Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ PHÁP LÝ 1. LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ VÀ THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ và phân loại dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Cho đến nay, thế giới chưa có một khái niệm chung về dịch vụ.
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm "dịch vụ". Dịch vụ được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Dựa trên tính hữu hình của hàng hóa và tính vô hình của dịch vụ, có nhiều ý kiến xem xét dịch vụ là đối tượng của các quan hệ xã hội mà pháp luật cần điều chỉnh trong sự tương quan so sánh với hàng hóa. Theo đó, dịch vụ được định nghĩa là "bất cứ thứ gì mà khi bán nó không thể rơi vào chân bạn được".
Theo các tổ chức kinh tế quốc tế lớn, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO), "Dịch vụ là các sản phẩm đầu ra được tạo ra theo đặt hàng và chúng không thể được mua bán, tách biệt khỏi quá trình tạo ra chúng; các quyền sở hữu không thể được thiết lập trên các dịch vụ, và vào thời điểm quá trình tạo ra chúng được hoàn thành, dịch vụ được cung cấp ngay cho khách hàng tiêu dùng". Cũng theo các tổ chức trên, có một số ngoại lệ so với các nội dung trong định nghĩa về dịch vụ nêu trên. Đó là sự tồn tại của một số ngành được phân loại chung là các ngành dịch vụ mà một số sản phẩm đầu ra của các ngành này có các tính chất tương tự hàng hóa, như các ngành lưu trữ kho bãi, thông tin và truyền tin, tư vấn và giải trí theo nghĩa rộng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Việt Nam, các học giả và nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một số định nghĩa về dịch vụ.
Trong bài viết "Thương mại dịch vụ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", GS. Hồ Văn Vĩnh - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tập hợp trong cuốn "Thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO" có đưa ra định nghĩa: "Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể" [49, tr. 557] Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp và đưa ra các đặc trưng cơ bản của dịch vụ như sau: Thứ nhất, dịch vụ là các sản phẩm vô hình. Điểm đặc trưng này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập giao dịch cả dân sự và kinh tế khi dịch vụ là đối tượng mua - bán.
Vì là vô hình nên sẽ không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ, không có quyền định đoạt dịch vụ nhưng lại có quyền sử dụng dịch vụ. Đây cũng là các đặc trưng mà các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà làm luật và hoạch định chính sách phải xem xét kỹ trước khi đưa ra các quan điểm của mình. Nó cũng đòi hỏi cách tiếp cận và điều chỉnh riêng khi đề cập đến các quan hệ dân sự, kinh tế thương mại mà đối tượng của quan hệ đó là dịch vụ. Thứ hai, dịch vụ có tính không đồng nhất, không tiêu chuẩn hóa được.
Quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động cung ứng dịch vụ sẽ có các đặc trưng riêng biệt, khi chúng ta xem xét dưới góc độ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong mối quan hệ này. Đó là việc một bên thỏa thuận với bên kia để thực hiện một công việc nào đó cho mình, Bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc thỏa thuận và nhận tiền. Thước đo để đánh giá quan hệ cung ứng dịch vụ hoàn thành hay không phụ thuộc vào mức độ hài lòng của bên cung ứng dịch vụ và quá trình thực hiện công việc của bên cung ứng dịch vụ. Điều này cũng đòi hỏi một sự điều chỉnh thích hợp của pháp luật đối với các giao dịch dịch vụ, các biện pháp chế tài liên quan cũng như các biện pháp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để thực hiện đúng các cam kết của các bên trong các quan hệ dịch vụ.
Điều quan trọng nhất là xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình dịch vụ. Với tính chất này, các quy định về chất lượng hàng hóa, bảo quản hàng hóa, quy cách sản phẩm trong thương mại hàng hóa không áp dụng được trong thương mại dịch vụ. Thứ ba, dịch vụ có tính không tách rời, tức là quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Đặc trưng này quyết định thời điểm phát sinh, hoàn thành các giao dịch cung cấp - sử dụng dịch vụ.
Nói cách khác, quan hệ cung cấp dịch vụ là quan hệ liên tục từ khi phát sinh yêu cầu đến khi kết thúc quan hệ. Nó cũng quyết định tính chất của các giao dịch đặc thù mà chỉ riêng lĩnh vực dịch vụ mới có và qua đó đòi hỏi pháp luật phải có cách nhìn nhận riêng, quy định riêng đối với các quan hệ xã hội lấy dịch vụ làm đối tượng. Dưới góc độ pháp lý, đặc trưng trên quyết định một loạt các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình dịch vụ, đó là: quyết định thời điểm phát sinh và kết thúc quan hệ; quyết định hình thức của các giao dịch; quyết định các quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể; quyết định các phương thức giao dịch và kinh doanh dịch vụ. Thứ tư, dịch vụ không lưu kho bãi được.
Xét dưới góc độ pháp lý, dịch vụ không lưu kho bãi, không lưu trữ, không tồn kho, không thể mua đi bán lại giống như đối với các hàng hóa hữu hình. Điều này quyết định sự khác biệt trong quy định của pháp luật về quyền đối với tài sản. Lê Thiền Hạ trong bài nghiên cứu "Bàn về khái niệm Dịch vụ", trong cuốn "Thương mại Việt Nam 20 năm đổi mới" [34, tr. 277-278], hoạt động dịch vụ có các đặc điểm sau: - Dịch vụ là một ngành kinh tế; - Dịch vụ có đối tượng và phạm vi hoạt động rất rộng; - Sản xuất dịch vụ tạo ra dịch vụ là hàng hóa đặc biệt.
Hàng hóa dịch vụ có thể là vô hình hoặc hữu hình, nhưng chủ yếu là vô hình; 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dịch vụ là hàng hóa nên có giá trị và giá trị sử dụng; - Hàng hóa dịch vụ cũng tuân theo quy luật giá trị và quan hệ cung cầu; - Hàng hóa dịch vụ có quan hệ mật thiết với hàng hóa thông thường (những hàng hóa do sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp tạo ra); Nếu dịch vụ là hàng hóa vô hình thì có những đặc tính sau đây: - Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời (được tiêu thụ ngay tại nơi sản xuất); - Cũng vì vậy, dịch vụ không được đưa ra mua bán, trao đổi, chuyển nhượng hoặc đầu cơ được và cũng không thể lưu giữ được. Trên thực tế chúng ta gặp rất nhiều dịch vụ vô hình những rất hiếm gặp các dịch vụ hữu hình. Như vậy, dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, có tính không hiện hữu; quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, dịch vụ không lưu kho bãi được. Dưới góc độ pháp lý, dịch vụ là đối tượng của các quan hệ mua bán, trao đổi, làm phát sinh các mối quan hệ dân sự và kinh tế giữa các chủ thể tham gia.
Do dịch vụ có các đặc thù riêng, vì vậy cần có chế định pháp lý riêng điều chỉnh nhóm quan hệ cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, không giống như đối với hàng hóa. Vai trò của dịch vụ trong sự phát triển kinh tế Dịch vụ có vai trò quan trọng, và ngày càng gia tăng trong hoạt động kinh tế của các quốc gia. Mặc dù, do có sự khác biệt về trình độ phát triển, vị trí địa lý hay tiềm năng tài nguyên, v., giữa các nước có sự khác nhau về mô hình sản xuất và công ăn việc làm. Tuy nhiên, các nhà kinh tế đã xác định được xu hướng chung, đó là sự phát triển và gia tăng ngày càng mạnh mẽ của dịch vụ như là một nguồn hoạt động kinh tế.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể đưa ra một số ví dụ về sự gia tăng tỷ trọng ngành dịch vụ trong nền kinh tế của một số nước, đó là Trung Quốc, từ 33% năm 2002 tăng lên 40% vào năm 2007. Ở các nước phát triển, tỷ trọng ngành dịch vụ luôn cao hơn nhiều so với các ngành công nghiệp và nông nghiệp, và cao hơn nhiều so với các nước đang và chậm phát triển. Theo thống kê của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) tỷ trọng ngành dịch vụ của một số nước năm 2007 như sau: Bảng 1.1: Tỷ trọng ngành dịch vụ của một số nước năm 2007 STT Quốc gia Tỷ trọng ngành dịch vụ (%) 1 Australia 70,6 2 Pháp 77,2 3 Hoa Kỳ 79 4 Trung Quốc 40,1 5 Việt Nam 38,2 (Nguồn: Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ, 2008) [56]. Sự phát triển của ngành dịch vụ là do nhiều yếu tố.
Một trong những lý do là sự gia tăng về thu nhập làm kích thích cầu dịch vụ. Khi người dân giàu hơn, nhu cầu tiêu thụ dịch vụ của họ cũng tăng, nhất là các ngành dịch vụ chất lượng cao như du lịch, giáo dục và y tế. Đồng thời, việc tăng năng suất ở nhiều ngành dịch vụ lại thấp hơn so với ngành công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Cùng với hàng loạt các vấn đề khác đưa đến thực tế là: thay thế vốn cho lao động trong kinh doanh dịch vụ sẽ khó khăn hơn trong các ngành khác.
Đổi lại, điều này dẫn đến giá cả của nhiều dịch vụ truyền thống tăng tương đối nhanh hơn giá cả hàng hóa [46, tr. Ở Việt Nam, dịch vụ chiếm trên 38% GDP, thấp hơn tỷ trọng trung bình của các nước có thu nhập thấp (44%). Tuy nhiên, theo các số liệu của Ngân hàng thế giới công bố, cho thấy GDP của khu vực dịch vụ là nhân tố tăng trưởng nhanh nhất trong toàn GDP của các nền kinh tế có thu nhập thấp 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và trung bình. Ngoài ra, một tỷ trọng đáng kể người lao động ở các nước đang phát triển làm việc trong khu vực dịch vụ, trong đó ở Việt Nam là khoảng 25% [36, tr.