CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TÌNH HÌNH VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Trên thế giới Ngày nay B.cereus được coi là một trong những căn nguyên quan trọng gây ngộ độc thực phẩm mặc dù không phổ biến như Salmonella hoặc các loài khác gây bênh qua thực phẩm [27]. Tuy nhiên số lượng chính xác về các trường hợp ngộ độc thức ăn do B.cereus không được ghi nhận một cách đầy đủ. Giữa năm 1972 và năm 1983 các trường hợp ngộ độc thức ăn do B.cereus chiếm 2% tổng số các dịch bệnh truyền qua thực phẩm.
Năm 1980: 9 ổ dịch đã được báo cáo với trung tâm kiểm soát dịch bệnh, bao gồm các thực phẩm như thịt bò, gà tây …. Năm 1981: 8 ổ dịch đã được báo cáo chủ yếu liên quan đến gạo, còn nhiều vụ dịch khác không được báo cáo hoặc bị chẩn đoán sai vì các triệu chứng tương tự nhiễm độc Staphylococcus aureus (B.cereus loại gây nôn) hoặc C.cereus loại tiêu chảy) [24].2 Ở Việt Nam Việc ra đời của cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm đã đánh dấu một bước quan trọng trong công tác quản lý và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong đó bao gồm cả các bệnh lây truyền qua đường thực phẩm. Ngộ độc thực phẩm là một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu tại Việt Nam, theo ước tính của bộ Y tế, chỉ riêng năm 2001 đã có 4,2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm. Ở nước ta hiện nay theo báo cáo của bộ y tế, chỉ có khoảng 38 trung tâm y tế có khả năng kiểm nghiệm được loài vi khuẩn này, khoảng 60% các tỉnh thành có năng lực kiểm nghiệm [8].
Từ năm 2001-2006, cả nước ghi nhận được hơn 5 5600000 ca tiêu chảy do ngộ độc thực phẩm, trong đó có 84 ca tử vong. Riêng trong 9 tháng đầu năm ngoái ghi nhận được hơn 750.000 ca tiêu chảy trong đó có 12 ca tử vong. Thực tế theo các chuyên gia phải gấp ít nhất 10 lần con số được công bố. Đặc biệt trong những năm vừa qua đã xảy ra rất nhiều vụ dịch ngộ độc thực phẩm do Salmonella, Staphylococcus aureus, phần lớn xảy ra tại các bếp ăn tập thể của các khu công nghiệp.
… Tuy nhiên, chúng ta chưa có thống kê rõ ràng về căn nguyên gây ra các vụ ngộ độc thực phẩm. Điều này phản ánh sự đầu tư chưa đúng mức về nguồn lực trong công tác thanh tra giám sát VSATTP và đặc biệt vào các phòng xét nghiệm thực phẩm là một trong những hạn chế ảnh hưởng đến công tác bảo đảm VSATTP. Mặc dù đã xảy ra rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm mà căn nguyên là do B.cereus nhưng chúng ta chưa có một công bố nào về tình hình ngộ độc thực phẩm do B.cereus gây ra tại Việt Nam và chưa có nhiều nghiên cứu nhằm xác định thực trạng ô nhiễm của vi khuẩn này trong thực phẩm. Các cuộc giám sát tình trạng ô nhiễm thực phẩm trong những năm vừa qua chủ yếu tập trung vào việc đánh giá thực trạng ô nhiễm của thực phẩm với E.coli, staphylococus, vibrio… Việt Nam là quốc gia có khí hậu nóng ẩm điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho B.cereus phát triển trong thực phẩm và giải phóng ra độc tố, ý thức của người dân chưa đầy đủ và đặc biệt là việc sử dụng rất nhiều các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc từ gạo làm cho tỷ lệ ngộ độc thực phẩm do B.cereus là không nhỏ ở Việt Nam 1.2 VÀI NÉT VỀ BACILLUS CEREUS 1.1 Các nghiên cứu về B.cereus Trên thế giới Các vụ ngộ độc thực phẩm do B.cereus có thể gặp ở các nước phát triển và đang phát triển.
Thức ăn nhiễm độc B.cereus là một khái niệm phổ biến khắp thế giới. Quá trình nấu chín không tiêu diệt được vi khuẩn này vì B. Cereus có khả năng tạo thành dạng bào tử để tự vệ, do đó nếu ăn ngay sau khi 6 nấu thì bào tử không có cơ hội phục hồi, dưới các điều kiện bảo quản không đúng sau khi nấu các bào tử nảy mầm, tạo thành các tế bào sinh dưỡng và được nhân lên. Đặc biệt là cơm nhiễm B.cereus không hề có biểu hiện gì khác thường về mùi vị, màu sắc nên không thể nhận biết, do vậy nhiều trường hợp ngộ độc do cơm nguội chúng ta lại lại nghĩ đến nguyên nhân ngộ độc do các loại thức ăn khác.
Cereus có khả năng sản sinh rất nhanh có thể phát triển trên nhiều loại thực phẩm khác nhau như: rau sống, giá đỗ, bơ sữa. Đây là mối lo ngại về vệ sinh, an toàn thực phẩm cho nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy việc nghiên cứu về dịch tễ, cơ chế bệnh sinh, các độc tố của B.cereus ngày càng được chú trọng.cereus lần đầu tiên được Frankland phân lập và mô tả nào năm 1887. Tuy nhiên, cho đến tận năm 1950, vi khuẩn này mới được Hauge và cộng sự chứng minh là căn nguyên gây ra các vụ dịch ngộ độc thức ăn.
Các vụ dịch ngộ độc thức ăn do B.cereus với đặc điểm là nôn và tiêu chảy [18].cereus là nguyên nhân gây ngộ độc, Hauge đã phát triển mẫu phân lập đến nồng độ khoảng 4x106/ml và uống 200ml cocktail. Sau 13h, ông cảm thấy đau bụng và đi tiêu ra nhiều nước, triệu chứng này dai dẳng khoảng 8h. Hơn 20 năm sau, một triệu chứng gây ngộ độc thực phẩm khác do chủng B. cereus gây ra lại xuất hiện ở các công nhân người Anh.
Triệu chứng này nặng hơn triệu chứng nôn mửa và kéo dài một thời gian ngắn (chưa đến 5h), điều này cho thấy rằng đây là một sự nhiễm độc Việt Nam: Ở nước ta hiện nay theo báo cáo từ bộ y tế, chỉ có khoảng 38 trung tâm y tế có khả năng kiểm nghiệm được loài vi khuẩn này, khoảng 60% các tỉnh thành có năng lực kiểm nghiệm. Tuy nhiên hiện nay phương pháp xét nghiệm vẫn dựa trên phương pháp đếm tổng số khuẩn lạc trên môi trường thạch dinh dưỡng kết hợp với các xét nghiệm hóa sinh khác. Phương pháp này có nhược 7 điểm là thời gian lâu, có thể mất nhiều ngày hoặc vài tuần, độ chính xác không cao và không có khả năng cơ động Kỹ thuật ELISA có thể sử dụng để phát hiện độc tố này trong thực phẩm, tuy nhiên qui trình này tương đồi phức tạp và phải có những cán bộ kinh nghiệm được đào tạo bài bản mới có thể thực hiện được, bởi vậy kỹ thuật này chưa được áp dụng ở Việt Nam [13] Tại Việt Nam, mới chỉ có Trần Linh Thước và CS ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong xét nghiệm một số vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm như: E.coli 0157 :H7, Salmonella spp, Shigella spp, V.aureus, Listeria monocytocytes và Campylobacter spp. Trong nghiên cứu này, các tác giả chọn gen gyr B để phát hiện B.cereus trong thực phẩm cho kết quả phát hiện tương đương với kết quả bằng phương pháp nuôi cấy [8].
Tuy nhiên, kỹ thuật trong nghiên cứu này chỉ phát hiện được sự tồn tại của B.cereus trong thực phẩm mà không thể phát hiện được các chủng vi khuẩn này liệu có mang độc tố hay không.2 Một số hình ảnh của Bacillus cereus 8 Bacillus cereus dưới kính hiển vi Khuẩn lạc Bacillus cereus trên môi trường thạch máu cừu 1.3 Đặc tính sinh học của B.cereus là trực khuẩn kỵ khí, gram dương, rộng khoảng 1 μm, dài khoảng 3-4μm, có khả năng sinh nha bào, bào tử dạng hình ovan có thể sống sót khi xử lý nhiệt và hóa chất [11], chúng có khả năng thích nghi với một loạt các điều kiện môi trường, nó được phân phối rộng rãi trong tự nhiên như trong bụi, đất, ở các loài động vật khác nhau, thường thấy trong những hạt 9 ngũ cốc, gạo, bột hoặc thực phẩm khô lẫn lộn chung với nhau như gạo, mì, khoai, ngô.do bị nhiễm từ đất trong quá trình trồng trọt và thu hoạch [32] Đặc điểm nuôi cấy: • Là loại vi khuẩn dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy vi khuẩn thông thường • Tăng trưởng được trong khoảng nhiệt độ 5-500C, tối ưu ở 35-400C • pH 4,5-9,3, thích hợp ở pH 7-7,2 • Trên môi trường LB lỏng: đục • Trên môi trường thạch MYP (Mannitol Egg Yolk Polymixin) và môi trường thạch Mossel (cereus selective agar) vi khuẩn B. cereus mọc tạo thành dạng khuẩn lạc có màu hồng phấn chung quanh có vòng sáng. Tính chất sinh hóa: • Trên môi trường đường: lên men glucose trong điều kiện hiếu khí và kị khí, • Khử nitrat thành nitrit. • Phân giải Tyroxin • Catalase (+), Citrate (+) Theo phân loại quốc tế B.cereus : • Ngành (phylum) firmicutes • Thuộc giới bacteria • Lớp (class) bacilli • Bộ (order) Bacillales • Họ (family) Bacillaceaem • Chi (genius) Bacillus • Loài (species) Cereus Độc tố của B.cereus gây bệnh bằng sinh độc tố, B.cereus gây ngộ độc thức ăn sinh ra 6 loại độc tố bao gồm [18].: 1 0 Độc tố ly giải hồng cầu (Hbl), có trong khoảng 60% số chủng B.cereus và nó được xem là yếu tố gây độc cơ bản của B.cereus nhưng cơ chế hoạt động nội độc tố của nó vẫn chưa được biết rõ.
Độc tố gây ly giải hồng cầu có 3 thành phần protein B, L1, L2, 3 protein đó lần lượt được mã hóa bởi bởi 3 gen nheA, nheB, và nheC. Độc tố ruột không ly giải hồng cầu (Nhe) là một độc tố có bản chất là protein 3 thành phần do hầu hết các chủng B.cereus sinh ra, với các thành phần tương tự Hbl ; Độc tố không gây ly giải hồng cầu BL có protein liên kết B mã hóa bởi gen hblA, các protein ly giải L1 và L2 mã hóa bởi gen hblC và hblD. Tất cả các hoạt động của Hbl đều cần cả 3 loại protein trên. Độc tố T(BceT): là độc tố có hoạt động sinh học tương tự như Nhe và có bản chất protein 1 thành phần.
Độc tố FM (EntFM) là độc tố có bản chất protein 1 thành phần với vai trò và đặc tính chưa được biết đến. Nội độc tố K (CytK), loại độc tố này giống độc tố beta của vi khuẩn Clostridium perfring. CytK gần đây đã được phát hiện trong khoảng 85% số chủng B. Độc tố gây nôn (Emetictoxin).