững cùng các hệ thống chỉ tiêu thống kê trên thế giới và tại Việt Nam:

Trên phạm vi quốc tế:

  • Về khung lý thuyết và nội dung: Khái niệm phát triển bền vững được đề cập lần đầu bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1980), định hình chính thức trong Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987), và tái khẳng định qua Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio de Janeiro (1992), Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg (2002), Diễn đàn Thanh niên ASEM (2004) và Hội nghị Rio+20 (2012). Về mô hình, luận án phân tích mô hình ba cực của Jacobs và Sadler, được Mohan Munasingle (chuyên gia Ngân hàng Thế giới) sơ đồ hóa thành ba trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường.
  • Về hệ thống chỉ tiêu: Hội đồng Phát triển Bền vững Liên hợp quốc (UNCSD) xây dựng bộ 134 chỉ tiêu năm 1995 (Sách xanh 1995-1996, thử nghiệm tại 22 quốc gia giai đoạn 1996-1999), rút gọn thành 58 chỉ tiêu thuộc 15 chủ đề năm 2001 và tái bản sổ tay hướng dẫn năm 2006/2007. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra Chỉ số Phát triển Con người (HDI) và Chỉ số Quyền tự do Con người (HFI, do Charles Humana nghiên cứu năm 1991 gồm 40 tiêu chí). Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) xây dựng thước đo kinh tế xanh. Tổ chức OECD công bố Chỉ số Cuộc sống Tốt đẹp hơn (BLI) và bộ chỉ tiêu Tăng trưởng Xanh. Đại học Yale, Đại học Columbia và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) phát triển Chỉ số Bền vững Môi trường (ESI 2005) và Chỉ số Hiệu quả Hoạt động Môi trường (EPI 2008). Ngoài ra, các tổ chức nghiên cứu đưa ra Chỉ số Dấu chân Sinh thái (EF), Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh (HPI) và Chỉ số Phúc lợi Kinh tế Bền vững (ISEW).
  • Kinh nghiệm quốc gia: Luận án phân tích hệ thống chỉ tiêu của Indonesia (21 chỉ tiêu), Thái Lan (16 chỉ tiêu), Thụy Điển (30 chỉ tiêu), Anh (15 chỉ tiêu), Hoa Kỳ (32 chỉ tiêu) và Trung Quốc (80 chỉ tiêu).

Tại Việt Nam:

  • Bộ chỉ tiêu thử nghiệm của Cục Môi trường (1998) gồm 80 chỉ tiêu (3 kinh tế, 17 xã hội, 44 môi trường, 16 quản lý môi trường).
  • Hệ thống chỉ tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 gồm 21 chỉ tiêu (chỉ có 2 chỉ tiêu môi trường về rừng).
  • Bộ chỉ tiêu trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo gồm 33 chỉ tiêu (tập trung vào xã hội, có 3 chỉ tiêu kinh tế và 2 chỉ tiêu môi trường).
  • Bộ chỉ tiêu theo Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam (Agenda 21) gồm 69 chỉ tiêu.
  • Đề tài thuộc Dự án VIE/01/021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất 43 chỉ tiêu (12 kinh tế, 18 xã hội, 11 tài nguyên - môi trường, 2 thể chế).
  • Kiến nghị của Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia (2011) với 29 chỉ tiêu, lần đầu đề xuất 3 chỉ tiêu tổng hợp: GDP xanh, HDI, ESI.
  • Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống 30 chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định và giải quyết: Các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ dừng lại ở việc lập danh mục chỉ tiêu đơn lẻ hoặc đánh giá riêng rẽ từng ngành, thiếu một phương pháp luận toán học và thống kê nhất quán để tổng hợp toàn diện hệ thống 30 chỉ tiêu thành một chỉ số tổng hợp duy nhất, có thể phản ánh biến động phát triển bền vững theo chuỗi thời gian tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Lý thuyết về phát triển và phát triển bền vững: Luận án tiếp cận khái niệm phát triển qua các thời kỳ, từ quan điểm gia tăng của cải thuần túy trước Thế chiến II, mở rộng cơ cấu kinh tế thập niên 1970 - 1980, đến quan niệm cực tiểu hóa đói nghèo và tiếp cận tự do con người của Amartya Sen (thập niên 1990). Khung phân tích dựa trên mô hình ba cực của Mohan Munasingle kết hợp ba trụ cột: Kinh tế (tăng trưởng, hiệu quả, ổn định), Xã hội (công bằng, giảm nghèo, thể chế, việc làm), Môi trường (bảo tồn tài nguyên, đa dạng sinh học, ngăn ngừa ô nhiễm). Luận án lập luận loại bỏ yếu tố thể chế ra khỏi nhóm chỉ tiêu độc lập vì thể chế là nhân tố tác động bên ngoài, kết quả của thể chế đã được thể hiện trực tiếp qua số liệu kinh tế, xã hội và môi trường.

Cơ sở phương pháp xây dựng chỉ số:

  • Luận án kế thừa lý thuyết chuẩn hóa dữ liệu min-max và phương pháp tính chỉ số tổng hợp từ các công trình:
    1. Phương pháp tính HDI của UNDP: Chuyển từ bình quân cộng sang bình quân nhân từ năm 2010 với công thức chuẩn hóa tuyến tính $I_i = \frac{X_i - X_{i\min}}{X_{i\max} - X_{i\min}}$ hoặc hàm logarit tự nhiên $I_i = \frac{\ln(X_i) - \ln(X_{i\min})}{\ln(X_{i\max}) - \ln(X_{i\min})}$.
    2. Phương pháp tính ESI/EPI của Đại học Yale, Columbia và WEF: Quy trình tính toán trung bình không trọng số từ 76 chỉ tiêu qua 21 nhóm chỉ thị tích hợp để ra điểm tổng hợp.
    3. Phương pháp của PGS.TS. Tăng Văn Khiên: Ứng dụng hàm tuyến tính và hàm logarit thập phân $\lg(X)$ trong tính toán chỉ số tổng hợp kinh tế kèm quyền số chuyên gia.
    4. Phương pháp của PGS.TS. Phạm Đại Đồng: Ứng dụng bình quân nhân trong đánh giá chất lượng dân số.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phân loại chỉ tiêu: Tách hệ thống chỉ tiêu thành hai nhóm: chỉ tiêu thuận (giá trị tăng phản ánh chiều hướng tốt) và chỉ tiêu nghịch (giá trị tăng phản ánh chiều hướng xấu).
  • Phương pháp chuẩn hóa chỉ số riêng biệt: Xác định ngưỡng cận trên ($X_{\max}$) và cận dưới ($X_{\min}$) cho từng chỉ tiêu theo các công thức chuẩn hóa tương ứng để đưa giá trị về khoảng $[0, 1]$.
  • Phương pháp tổng hợp chỉ số: Sử dụng công thức bình quân nhân giản đơn và bình quân nhân gia quyền (xác định quyền số cho từng chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu).
  • Phương pháp phân tích tư liệu: Thu thập và tổng hợp văn bản pháp quy, báo cáo chiến lược.
  • Phương pháp bảng và đồ thị thống kê: Phân tích dãy số thời gian, so sánh xu thế biến động giai đoạn 2001 – 2010.

Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê chính thức của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 do Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường thu thập và công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về phát triển bền vững

Chương này trình bày cơ sở lý luận về phát triển, phát triển bền vững và hệ thống hóa các bộ chỉ tiêu thống kê trong nước và quốc tế. Trọng tâm của chương là phân tích Hệ thống chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Nhóm chỉ tiêu Số lượng Các chỉ tiêu cụ thể trong hệ thống Cơ quan chịu trách nhiệm chính
I. Chỉ tiêu tổng hợp 03 GDP xanh; Chỉ số phát triển con người (HDI); Chỉ số bền vững môi trường (ESI) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê)
II. Chỉ tiêu kinh tế 10 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR); Năng suất lao động xã hội; Đóng góp của TFP vào tăng trưởng; Mức giảm tiêu hao năng lượng trên 1 đơn vị GDP; Tỷ lệ năng lượng tái tạo; Chỉ số giá tiêu dùng (CPI); Cán cân vãng lai; Bội chi ngân sách nhà nước/GDP; Nợ của Chính phủ/GDP; Nợ nước ngoài/GDP Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính
III. Chỉ tiêu xã hội 10 Tỷ lệ nghèo; Tỷ lệ thất nghiệp; Tỷ lệ lao động qua đào tạo; Hệ số Gini; Tỷ số giới tính khi sinh; Số sinh viên/10.000 dân; Số thuê bao Internet/100 dân; Tỷ lệ dân số hưởng BHXH, BHYT, BHTN; Số người chết do tai nạn giao thông/100.000 dân/năm; Tỷ lệ xã đạt tiêu chí nông thôn mới Tổng cục Thống kê, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và PTNT
IV. Chỉ tiêu tài nguyên và môi trường 07 Tỷ lệ che phủ rừng; Tỷ lệ đất được bảo vệ duy trì đa dạng sinh học; Diện tích đất bị thoái hóa; Mức giảm lượng nước ngầm và nước mặt; Tỷ lệ ngày có nồng độ chất độc hại không khí vượt tiêu chuẩn; Tỷ lệ đô thị, KCN, KCX, CCN xử lý chất thải rắn và nước thải đạt chuẩn; Tỷ lệ chất thải rắn thu gom đã xử lý đạt chuẩn Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng

Luận án chỉ ra 8 hạn chế của hệ thống chỉ tiêu theo Quyết định 432/QĐ-TTg:

  1. Quy mô 30 chỉ tiêu còn cồng kềnh, tốn kém chi phí thu thập.
  2. Thời gian áp dụng chưa phù hợp khi các chỉ tiêu tổng hợp (GDP xanh, ESI) có lộ trình đến năm 2015 mới có số liệu, làm mất tính so sánh trong chuỗi 2011 – 2020.
  3. Lộ trình thực hiện chưa đồng bộ, một số chỉ tiêu xử lý chất thải chưa có chế độ báo cáo thống kê vào cuối năm 2012.
  4. Phương pháp tính toán ở một số chỉ tiêu phức tạp (ICOR, TFP) chưa có sự thống nhất trên phạm vi quốc gia.
  5. Hiện tượng trùng lặp nội dung giữa chỉ số tổng hợp môi trường và các chỉ tiêu thành phần môi trường (như độ che phủ rừng, đất bảo vệ).
  6. Gốc so sánh của chỉ tiêu CPI theo tháng 12 năm trước chưa phản ánh chuẩn xác biến động giá bình quân năm trong phân tích phát triển bền vững.
  7. Chỉ tiêu ICOR không phản ánh chính xác hiệu quả khi tăng trưởng GDP biến động mạnh hoặc tiến gần tới 0.
  8. Tên gọi một số chỉ tiêu nợ chưa phản ánh đúng bản chất chỉ tiêu tương đối (tỷ lệ phần trăm so với GDP).

Chương 2: Xây dựng phương pháp tính chỉ số tổng hợp đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam

Chương 2 tập trung thiết lập quy trình toán học và thống kê nhằm tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững:

  1. Phân loại chỉ tiêu: Chia danh mục chỉ tiêu thành hai nhóm: nhóm chỉ tiêu thuận (càng lớn càng bền vững) và nhóm chỉ tiêu nghịch (càng nhỏ càng bền vững).
  2. Xác định giới hạn min - max: Xác định giá trị cận trên ($X_{i\max}$) và cận dưới ($X_{i\min}$) cho từng chỉ tiêu căn cứ vào mục tiêu chiến lược quốc gia hoặc cực trị của dãy số liệu.
  3. Công thức tính chỉ số riêng biệt ($I_i$):
    • Đối với chỉ tiêu thuận: $$I_i = \frac{X_i - X_{i\min}}{X_{i\max} - X_{i\min}}$$
    • Đối với chỉ tiêu nghịch: $$I_i = \frac{X_{i\max} - X_i}{X_{i\max} - X_{i\min}}$$
    • Đối với các chỉ tiêu có quy mô mở rộng không giới hạn, áp dụng chuẩn hóa logarit: $$I_i = \frac{\ln(X_i) - \ln(X_{i\min})}{\ln(X_{i\max}) - \ln(X_{i\min})}$$
  4. Xác định quyền số: Thiết lập hệ thống trọng số $w_i$ cho từng chỉ tiêu và từng nhóm chỉ tiêu kinh tế, xã hội, tài nguyên - môi trường (đảm bảo $\sum w_i = 1$).
  5. Công thức tính chỉ số thành phần ($I_j$):
    • Theo bình quân nhân giản đơn: $$I_j = \sqrt[n]{\prod_{i=1}^n I_i}$$
    • Theo bình quân nhân gia quyền: $$I_j = \prod_{i=1}^n I_i^{w_i}$$
  6. Công thức tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững ($I_{PTBV}$):
    • Tính trực tiếp từ toàn bộ các chỉ số riêng biệt: $$I_{PTBV} = \prod_{i=1}^m I_i^{w_i}$$
    • Tính gián tiếp từ 3 chỉ số thành phần (Kinh tế $I_{KT}$, Xã hội $I_{XH}$, Môi trường $I_{MT}$): $$I_{PTBV} = \sqrt[3]{I_{KT} \times I_{XH} \times I_{MT}} \quad \text{hoặc} \quad I_{PTBV} = I_{KT}^{\alpha} \times I_{XH}^{\beta} \times I_{MT}^{\gamma}$$

Luận án khẳng định việc áp dụng công thức bình quân nhân giúp ngăn ngừa hiện tượng bù trừ bất hợp lý giữa các chỉ số thành phần (khi một lĩnh vực tăng cao che lấp sự suy thoái nghiêm trọng của lĩnh vực khác), qua đó phản ánh đúng tính chất cân bằng của phát triển bền vững.

Chương 3: Tính toán thử nghiệm và phân tích biến động chỉ số phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010

Chương 3 vận dụng quy trình lý thuyết đã xây dựng vào tính toán thực nghiệm trên chuỗi dữ liệu 10 năm của Việt Nam:

  • Đánh giá thực trạng số liệu thống kê: Phân tích điều kiện sẵn có, độ trễ và tính đồng bộ của số liệu các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và tài nguyên - môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010.
  • Tính toán các chỉ số riêng biệt và chỉ số thành phần: Tổng hợp bảng số liệu gốc, xác định các giá trị cực trị $X_{\min}$, $X_{\max}$ và tính toán các chỉ số riêng biệt hàng năm cho từng chỉ tiêu.
  • So sánh các phương pháp tính chỉ số tổng hợp: Luận án tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 theo ba cách tiếp cận: (1) Bình quân nhân giản đơn, (2) Bình quân nhân gia quyền tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt, và (3) Bình quân nhân gia quyền tính gián tiếp từ ba chỉ số thành phần.

Kết quả phân tích xu thế biến động:

  • Giai đoạn 2001 – 2010, chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam duy trì xu hướng tăng trưởng chung, phản ánh sự cải thiện của các mặt kinh tế và xã hội (thu nhập, giảm nghèo, giáo dục, viễn thông).
  • Tuy nhiên, chỉ số thành phần môi trường có tốc độ cải thiện chậm và bộc lộ nhiều điểm suy giảm cục bộ, tạo ra khoảng cách so với tăng trưởng kinh tế.
  • Trong giai đoạn 2008 – 2009, biến động của các chỉ số riêng biệt trong nhóm kinh tế (lạm phát CPI tăng cao, cán cân vãng lai thâm hụt, hiệu quả vốn suy giảm) dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm chậm đà tăng của chỉ số tổng hợp phát triển bền vững.

Trên cơ sở kết quả tính toán, tác giả đề xuất mô hình báo cáo thống kê theo các cấp và các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện công tác thu thập, xử lý dữ liệu phát triển bền vững tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và chuẩn hóa cơ sở lý luận về chỉ số tổng hợp trong đánh giá phát triển bền vững phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
  • Đề xuất hoàn chỉnh quy trình phương pháp luận tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững: từ phân loại chỉ tiêu thuận/nghịch, chuẩn hóa min-max (tuyến tính và phi tuyến logarit), xác định trọng số đến công thức tổng hợp dạng bình quân nhân (trực tiếp và gián tiếp), khắc phục nhược điểm bù trừ sai lệch của công thức bình quân cộng.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Thực hiện tính toán thử nghiệm thành công chuỗi chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, lượng hóa được xu thế biến động tổng hợp của quốc gia trong 10 năm.
  • Cung cấp công cụ định lượng thực nghiệm cho các cơ quan quản lý nhà nước để theo dõi, đánh giá và so sánh mức độ cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê theo hướng tinh gọn, loại bỏ các chỉ tiêu trùng lặp và bổ sung các chỉ tiêu y tế, sức khỏe còn thiếu.
  • Thống nhất phương pháp tính toán và chế độ báo cáo thống kê định kỳ giữa các bộ, ngành (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công an).
  • Thiết lập mô hình báo cáo thống kê phân cấp từ trung ương đến địa phương để phục vụ công tác giám sát chiến lược phát triển bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phụ thuộc vào mức độ sẵn có và độ tin cậy của hệ thống số liệu thống kê giai đoạn 2001 – 2010; một số chỉ tiêu về tài nguyên - môi trường và chất thải chưa có chuỗi số liệu thường niên đầy đủ và đồng nhất.
  • Việc xác định các ngưỡng cận trên ($X_{\max}$), cận dưới ($X_{\min}$) và hệ thống quyền số gia quyền vẫn mang tính kết hợp giữa phương pháp thống kê và đánh giá chuyên gia.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả xác định:

  1. Mở rộng xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững cấp tỉnh/thành phố, từ đó tính toán và so sánh trình độ phát triển bền vững giữa các địa phương trong cả nước.
  2. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp tính chỉ số tổng hợp để áp dụng đánh giá thực trạng phát triển bền vững của Việt Nam trong giai đoạn chiến lược 2011 – 2020.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng và lĩnh vực chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Giúp Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), Hội đồng Quốc gia về Phát triển Bền vững có thêm cơ sở phương pháp luận để hoàn thiện quy trình tính toán chỉ số tổng hợp và chuẩn hóa hệ thống báo cáo thống kê quốc gia.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu trong các chuyên ngành Thống kê kinh tế - xã hội, Kinh tế phát triển, Quản lý tài nguyên và môi trường.
  • Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Khung phương pháp chuẩn hóa dữ liệu min-max và công thức bình quân nhân tại Chương 2; Đánh giá phản biện 8 điểm hạn chế của hệ thống 30 chỉ tiêu theo Quyết định 432/QĐ-TTg tại Chương 1; Bộ số liệu chuỗi thời gian và kết quả tính thử nghiệm giai đoạn 2001 – 2010 tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng mô hình lý thuyết nào làm cơ sở phân chia các trụ cột phát triển bền vững? Luận án sử dụng mô hình ba cực của Jacobs và Sadler, được Mohan Munasingle (chuyên gia Ngân hàng Thế giới) sơ đồ hóa, bao gồm ba trụ cột liên kết chặt chẽ: Kinh tế (tăng trưởng, hiệu quả, ổn định), Xã hội (công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn văn hóa, việc làm) và Môi trường (bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, ngăn chặn ô nhiễm).

2. Vì sao luận án không đưa nhóm chỉ tiêu thể chế thành một trụ cột độc lập trong công thức tính chỉ số tổng hợp? Tác giả lập luận rằng thể chế là nhân tố điều kiện tác động bên ngoài (thông qua luật pháp, chính sách, quản lý nhà nước). Tác động của thể chế không cần đo lường bằng các chỉ tiêu riêng biệt mà sẽ được biểu hiện trực tiếp thông qua các kết quả cụ thể trên ba mặt kinh tế, xã hội và tài nguyên - môi trường trong hệ thống chỉ tiêu thống kê.

3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê giám sát phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 theo Quyết định 432/QĐ-TTg gồm những nhóm nào? Hệ thống gồm 30 chỉ tiêu được chia thành 4 nhóm:

  • Nhóm I: Các chỉ tiêu tổng hợp (3 chỉ tiêu: GDP xanh, HDI, ESI).
  • Nhóm II: Các chỉ tiêu kinh tế (10 chỉ tiêu).
  • Nhóm III: Các chỉ tiêu xã hội (10 chỉ tiêu).
  • Nhóm IV: Các chỉ tiêu tài nguyên và môi trường (7 chỉ tiêu).

4. Vì sao công thức bình quân nhân được lựa chọn thay thế cho bình quân cộng trong tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững? Công thức bình quân cộng có nhược điểm cho phép sự bù trừ quá mức giữa các chỉ số (một chỉ số kinh tế tăng rất cao có thể che lấp sự suy giảm nghiêm trọng của chỉ số môi trường, khiến chỉ số tổng hợp vẫn ở mức cao). Công thức bình quân nhân đòi hỏi sự phát triển đồng đều ở cả ba lĩnh vực, phản ánh đúng bản chất hài hòa, cân đối của phát triển bền vững.

5. Phương pháp chuẩn hóa dữ liệu min-max được áp dụng khác nhau như thế nào giữa chỉ tiêu thuận và chỉ tiêu nghịch?

  • Với chỉ tiêu thuận (giá trị càng lớn càng phản ánh chiều hướng tốt): $$I_i = \frac{X_i - X_{i\min}}{X_{i\max} - X_{i\min}}$$
  • Với chỉ tiêu nghịch (giá trị càng lớn càng phản ánh chiều hướng xấu, như tỷ lệ nghèo, thất nghiệp, lạm phát): $$I_i = \frac{X_{i\max} - X_i}{X_{i\max} - X_{i\min}}$$

Kết luận

Luận án "Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Minh Thu đã xây dựng thành công khung phương pháp luận thống kê hoàn chỉnh để tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững từ các chỉ số riêng biệt và chỉ số thành phần. Công trình đã vận dụng thử nghiệm phương pháp đề xuất trên chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2001 – 2010 của Việt Nam, lượng hóa được xu thế vận động của các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và công cụ thực chứng có giá trị cho công tác quản lý thống kê và hoạch định chính sách phát triển bền vững cấp quốc gia.