ĐẶT VẤN ĐỀ Phân loại sinh học là một ngành khoa học có lịch sử lâu đời, giúp cho việc nhận biết và phân biệt giữa các taxon cùng với mối quan hệ của chúng trong quá trình tiến hóa. Phương pháp chung được sử dụng trong phân loại các bậc taxon sinh hoc nói chung và thực vật nói riêng là căn cứ vào các đặc điểm hình thái bên ngoài. của các cơ quan sinh dưỡng, đặc biệt là các cơ quan sinh sản (thực vật). Trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta, các chỉ thị ADN (như RAPD, RFLP, SSR .) ngày càng được sử dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu nguồn gen các tài nguyên sinh vật.
Trong số các chỉ thị đó, đa hình độ dài các trình tự ADN được khuếch đại ngẫu nhiên RAPD (Random. Amplification Polymorphic DNA) được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá tính đa dạng của các nguồn gen. Đây là một phương pháp phân tích hệ gen. tương đối đơn giản và nhanh chóng, cho phép so sánh sự đa dạng di truyền.
trong phạm vi một loài cũng như giữa các loài khác nhau. Đối với các loài thực vật, chỉ thị RAPD đã được sử dụng hiệu quả trong việc đánh giá tính đa dang di truyền và góp phần phân loại một cách chính xác các taxon dưới loài. Như chúng ta đã biết, trong nguồn tài nguyên thực vật ở nước ta, cây thuốc giữ một vai trồ quan trọng trong việc cung cấp thuốc cho y học cổ truyền. Tuy vậy, phần lớn các loài cây thuốc hiện nay chủ yếu được thu hái từtự nhiên nên.
tất yếu dẫn đến sự suy kiệt nguồn tài nguyên. Bên cạnh đó, do thu hái tự phát trong tự nhiên nên chất lượng dược liệu không đồng bộ, hoặc đã xảy ra sự nhằm lẫn, thậm chí còn bị giả mạo. Những vấn đẻ trên đặt ra một yêu cầu cấp thiết cần có các biện pháp xác định chính xác các loài cây thuốc hoặc dược liệu, phục vụ cho yêu cầu bảo tổn và phát triển, nhằm cung cấp được các nguyên liệu làm thuốc có chất lượng cao. 'Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng các chỉ thị phân từ, ADN, cũng như chỉ thị hoá học., như một công cụ bỏ sung cho công tác kiểm định cây thuốc và dược liệu.
Trong các phương pháp vẻ chỉ thị ADN cần. kể đến các chỉ thị RAPD-PCR. Đây là kỹ thuật tiên tiến, dễ áp dụng và kết quả mang lại thường khả quan trong việc đánh giá tính đa dạng di truyền, góp phản phân loại các loài thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng một cách chính xác. Đặc biệt là những taxon có quan hệ gần gũi về mặt di truyền và có các đặc điểm hình thái tương tự nhau.
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên, chúng tôi tiến hành đẻ tài "Sử đựng chỉ thị phân tử ADN kết hợp với các dấu hiệu hình thái trong nghiên cứu. phân loại một số cây thuốc ở Việt Nam”, với các mục tiêu sau đây: Muc tén chưng: Tiếp cận được với một phương pháp mới trong việc sử dụng chỉ thị phân từ ADN kết hợp với phương pháp phân loại hình thái cổ điển, nhằm xác định chính xác tên khoa học của các loài cây thuốc, góp phảu. định hướng cho công tác bảo tỏa, cũng như góp phảu tiêu chuẩn hóa và kiếm. định dược liệu ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể là: (D) Ap dung chỉ thị ADN (RAPD - PCR) kết hợp với phương pháp phân. loại bình thái cổ điển nhằm xác định chính xác tên khoa học ở bậc phân loại loài hoặc dưới loài của 6 loài cây Ngũ gia bì hương, Ngũ gia bì gai, Sam ngọc linb, Sim vii digp, Tam that hoang và Ba kích. ) Thông qua việc áp dụng kỹ thuật RAPD - PCR bước đầu đánh giá sự da dạng nguồn gen, phục vụ cho yêu cầu bảo tổn, cũng như việc tiêu chuẩn hóa vẻ kiểm định dược liệu đối với 6 loài cây thuốc thuộc điện quí hiếm kể trên. TỔNG QUAN VE TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VA Ö VIỆT NAM CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.
Yê thực vật học 1. Ngũ gia bì hương, Ngũ gia bì gai Trên thế giới, Ngũ gia bì hương (NGBH) và Ngũ gia bì gai (ÑGBG) đều thuộc chỉ Acanthopanax Miq., họ Ngũ gia bì (Araliaceae). Chỉ nầy trên thế giới hiện đã biết có loài, phân bố chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới, nhiệt đới hoặc vùng ôn đới ấm của châu Á [70, 92]. Ngũ gia bì hương đã được Smith xác định tên khoa học từ năm 1617 là Acanthopanax gracilistylus W.Smith và từ đó cho đến nay không thấy có sự thay đổi nào.
Trên thế giới, loài này rnới được phát hiệnở Trung Quốc [70, 91. Ngũ gia bì gai được Lianế xác định đầu tiên với tên khoa học là Zanthoxylum trifoliatum L. Đến năm 1789 Ait chuyển thành chỉ Panax với tên khac la Panax aculeatus Ait. Sau đó được Witte (1861), H.
Li (1970) xép vao chi Acanthopanax. Đồng thời để ghỉ nhớ cách đặt tên đầu tiên của Linnế (1733), nên các nhà thực vật học đều thống nhất tên khoa học của loài Ngũ gia bì gai là Acanthopanax (rifoliatu (L. Về sau, khi nghiên cứu phân loại họ Araliaceae ở vùng Đông Á, H.Li đã xác định thêm. trong loài NGBŒ ở Trung Quốc có một thứ (var.) này cũng đã được phát hiệnở Việt Nam [3, 8, 10].
NGBG trêu thế giới có vùng phân bố tương đối rộng, kéo đài từ Trung Quốc, Đài Loan xuống đến Việt Nam, Lào và ở cả Philippia [31, 70, 92]. Ở Việt Nam, chi Acanthopanax Mig. Vigues nghiên cứu đầu tiên (trong bộ Elore gềnếrale de LTado-Chiae, T3, ). Trong đó ông để cập đến 2 loài Acanthopanax aculeafuz (Ait.) Witte và một loài mới ông thu thập được.
ở núi Ba Vì - Hà Tây: A.) Witt sau ted thành đồng danh (Syn) của A. Loài NGBH (Acanthopanax gracilistyius W.Smith) được Grushvitzky và Trương Canh thu được mẫu lần đầu tiên năm 1969 tại Phó Bảng, Hà Giang. Về sau, Nguyễn Tập, Bùi Xuân Chương, Lưu Minh Xư (1973) ghỉ nhận cụ thể thêm vẻ phân. Bao gồm ở thị trấn Phó Bảng, xã Phố Là, Sùng Là (huyện Đỏng Văn), xã Mèo Vạc (huyện Mèo Vạc) tỉnh Hà Giang; gần đây cồn thấy trồng tại vườn một số nhà dân thuộc xã Quyết Tiến (huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang); xã Hầu.
Tổng hợp các chỉ Acanthopanax Miq. ở Việt Nam, Nguyễn Quang Hào và Mai Nghị (1972) thống kê có 4 loài là Acanthopanax trifoliatus, A. Viguer thu thập ở Ba Vì, nhưng cho đến nay chưa có ai thu lại được mẫu. evodiaefolis hiện đã chuyển sang chỉ mới (Evodiopanax).
Như vậy, theo Nguyễn Tập, Nguyễn Chiều, Ngô Văn. Trại và Mai Nghị (1986) [21]; theo Grushvitzky và Hà Thị Dụng (1990) [8] thì chỉ Acanthopanax Mia. ở Việt Nam có 2 loài và 1 thứ (var.) sau: - Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.): phan bố tập trung ở vùng rừng núi đá vôi, thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, lào Cai và rải rác ở các tỉnh Yên Bái, Sơa La, Điện Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam và Kon Tum. - Ngũ gia bì gai long (Acanthopanax trifoliatus vat.): phan bố lẫn loài trênở Lạng Sơn, Lào Cai và Lai Châu.
- Ngũ gia bì hương (Acanthopanax gracilistylus W. Smith): phân bố rat hẹp ở tỉnh Hà Giang (mọc tự nhiên và trồng) và Lào Cai (trồng). Sâm vũ điệp, Tam thất hoang và Sâm ngọc linh Trên thế giới, chỉ Zanax L. hiện đã biết có 13 loài và dưới loài, phân bố chủ yếu ở vùng cậ nhiệt đới và ôn đới ấm châu Á và châu Mỹ.
Trong đó, một số loài như Nhân sâm, Tam thất, Giả nhân sâm, Tây dương sâm đã trở thành. Các loài mọc tự nhiên còn lại bao gồm cả Sâm vũ điệp (SVD), Tam thất hoang (TTH) và Sâm ngọc linh (SNL) kể trên. Sâm vữ điệp: Tên khoa bọc của loài Sam vũ điệp được nhà thực vật học người Đức Bethold Car Seemana xác định đầu tien a Panax bipinnatifidus Seem. Đến năm 1879, Charles Baron Clatke đã chuyển loài aay sang chi Aralia la Aralia bipinnatifidus (Seem.
Sau Clarke cd cé Isaac Henry Burkill lai xếp Sâm vũ điệp cùng loài với Sảm Mỹ song là thứ (vat.) khác của Aralia quinguejolia (L. major Burkill, 1902 (Kew Bull, 1902: 7); Aralia quinquefolia (L. elegantior Buckill, 1902 (Kew Bull. Quan điểm trên tôn tại đến gầu giữa thế kỷ 20, khi Hui-Lia Li (1996) nghiên cứu hệ thực vật Đông Á, ông đã đưa Sâm vũ diệp trở lại với chỉ Panax.
Day [A mot quan điểm đúng đắn, bởi vì từ đó đến nay, mặc dù Sâm vũ diệp có thể được xếp vào các loài, loài phụ (ssp.) hoặc thứ (var.) khác nhau, nhưng loài này vẫn thuộc chỉ #anax. với các têu khoa học khác nhau như: Pgnax pseudoginseng Wall.; Panax pseudoginseng Wall.; Panax major Tiog ex Pei, 1958.; Panax pseudoginseng Wall.; Panax pseudoginseng Wall. elegantior (Burkill) Hoo et Tseng, 1973; Panax japonicus Mey.) Wu et Feag, 1975 [25, 39, 47, 48, 79, 80, 8L, 89, 90, 92] Cho đến năm 1975, một số nhà nghiên cứu ở Viện Thực vật Côn Minh. Vì thế, Sâm vũ diệp lại được trở về với tên khoa học là Panax bipinnatifidus Seem.
do Berthold Carl Seemann xác định từ năm 1868. 'Về phân bố, Sâm vũ diệp trên thế giới được ghi nhận ở phía Nam Trung Quốc, Bắc Myanma, Đông - Bắc Ấn Độ va Népan [25, 47, 48, 81, 86, 89, 92]. Tam thất hoang: Tam thất hoang cồn gọi là Bình biên tam thất, Hương thích hay Bạch tam thất (Trung Quốc). Loài này lúc đầu chỉ được xếp là một thứ (var) của loài giả Nhân sâm (Panax pseudogimseng vat.
bipinnatifidus Hoo et Tseng) cùng với loài Sâm vũ diệp [48]. Về sau, khi đã đầy đủ dẫn liệu, Tam thất hoang được công bố là loài mới đối với khoa học (Panax afipuleanatus TH. Feng, 1975) bởi một nhóm các nhà thực vật học Trung Quốc, trong Acta Phyfofaxonomy Siaica, số 13 năm 1975 [86]. Đến năm 2000, trong một công bố của Jun Wen,, tác giả cũng thừa nhận Tam.
thất hoang là một loài độc lập [81], với tên khoa học đã được các nhà thực vật Trung Quốc công bố kể trên [86]. 'Về phân bố, Tam thất hoang hiện mới chỉ thấy ở tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Trong công bố năm 1975 của các nhà Thực vật học Trung Quốc cũng ghỉ nhận cồn có ở Lào Cai - thuộc miễn Bắc Việt Nam [81, 86]. Cả hai loài SVD và TTH cũng có ở Việt Nam; còn SNL là loài đặc hữu hẹp của Việt Nam - chưa phát hiện thấy ở các quốc gia khác trên thế giới.
Ở Việt Nam, ngay từ năm 1964 Viện Dược liệu đã thu thập được mẫu. SVD và TTH ở Sa Pa (Lào Cai) — với tên gọi địa phương là "Phan xiết” và ”Xán xì”.