CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH TẾ CHIA SẺ 1. Khái quát về kinh tế chia sẻ 1. Nhận thức về kinh tế chia sẻ Thuật ngữ kinh tế chia sẻ hiện nay đang là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của rất nhiều các học giả trên thế giới. Kinh tế chia sẻ còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “kinh tế hợp tác” (Collaborative economy), “kinh tế nền tảng” (Platform economy), “tiêu dùng kết nối” (Connected consumption), “kinh tế cho thuê” (Renting economy) hay kinh tế theo yêu cầu (on demand economy) … [30, tr.
Theo ông Yuhei Okakita, Phó Giám đốc Bộ phận chính sách thông tin kinh tế - Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản, kinh tế chia sẻ có thể được định nghĩa là hoạt động tái thiết kinh tế, trong đó các cá nhân ẩn danh có thể sử dụng các tài sản nhàn rỗi (bao gồm cả các tài sản vô hình như kỹ năng cá nhân và thời gian rảnh rỗi), được sở hữu bởi các cá nhân khác thông qua các nền tảng kết hợp trên Internet [42]. Trong kinh doanh, nền kinh tế chia sẻ được hiểu là một thuật ngữ đề cập đến mô hình kinh doanh khai thác các yếu tố tài nguyên sẵn có của người dùng cuối cùng và kết hợp với các yếu tố công nghệ để hợp thành một mô hình kinh doanh. Theo đó, mô hình này thường do các doanh nghiệp khởi nghiệp khởi xướng - đối tượng này không sở hữu bất kỳ một nhà máy hay một kho hàng nào nhưng lại có cả một kho tài nguyên sẵn có trên toàn cầu và luôn sẵn sàng gia nhập vào hệ thống [34]. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kinh tế chia sẻ là khái niệm mới xuất hiện trong thời gian gần đây đến nay có nhiều định nghĩa cũng như cách 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiểu khác nhau nhưng theo cách hiểu phổ biến nhất và gắn với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ số.
Mô hình kinh tế chia sẻ là một hệ thống kinh tế mà ở đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ dùng chung giữa các cá nhân, hoặc không phải trả tiền hoặc không trả một khoản phí, với tính chất điển hình là thông qua các công cụ Internet. Đây là một phương thức kết nối mới giữa người mua (người dùng) và người bán (người cung cấp) đối với một hoạt động kinh tế [41]. Dù có nhiều tên gọi và cách định nghĩa khác nhau nhưng tựu chung lại, có thể hiểu đơn giản mô hình kinh tế chia sẻ là một mô hình kết hợp giữa sở hữu và chia sẻ cho phép việc trao đổi và cung ứng hàng hóa, dịch vụ một cách ngang hàng giữa nhà cung cấp hàng hóa và khách hàng thông qua các nền tảng số. Các nền tảng số này là một hạ tầng giao dịch số thường được thiết lập dưới dạng website hay ứng dụng trên các thiết bị điện tử.
Với bản chất là việc những người tham gia sẽ cùng nhau tiếp cận với sản phẩm hoặc dịch vụ thay vì sở hữu cá nhân. Bằng việc trả phí cho tài sản hoặc dịch vụ mình sử dụng, giờ đây người sử dụng sản phẩm, dịch vụ sẽ không cần phải mua những thứ có thể thuê, chủ sở hữu cũng có thể kiếm tiền từ tài sản đang tạm thời nhàn rỗi của mình. Tuy nhiên lại xuất hiện những ý kiến cho rằng mô hình kinh tế chia sẻ hiện nay đã đi chệch mục tiêu nhân đạo ban đầu và bị biến tướng thành “kinh tế chia sẻ giả hiệu” (Pseudo-Sharing economy), không còn đúng với giá trị và ý nghĩa thực sự của “kinh tế chia sẻ chân chính” (True-Sharing economy) mà người chia sẻ không nhận phí hoặc chỉ nhận một khoản phí mang tính bù đắp với mục đích chính là chia sẻ hàng hóa tiện ích dư thừa cho người cần không vì lợi nhuận [30, tr. Nguyên nhân của sự thay đổi này bắt nguồn từ sự ra đời phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, các nền tảng số và ứng dụng trên các thiết bị công nghệ điện tử đầu thế kỷ 21.
Trên cơ sở sự phát triển này, các nhà kinh doanh, doanh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp đã tận dụng để phát triển mô hình kinh tế chia sẻ từ hướng phi lợi nhuận ban đầu trở thành mô hình kinh tế chia sẻ có lợi nhuận – đánh dấu sự chuyển đổi ngoạn mục từ việc chia sẻ thuần túy giữa những người tiêu dùng với nhau trên cơ sở nguồn lực có hạn và lòng tốt của con người trở thành một mô hình kinh tế mới mà các bên tham gia mạng lưới này là đối tác của nhau và tìm kiếm các lợi ích kinh tế phù hợp từ việc chia sẻ những nguồn lực sẵn có của mình. Nhờ vậy giúp tiết kiệm chi phí, bảo vệ môi trường, tăng tính hiệu quả của nền kinh tế, giảm bớt sự lãng phí tài nguyên xã hội và sự dư thừa của các sản phẩm dịch vụ. Đặc điểm của kinh tế chia sẻ Dưới góc độ pháp lý, kinh tế chia sẻ hiện đại đang hiện hữu là một dạng đặc biệt của các giao dịch thương mại điện tử mà trong đó nhà cung cấp nền tảng công nghệ số tạo ra một sàn giao dịch điện tử dưới dạng website hoặc thông qua các ứng dụng cài đặt trong thiết bị điện tử để thực hiện việc giao dịch trực tuyến. Người bán hàng, cung cấp dịch vụ và người mua muốn tham gia sàn giao dịch này phải cài đặt các ứng dụng, đăng ký tham gia và chấp nhận các quy tắc và điều kiện giao dịch do bên cung cấp sàn giao dịch đề ra [30, tr.
Với bản chất là một hợp đồng thương mại điện tử, có thể thấy kinh tế chia sẻ có những đặc điểm sau: - Về chủ thể: chủ thể tham gia vào quan hệ kinh tế chia sẻ bắt buộc có ba bên: bên cung cấp dịch vụ, bên nhận dịch vụ (thường là người tiêu dùng) và bên cung cấp sàn giao dịch hay còn gọi là bên cung cấp nền tảng số cho giao dịch. Sự xuất hiện và tham gia của bên cung cấp nền tảng số vào các giao dịch là một trong những đặc trưng của mô hình kinh tế chia sẻ. Bên cung cấp nền tảng số là các thương nhân chuyên nghiệp đóng vai trò trung gian giữa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bên cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng. Nếu thiếu đi các trung gian đặc biệt này thì các giao dịch sẽ không thể thực hiện được bởi lẽ bên cạnh việc đóng vai trò môi giới thông tin giữa các bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ và hưởng hoa hồng môi giới trên mỗi giao dịch thành công đối với cả hai bên thì bên cung cấp nền tảng còn trực tiếp vận hành, quản lý và điều phối đối với các giao dịch trên ứng dụng, nền tảng.
Bên cung cấp dịch vụ có thể là cá nhân có tài sản dư thừa, không khai thác hết công năng (người kinh doanh không chuyên) hoặc các nhà kinh doanh chuyên nghiệp. Các nền tảng số sẽ tuyển mộ những người cung cấp dịch vụ này để tham gia kinh doanh trên mạng lưới của mình. Trong chính sách vận hành, các nền tảng số đăng ký hoạt động cho họ dưới danh nghĩa là một người làm hợp đồng/ nhà thầu độc lập hưởng thu nhập theo từng vụ việc, không có lương tháng, không có chế độ nghỉ phép, ốm đau, bảo hiểm xã hội hay tai nạn nghề nghiệp … [29, tr. Người tiêu dùng trong quan hệ kinh tế chia sẻ là khách hàng trực tiếp sử dụng dịch vụ chẳng hạn như khách thuê phòng của chủ trọ trong airbnb, khách đi xe gọi từ Grab.
Họ là khách hàng, người tiêu dùng của cả nền tảng số và bên cung cấp dịch vụ, các quyền và nghĩa vụ của họ được pháp luật hiện hành công nhận và bảo vệ. - Điều kiện tham gia: để tham gia vào sàn giao dịch số này thì việc đầu tiên mà cả bên cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng cần làm là đăng ký với nền tảng. Đối với người tiêu dùng các nhà cung cấp nền tảng sẽ yêu cầu họ phải cung cấp một số thông tin cá nhân gần như bắt buộc là tên, số điện thoại liên hệ và xác thực số điện thoại trực tiếp trên nền tảng. Còn đối với những người cung ứng sản phẩm, dịch vụ để có thể trở thành đối tác của doanh nghiệp cung cấp nền tảng thì bên cạnh việc cung cấp những thông tin 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như đối với người tiêu dùng thì còn phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe hơn như phải cung cấp số chứng minh thư, cung cấp hình ảnh của bản thân, đặc điểm của sản phẩm, hay công cụ phương tiện mà mình sử dụng để cung ứng dịch vụ … Sau khi đã cung cấp đầy đủ những thông tin theo yêu cầu thì cả bên cung cấp và người tiêu dùng sẽ phải chấp thuận những điều kiện và quy tắc chung cho giao dịch của mình để có thể chính thức trở thành người tham gia nền tảng và sau đó có thể trực tiếp thực hiện các giao dịch của mình trên nền tảng này.
- Vai trò của bên cung cấp nền tảng số: So với vai trò của một bên trung gian thương mại truyền thống có thể thấy vai trò trung gian/ môi giới thương mại của nền tảng số đã vượt xa rất nhiều mặc dù cũng thực hiện ba chức năng cơ bản là ghép nối người bán và người mua, làm thuận lợi cho giao dịch và cung cấp hạ tầng cơ sở cho hoạt động thương mại. Tuy nhiên khác với trung gian truyền thống, các chức năng này được thực hiện bằng những phương thức có thể thu được hiệu quả tối đa. Đối với hai chức năng đầu tiên là kết nối người bán với người mua và tạo thuận lợi cho giao dịch. Bằng việc sử dụng các thuật toán, phân tích dữ liệu từ người tiêu dùng, các nền tảng số nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu, cũng như các sản phẩm mà người tiêu dùng đang quan tâm để từ đó có những tính toán, đưa ra gợi ý cho người tiêu dùng về các sản phẩm tương đồng với mức giá thấp nhất góp phần quan trọng vào việc nâng cao tỷ lệ các giao dịch thành công.
Bên cung cấp nền tảng còn là cầu nối thông tin, xác nhận danh tính của người mua và bán, giữ tiền đặt cọc của giao dịch và chuyển tiền sau khi giao dịch đã được xác nhận hoàn thành bởi hai bên.