Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm định danh tên cây thuốc Việt Nam (có liên hệ tiếng Latinh)" được tác giả Trần Thị Hường thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2020), thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 62 22 01 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thiện Giáp.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lịch sử Y học cổ truyền Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển của dân tộc, bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tiễn tiếp xúc và sử dụng hệ thực vật tự nhiên để tìm kiếm thức ăn và chữa bệnh. Mỗi loài cây thuốc trong dân gian đều mang tên gọi gắn liền với nhận thức thực tiễn và phản ánh các nét văn hóa đặc thù của người Việt. Song song đó, trong giới khoa học, đặc biệt là ngành Thực vật học và Dược học quốc tế, tiếng Latinh được quy chuẩn làm danh pháp khoa học chung. Để công bố và hội nhập các phát hiện mới về cây thuốc ra thế giới, việc định danh chuẩn xác bằng tiếng Latinh theo các quy tắc ngữ pháp danh pháp là yêu cầu bắt buộc.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, giữa tên gọi dân gian và tên khoa học trong một số tài liệu nghiên cứu y dược vẫn tồn tại hiện tượng nhầm lẫn, thiếu thống nhất. Tình trạng này gây cản trở cho công tác đào tạo, nghiên cứu và chuẩn hóa dược liệu. Trong khi các lĩnh vực Thực vật học, Dược học và Y học dân gian đã có bề dày nghiên cứu, thì việc khảo sát tên gọi cây thuốc dưới góc độ Ngôn ngữ học vẫn là một khoảng trống chưa có công trình chuyên biệt nào giải quyết một cách toàn diện và có hệ thống. Do đó, luận án được thực hiện nhằm phân tích tên gọi cây thuốc Việt Nam từ lý thuyết định danh ngôn ngữ học, có liên hệ với hệ thống danh pháp khoa học tiếng Latinh.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là làm rõ đặc điểm định danh của tên gọi cây thuốc Việt Nam thông qua việc tìm hiểu nguồn gốc, cấu tạo, tiêu chí nhận diện và cơ sở đặt tên; phân tích cấu trúc ngữ nghĩa dựa trên các thủ pháp phân tích thành tố để làm sáng tỏ các nét nghĩa trong tên gọi; đồng thời chỉ ra các đặc trưng văn hóa - dân tộc của cộng đồng người Việt trong hành vi định danh cây thuốc, có liên hệ với tên khoa học tiếng Latinh (dưới tư cách một danh pháp quy chiếu).

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa một số khái niệm lý thuyết định danh và các vấn đề liên quan để xác lập khung cơ sở lý luận cho đề tài.
  2. Tìm hiểu nguồn gốc và cấu tạo của tên cây thuốc Việt Nam (có liên hệ với tiếng Latinh).
  3. Tìm hiểu cơ sở định danh của tên cây thuốc Việt Nam (có liên hệ với tiếng Latinh).
  4. Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc thể hiện trong tên cây thuốc Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tên gọi các cây thuốc trong tiếng Việt, bao gồm cả các loài cây trồng và cây mọc hoang dã đã được sử dụng rộng rãi trong giới Đông y tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các đơn vị từ ngữ chỉ cây thuốc trong tiếng Việt xét trên các bình diện nguồn gốc, cấu tạo và phương thức định danh; có liên hệ với tên khoa học bằng tiếng Latinh trên phương diện danh pháp phân loại học, không thực hiện so sánh đối chiếu loại hình học toàn diện giữa hai ngôn ngữ.
  • Ngữ liệu khảo sát: Gồm 1.966 tên gọi cây thuốc Việt Nam được thu thập và trích xuất từ 02 tập Từ điển cây thuốc Việt Nam của tác giả Võ Văn Chi (Nhà xuất bản Y học, 2012), kết hợp đối chiếu tên khoa học tiếng Latinh tương ứng. Tác giả vận dụng lý thuyết điển mẫu để lựa chọn các nhóm cây thuốc tiêu biểu, sẵn có và thông dụng trong Đông y.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về cây thuốc

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu về cây thuốc trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử:

  • Trên thế giới:
    • Nửa sau thế kỷ XVI, công trình Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (1518 - 1593) tại Trung Quốc đã tổng kết 12.000 vị thuốc và đơn thuốc sau 32 năm nghiên cứu.
    • Các nền y học cổ truyền Ai Cập (ghi chép cách đây 3.600 năm với khoảng 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc) và Ấn Độ (khoảng 7.500 loài thực vật làm thuốc theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO).
    • A. Pételot với công trình Les plantes médicinales du Cambodge du Laos et du Vietnam thống kê 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ thực vật.
    • Carl Linnaeus (1753) trong tác phẩm Species plantarum đã đề xướng quy tắc danh pháp thực vật nhị thức (gồm tên chi - Genus và tên loài - Species), đặt nền tảng thống nhất tên khoa học bằng tiếng Latinh trên phạm vi quốc tế.
  • Tại Việt Nam:
    • Giai đoạn trung đại: Tác phẩm Bản thảo cương mục toàn yếu của Phan Phu Tiên (hoàn thành năm 1429); bộ sách Nam dược thần hiệu (11 quyển, 580 vị thuốc, 3.873 bài thuốc chữa 182 chứng bệnh) và Hồng nghĩa giác tư y thư (130 loài cây thuốc) của Tuệ Tĩnh với tư tưởng "Nam dược trị nam nhân"; bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh (66 tập, xuất bản năm 1772) của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (kế thừa và bổ sung 329 vị thuốc mới); các tập Nam dược, Nam dược chỉ tranh truyền, La khê phương dược của Nguyễn Quang Tuân thời Tây Sơn - Nguyễn ghi chép 500 vị thuốc.
    • Giai đoạn hiện đại: Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương (1960); Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc của Vũ Văn Chuyên (1966, tái bản 1976); Sổ tay cây thuốc Việt Nam của Đỗ Huy Bích và Bùi Văn Chương (1980, 519 loài); các công trình của GS. Đỗ Tất Lợi gồm bộ Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam (1957, 1961) và Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (xuất bản nhiều tập từ 1962 - 1965, tái bản lần 7 năm 1995 với 792 loài và tái bản lần 14 năm 2013); các công trình của Võ Văn Chi (Từ điển cây thuốc Việt Nam năm 1996, 2000, 2012 với 3.200 loài cùng các chuyên khảo địa phương); Danh lục cây thuốc Việt Nam của Viện Dược liệu (năm 1985 ghi nhận 1.119 loài miền Bắc và gần 100 loài miền Nam; giai đoạn 2006 - 2015 công bố trên 5.000 loài); các luận án thực vật học và sinh học gần đây của Lê Thị Thanh Hương (2015), Trần Thị Ngọc Diệp (2016), Phùng Thị Hằng và cộng sự (2018), Nguyễn Thị Hải (2018).

Các hướng nghiên cứu về lý thuyết định danh

Về phương diện lý luận định danh trong ngôn ngữ học, luận án khảo cứu các công trình:

  • Paul Siblot (2001) trong De la dénomination à la nomination phân biệt định danh thuộc phạm vi ngữ ngôn (langue), còn đặt tên thuộc phạm vi lời nói (parole).
  • Nguyễn Thúy Khanh (1994, 1996) nghiên cứu đặc điểm định danh trường tên gọi động vật tiếng Nga đối chiếu tiếng Việt.
  • Phạm Tất Thắng (1996) nghiên cứu lớp tên riêng chỉ người trong tiếng Việt.
  • Dương Kì Đức (1993) tiếp cận các đơn vị định danh đa thành tố theo từ điển học tương phản.
  • Trần Hoàng Anh (2014) khảo sát lớp từ chỉ tên gọi cá ở Đồng Tháp Mười từ góc độ định danh.
  • Nguyễn Chi Lê (2013) phân tích đặc điểm định danh các vị Đông dược trong tiếng Việt về nguồn gốc, ngữ nghĩa và cách thức biểu thị.
  • Đỗ Việt Hùng (2012) nghiên cứu nhận thức cộng đồng người Việt qua phương thức định danh của từ ghép chính phụ.
  • Nguyễn Đức Tồn và Huỳnh Thanh Trà (1994) nghiên cứu đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ sự kết thúc đời người.
  • Hồ Văn Tuyên (2013) nghiên cứu định danh sự vật liên quan đến sông nước ở đồng bằng sông Cửu Long.
  • Chănphommavông (1999) khảo sát đặc điểm định danh trường từ vựng bộ phận cơ thể người tiếng Lào trong quan hệ với tiếng Việt.

Khoảng trống luận án giải quyết

Toàn bộ các nghiên cứu trước đây về cây thuốc chủ yếu tập trung vào phân loại thực vật học, dược tính, thành phần hóa học hoặc kinh nghiệm trị bệnh dân gian; các danh mục tên gọi chỉ đóng vai trò phương tiện nhận diện thuần túy. Ngược lại, các công trình định danh trong ngôn ngữ học mới chỉ dừng lại ở các trường từ vựng động vật, tên cá, bộ phận cơ thể hoặc vị thuốc đông dược nói chung. Luận án của Trần Thị Hường là công trình chuyên biệt đầu tiên tiếp cận 1.966 tên cây thuốc Việt Nam một cách toàn diện dưới góc độ ngôn ngữ học (nguồn gốc, mô hình cấu tạo, cơ chế tạo nghĩa, cơ sở định danh) và liên hệ với hệ danh pháp khoa học Latinh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học về từ vựng học, định danh học và ngữ nghĩa học:

  • Khái niệm Tên gọi: Tiếp thu quan điểm từ triết học ngôn ngữ (Mác, Ăngghen, Lênin) và các nhà Việt ngữ học (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn), xem tên gọi là kết quả của tư duy trừu tượng, có tính khái quát, thực hiện chức năng phân biệt đối tượng và làm cho sự vật có "cá tính" trong tư duy.
  • Phân biệt Định danh (Denomination) và Đặt tên (Nomination): Định danh là sự quy ước gắn ký hiệu ngôn ngữ với khái niệm phản ánh thuộc tính đối tượng thuộc phạm vi hệ thống ngữ ngôn; đặt tên là hành vi cụ thể thuộc phạm vi lời nói. Quá trình định danh bao gồm hai bước cơ bản: quy loại khái niệm và lựa chọn đặc trưng khu biệt.
  • Phương thức định danh:
    • Định danh cơ sở (bản ngữ): Sử dụng chất liệu từ vựng thuần Việt có sẵn, xuất hiện từ lâu đời, mang tính đơn tiết và phản ánh trực tiếp tri giác mộc mạc của người Việt.
    • Định danh phức hợp (thứ cấp): Tạo từ ngữ mới thông qua phương thức ghép (đặc biệt là ghép chính phụ), chuyển nghĩa từ vựng hóa, phản ánh quá trình cá thể hóa nhận thức theo nhiều bậc (bậc 1, bậc 2, bậc 3...).
    • Định danh qua vay mượn: Tiếp nhận từ ngữ gốc Hán (qua con đường sách vở đọc theo âm Hán - Việt hoặc qua khẩu ngữ) và ngôn ngữ Ấn - Âu (giữ nguyên dạng hoặc phiên âm).
  • Lý thuyết Nguyên mẫu (Điển mẫu - Prototype): Dựa trên lý thuyết của Eleanor Rosch (1976) và quan điểm "tâm và biên" (trung tâm và ngoại vi) của Đỗ Hữu Châu (1979) để nhận diện các hiện tượng định danh trung gian và xác định ngữ liệu nghiên cứu.
  • Lý thuyết về Đơn vị định danh: Kế thừa quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành và Hồ Lê để phân định rõ ranh giới giữa từ định danh (từ đơn, từ ghép, từ láy) và cụm từ (ngữ) định danh (tổ hợp gồm nhiều từ tự do có chức năng gọi tên).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng 4 phương pháp nghiên cứu chính và 1 thủ pháp bổ trợ:

  1. Phương pháp miêu tả: Dùng để ghi nhận, phân loại và miêu tả chi tiết nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo hình thái, cơ sở định danh và các biểu hiện văn hóa - dân tộc trong tên cây thuốc.
  2. Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp: Tách và phân tích cấu trúc tổ hợp tên gọi thành các thành tố bậc trên, thành tố trực tiếp và thành tố cuối cùng nhằm xác lập các mô hình cấu tạo của từ và ngữ định danh.
  3. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích cấu trúc nghĩa của các thành tố tham gia định danh, xác định nét nghĩa biểu vật, nét nghĩa biểu niệm và mối liên hệ chuyển nghĩa tạo ra tên gọi cây thuốc.
  4. Phương pháp so sánh (liên hệ): Đối chiếu tên cây thuốc tiếng Việt với danh pháp khoa học tiếng Latinh tương ứng trên phương diện nguyên tắc cấu tạo thuật ngữ phân loại học sinh học.
  5. Thủ pháp thống kê: Thống kê định lượng mô tả về số lượng, tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm của từng kiểu nguồn gốc, mô hình cấu tạo (số lượng thành tố) và các loại cơ sở định danh. Kết quả được lượng hóa qua các bảng số liệu cụ thể.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, 3 chương nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Luận án: Đặc điểm định danh tên cây thuốc Việt Nam (có liên hệ tiếng Latinh)

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 dành 40 trang để hệ thống hóa bức tranh nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết định danh:

  • Tổng thuật lịch sử nghiên cứu cây thuốc qua các thời kỳ ở phương Tây, phương Đông và Việt Nam, khẳng định các nghiên cứu trước đây thuần túy phục vụ y dược học và thực vật học.
  • Khảo cứu toàn diện các công trình nghiên cứu về danh học (onomastics) và định danh học (onomasiology) trong và ngoài nước.
  • Xác lập các khái niệm công cụ: bản chất tín hiệu học của tên gọi; phân định định danh (thuộc ngôn ngữ) và đặt tên (thuộc lời nói); các phương thức định danh cơ sở, định danh phức hợp và vay mượn; khái niệm từ và cụm từ định danh; nguyên tắc định danh (quy loại và khu biệt); cơ chế định danh phức hợp theo con đường ngữ nghĩa và hình thái cú pháp; sự chi phối của tư duy văn hóa - dân tộc đối với hành vi đặt tên.

Chương 2: Nguồn gốc và cấu tạo tên cây thuốc Việt Nam (có liên hệ tiếng Latinh)

Chương 2 tập trung khảo sát 1.966 tên cây thuốc để phân tích nguồn gốc và các mô hình cấu tạo hình thái:

  • Về nguồn gốc tên gọi:
    • Nguồn gốc thuần Việt: Chiếm tỷ lệ đáng kể, gồm các tên gọi dân dã, biểu thị sự vật quen thuộc, đơn tiết hóa hoặc được người Việt cấu tạo từ chất liệu bản ngữ.
    • Nguồn gốc vay mượn: Chủ yếu là vay mượn tiếng Hán (từ Hán - Việt mượn qua sách vở y học cổ truyền hoặc từ mượn qua khẩu ngữ) và vay mượn các ngôn ngữ Ấn - Âu (chủ yếu qua phiên âm hoặc giữ nguyên dạng danh pháp).
    • Nguồn gốc tên cây thuốc tiếng Latinh: Hệ thống danh pháp quốc tế quy chuẩn, có nguồn gốc từ tiếng Latinh cổ và Hy Lạp hóa.
  • Về đặc điểm cấu tạo tên gọi cây thuốc Việt Nam:
    • Tên gọi có cấu tạo là từ: Bao gồm từ đơn (từ đơn tiết như gừng, tỏi, nghệ, ổi...) và từ phức (chủ yếu là từ ghép chính phụ như ích mẫu, bồ công anh, hà thủ ô... và từ láy).
    • Tên gọi có cấu tạo là cụm từ (ngữ định danh): Chiếm số lượng lớn trong ngữ liệu, được phân chia theo số lượng thành tố tham gia cấu tạo:
      • Cụm từ 2 thành tố (mô hình: [Loại] + [Đặc điểm/Tên riêng], ví dụ: cỏ xước, dây đau xương...).
      • Cụm từ 3 thành tố (mô hình: [Loại/Chi] + [Đặc điểm 1] + [Đặc điểm 2]...).
      • Cụm từ 4 thành tố.
      • Cụm từ 5 thành tố.
  • Liên hệ với cấu tạo tên gọi bằng tiếng Latinh: Phân tích nguyên tắc phân loại bậc taxa theo Linnaeus, bao gồm cấu tạo nhị thức (Genus + Species) và các đơn vị dưới loài (phân loài - subspecies, thứ - varietas, dạng - forma).
Dạng cấu tạo tên cây thuốc tiếng Việt Thành phần / Mô hình tiêu biểu Ví dụ ngữ liệu phân tích
Tên gọi là từ đơn 1 âm tiết, đơn vị định danh gốc Sả, gừng, tỏi, hồi, quế, mơ, ổi, vối...
Tên gọi là từ ghép / láy Ghép chính phụ, ghép đẳng lập, từ Hán - Việt Ích mẫu, đan sâm, thược dược, núc nác...
Cụm từ 2 thành tố [Danh từ chỉ loại] + [Dấu hiệu phân biệt] Cây mật gấu, cỏ xước, ké đầu ngựa...
Cụm từ 3 thành tố [Danh từ loại] + [Dấu hiệu 1] + [Dấu hiệu 2] Sâm ngọc linh, ngải cứu dại, cau rừng lùn...
Cụm từ 4 thành tố [Danh từ loại] + [Dấu hiệu thuộc tính mở rộng] Dây chỉ vàng lá nhỏ, cỏ lưỡi rắn hoa trắng...
Cụm từ 5 thành tố Cấu trúc định danh phức hợp đa tầng Cây ba gạc hoa đỏ lá to...
Danh pháp tiếng Latinh [Genus] + [Species Epithet] + [Tác giả] Panax vietnamensis, Artemisia vulgaris...

Chương 3: Cơ sở định danh tên gọi cây thuốc Việt Nam (có liên hệ tiếng Latinh) và đặc trưng văn hóa - dân tộc thể hiện qua tên gọi cây thuốc Việt Nam

Chương 3 đi sâu vào bản chất ngữ nghĩa, cơ sở định danh và chiều kích văn hóa dân tộc của tên gọi:

  • Cơ sở định danh:
    • Tên gọi không có lý do: Các tên gọi mà mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và đối tượng mang tính võ đoán đồng đại, nguồn gốc biến đổi qua lịch sử không còn nhận diện rõ dấu hiệu trực quan (thường là các từ đơn gốc).
    • Tên gọi có lý do: Chiếm đa số tuyệt đối, tên gọi được đặt dựa trên các căn cứ hiện thực khách quan:
      • Dựa vào đặc điểm hình thái thực vật (thân, lá, hoa, quả, rễ, màu sắc, gai nhọn, hình dáng giống đồ vật/con vật).
      • Dựa vào đặc tính sinh thái, môi trường sống (dưới nước, trên đá, trong rừng, vùng núi).
      • Dựa vào tính chất cảm quan (mùi, vị: đắng, ngọt, cay, chua, thơm, hôi).
      • Dựa vào công dụng chữa bệnh hoặc bộ phận tác động sinh học (chữa đau xương, bổ huyết, lợi tiểu).
    • Mô hình hóa biểu thức định danh: Thống kê các kiểu kết hợp giữa thành tố chỉ loài/loại với:
      • 1 dấu hiệu chỉ đặc điểm.
      • 2 dấu hiệu chỉ đặc điểm.
      • 3 dấu hiệu chỉ đặc điểm.
    • Cơ sở định danh tiếng Latinh: Tên khoa học Latinh cũng được đặt dựa trên đặc điểm hình thái, địa danh xuất xứ, công dụng hoặc vinh danh tên các nhà khoa học, tuân theo quy tắc ngữ pháp Latinh nghiêm ngặt.
  • Đặc trưng văn hóa - dân tộc thể hiện qua tên gọi cây thuốc:
    • Biến đổi tên gọi: Sự chuyển hóa linh hoạt tên gọi theo các vùng miền và ngữ cảnh sử dụng của người Việt.
    • Lựa chọn đặc trưng đối tượng: Thể hiện tư duy cụ thể, trực quan cảm tính của cư dân nông nghiệp lúa nước khi chọn những nét gần gũi nhất trong môi trường sống để làm căn cứ định danh.
    • Lối tư duy ẩn dụ và nhân cách hóa: Sử dụng hình ảnh bộ phận động vật, đồ dùng sinh hoạt nông thôn hoặc hình tượng con người để gán cho cây cỏ (ví dụ: các tên gọi chứa móng bò, chó đẻ răng cưa, mắt mèo, dâm dương hoắc...).
    • Cá thể hóa sự vật: Phân chia đối tượng thành các bậc rất chi tiết thông qua các từ tố phụ chỉ sắc thái kích thước, màu sắc, địa bàn (lớn, nhỏ, trắng, đỏ, núi, nước...).
    • Dấu ấn tiếp xúc ngôn ngữ Hán: Sự tiếp thu sâu rộng và Việt hóa hệ thống thuật ngữ y học cổ truyền phương Đông trong cách gọi tên các vị thuốc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và quy mô về tên gọi cây thuốc dưới góc độ lý thuyết định danh ngôn ngữ học.
  • Làm sáng tỏ các quy luật cấu tạo hình thái và cơ chế định danh phức hợp trong tiếng Việt thông qua ngữ liệu chuyên biệt của một trường từ vựng thực vật học / y dược học.
  • Xây dựng được các mô hình cấu trúc thành tố trực tiếp của tên cây thuốc, phân định rõ ranh giới giữa từ định danh và ngữ định danh trong tiếng Việt.
  • Khám phá các cơ chế tri nhận, liên tưởng ẩn dụ và đặc trưng tư duy văn hóa - dân tộc của cộng đồng người Việt đối với thế giới tự nhiên.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học gồm 1.966 tên gọi cây thuốc đã được phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa và liên hệ danh pháp tiếng Latinh.
  • Đóng góp luận cứ ngôn ngữ học phục vụ công tác biên soạn, chuẩn hóa, chỉnh lý và thống nhất tên gọi cây thuốc trong các văn bản chuyên ngành, tài liệu và giáo trình giảng dạy Y học cổ truyền tại các trường đại học, học viện y dược.
  • Giúp sinh viên, giảng viên và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Y - Dược hạn chế nhầm lẫn giữa tên địa phương, tên thường gọi tiếng Việt và tên khoa học quốc tế.

Kiến nghị và giải pháp

  • Đề xuất tăng cường sự phối hợp liên ngành giữa Ngôn ngữ học và Y - Dược học trong việc chuẩn hóa danh mục dược liệu quốc gia.
  • Kiến nghị khi biên soạn tài liệu tra cứu, từ điển y học cần chú thích rõ ràng cả tên thuần Việt, tên Hán - Việt, tên đồng nghĩa địa phương và danh pháp Latinh chuẩn xác (bao gồm hướng dẫn cách đọc/phiên âm hợp chuẩn) để thuận tiện cho giao tiếp và nghiên cứu học thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Ngữ liệu nghiên cứu của luận án dừng lại ở mức 1.966 tên gọi trích từ Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2012) theo nguyên lý điển mẫu, chưa thể bao quát toàn bộ hơn 5.000 loài cây thuốc đã được thống kê trong các danh lục thực vật dược tại Việt Nam. Việc đối chiếu với tiếng Latinh dừng ở mức liên hệ danh pháp khoa học quy chiếu, chưa thực hiện khảo sát ngữ pháp - ngữ nghĩa liên ngôn ngữ trên diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi ngữ liệu sang tên gọi cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam (như Tày, Thái, Mường, Dao, Ra-Glai...).
    • Nghiên cứu sâu hơn về sự biến thể ngữ âm - từ vựng của tên cây thuốc theo phương ngữ các vùng miền (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết định danh học, phương pháp phân tích thành tố trực tiếp và mô hình phân tích ngữ nghĩa đối với từ ngữ chuyên ngành.
  • Giảng viên, sinh viên và nhà nghiên cứu ngành Dược học, Thực vật học, Y học cổ truyền: Sử dụng dữ liệu đối chiếu giữa tên gọi tiếng Việt và danh pháp khoa học tiếng Latinh để tra cứu, giảng dạy và chuẩn hóa thuật ngữ dược liệu.
  • Các nhà biên soạn từ điển và chuyên gia chính sách y tế: Tham khảo căn cứ ngôn ngữ học để chuẩn hóa danh mục thuốc y học cổ truyền, biên soạn từ điển chuyên ngành và giáo trình đào tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án gồm bao nhiêu đơn vị và được thu thập từ nguồn nào?

Ngữ liệu của luận án gồm 1.966 tên gọi cây thuốc Việt Nam, được trích xuất từ 02 tập Từ điển cây thuốc Việt Nam của tác giả Võ Văn Chi do Nhà xuất bản Y học ấn hành năm 2012. Tác giả vận dụng lý thuyết điển mẫu để lựa chọn các nhóm cây thuốc tiêu biểu, phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong Đông y.

2. Luận án giải quyết mối quan hệ giữa tên gọi tiếng Việt và tiếng Latinh theo phương pháp nào?

Luận án tiếp cận tiếng Latinh với tư cách là danh pháp khoa học thực vật chuẩn mực quốc tế (ngôn ngữ quy chiếu). Luận án chỉ liên hệ, đối chiếu về mặt danh pháp phân loại (chi, loài, dưới loài theo hệ thống Linnaeus) để làm rõ tính chuẩn hóa khoa học, chứ không tiến hành so sánh đối chiếu hệ thống loại hình ngôn ngữ toàn diện giữa tiếng Việt và tiếng Latinh.

3. Cấu tạo tên cây thuốc Việt Nam được luận án phân chia thành các dạng thức nào?

Luận án phân chia cấu tạo tên gọi cây thuốc thành hai nhóm lớn:

  • Tên gọi có cấu tạo là từ: gồm từ đơn (từ đơn tiết) và từ phức (chủ yếu là từ ghép chính phụ và từ láy).
  • Tên gọi có cấu tạo là cụm từ (ngữ định danh): phân loại chi tiết theo số lượng thành tố tham gia cấu tạo, gồm cụm từ 2 thành tố, 3 thành tố, 4 thành tố và 5 thành tố.

4. Cơ sở định danh tên cây thuốc Việt Nam có lý do dựa trên những căn cứ thực tiễn nào?

Các tên gọi cây thuốc có lý do trong tiếng Việt được định danh chủ yếu dựa trên các căn cứ: đặc điểm hình thái thực vật (thân, lá, hoa, quả, màu sắc, gai nhọn); đặc tính sinh thái và môi trường sống (dưới nước, trên cạn, núi cao, rừng rậm); tính chất cảm quan (mùi, vị: đắng, ngọt, chua, cay, thơm, thối); và công dụng chữa bệnh hoặc cơ quan tác động sinh học (chữa khớp, bổ gan, tiêu độc).

5. Những nét đặc trưng văn hóa - dân tộc nào được luận án phát hiện qua cách đặt tên cây thuốc của người Việt?

Đặc trưng văn hóa - dân tộc được biểu hiện qua 5 khía cạnh chính: hiện tượng biến đổi tên gọi linh hoạt; xu hướng lựa chọn đặc trưng trực quan cảm tính gắn với đời sống nông nghiệp lúa nước; thói quen tư duy ẩn dụ và nhân cách hóa (gán hình ảnh con vật, dụng cụ sinh hoạt vào cây cỏ); phương thức cá thể hóa sự vật qua các từ tố khu biệt đa tầng bậc; và dấu ấn tiếp xúc, tiếp nhận từ ngữ y học Hán - Việt.


Kết luận

Luận án "Đặc điểm định danh tên cây thuốc Việt Nam (có liên hệ tiếng Latinh)" của tác giả Trần Thị Hường là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về trường từ vựng tên cây thuốc dưới góc độ định danh học ngôn ngữ học. Dựa trên 1.966 tên gọi khảo sát từ Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2012), công trình đã phân tích chi tiết các đặc điểm nguồn gốc (thuần Việt, Hán - Việt, ngoại lai), mô hình cấu tạo (từ đơn, từ ghép, cụm từ 2 đến 5 thành tố) và các cơ sở định danh ngữ nghĩa, đồng thời đối chiếu với danh pháp nhị thức tiếng Latinh. Nghiên cứu chỉ ra những đặc trưng tư duy trực quan, lối liên tưởng ẩn dụ và dấu ấn văn hóa nông nghiệp lúa nước của người Việt trong việc định danh thế giới thực vật dược. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học hữu ích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học chuyên ngành cũng như công tác chuẩn hóa tên gọi trong giảng dạy và biên soạn tài liệu Y học cổ truyền.