Chương 1: Trung tâm Thông tin - Thư viện với nhu cầu tin của người dùng tin trong Đại học Quốc gia Hà Nội Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm Théng tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Chương 3: Các giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng rung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 16 CHUONG 1 TRUNG TAM THONG TIN - THU VIEN VOI NHU CAU TIN CUA NGUOI DUNG TIN TRONG DAI HQC QUOC GIA HA NOI 1. Những vấn đề chung về nhu cầu tin 1. Khái niệm như câu tin Nhu cau là đòi hỏi khách quan của con người đối với một đối tượng nhất định, trong điều kiện nhất định, đảm bảo duy trì cho sự sống và sự phát triển của con người; nhu cầu là sự xuất hiện và kết hợp giữa các phản xạ không điều kiện từ môi trường tác động đến bộ não của chúng ta nên nó mang. tính xã hội; là sản phẩm của xã hội; hình thành do kết quả tác động giữa hoàn cảnh bên ngoài và trạng thái bên trong của chủ thẻ; phát triển dưới sự chỉ phối trực tiếp của điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá ở một giai đoạn nhất định, tại một địa bàn cụ thể, trong hoàn cảnh khác nhau sẽ nảy sinh các nhu cầu và thoả mãn nhu cầu khác nhau.
Nhu cau tin là một dạng nhu cầu đặc biệt của con người. Nhu cầu tin là sự đôi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin đề duy trì các hoạt động sống của con người. Đây là một loại nhu cầu tinh thần của con người. Nhu cầu tin xuất phát từ phản xạ định hướng và chịu sự chỉ phối của thị giác.
Nếu không được thoả mãn sẽ trở nên gay gắt, khi được thoả mãn sẽ củng có vững chắc hơn, đề rồi lại phát triển cao hơn. Mỗi cá nhân khác nhau có nhu cầu đọc và nhu cầu tin khác nhau, đó là tâm lý và nhân cách của mỗi con người cụ thể và mỗi nhóm. người dùng tin cụ thể. Nhu cau tin c6 vai trò quan trọng, là nguồn gốc của hoạt động thông tin - thư viên.
Mục đích cuối cùng của hoạt động thông tỉn thư viện là thoả mãn 17 đầy đủ, kịp thời nhu cầu tin của người dùng tin. Chính vì vậy, nắm bắt nhu cầu tin là yếu tố quan trọng hàng dầu để đảm bảo triển khai hoạt động thông tin - thư viện.2 Vai trò của nghiên cứu nhu câu tin trong hoại động thông tìn — thư viện 'Thư viện là một thiết chế xã hội, là một cơ quan văn hoá. Qua từng giai đoạn lịch sử, trong từng thời kỷ, thư viện phải luôn luôn biến đổi để thích nghỉ với hoàn cảnh mới. Trong sự biến đổi của đất nước, sự biến đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đang đòi hỏi hoạt động thông tin rộng lớn.
Nếu không có hoạt động đó, các công trình nghiên cứu bị trùng lặp, các nhà nghiên cứu sẽ không biết kế thừa và phát huy các sáng tạo của lớp người di trước, không có sự chuyển giao giữa các hệ thống qua nguồn cung cắp thông tin trung gian là thư viện. Đặc biệt vào những năm 60 của thế kỷ, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thỏi một luồng không khí mới, các khái niệm “nhu cầu tin” “sản phẩm thông tin” “các hệ thống tìm tin” đã được phổ cập nhanh chóng trong hoạt động các thư viện. Nhu cầu tin ngày càng phức tạp, người đọc yêu cầu những thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, phù hợp với yêu cầu của họ. Muốn làm tốt công tác thư viện, người cán bộ thư viện phải nắm bắt được nhu cầu tin của bạn đọc, qua đó có sự phân chia nhóm bạn đọc để có định hướng cho việc phục vụ; bé sung vốn tài liệu phù hợp; hoàn thiện các chu trình hoạt động của thư viện và các sản phẩm dịch vụ thư viện phù hợp với nhu cầu của bạn đọc.
Các yếu tổ ảnh hưởng đến nhu câu tin Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin gồm có yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Yếu tổ khách quan Môi trường sống là môi trường bao quan con người, bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội 18 Mi trường xã hội: Đời sông văn hóa tỉnh thần phong phú là tiền đề cho nhu cầu tin phát triển. Nền văn hoá phát triển sẽ sản sinh ra thông tin đa dạng, sẽ được lưu truyền và chuyển tải bằng nhiều phương tiện khác nhau để có thể bảo quản và lưu truyền lại cho các thế hệ sau. Nhu cầu tin nếu được thoả mãn.
sẽ bền vững và sâu sắc hơn. Tinh than va trình độ lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tin. Trình độ càng cao thì phải đòi hỏi thông tin và kiến thức nhiều hơn. Bên cạnh đó, các quan hệ xã hội lành mạnh, hài hoà, dân chủ cũng góp phần làm cho đời sống tỉnh thần phong phú, kích thích nhu cầu tin phát triển.
Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng lớn tới đời sống của con người. Những vùng đất khác nhau thường để lại những dấu ấn khác nhau trong tính cách và xu hướng hoạt động của con người sinh sống tại đó. Để duy trì sự sống, con người luôn có ý thức hoà nhập với thiên nhiên. Nghê nghiệp: nghề nghiệp khác nhau để lại những dấu ấn khác nhau trong nội dung nhu cầu tin và tập quán sử dụng thông tin của mỗi người.
Hoạt động nghề nghiệp thường đòi hỏi ở mỗi người trí thức và kinh nghiệm nhất định Lửa tuổi: Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm lý riêng do hoạt động chủ đạo chỉ phối. Các đặc điểm của tâm lý lứa tuổi có ảnh hưởng khá rõ rệt tới nội dung và phương thức thoả mãn nhu cầu đọc và nhu cầu tin. Nội dung nhu cầu tin bi chi phối bởi các hoạt 6 chủ đạo của từng giai đoạn lứa tuôi và phương thức thoả mãn cũng bị chỉ phối bởi các đặc diém tam lý. Giới tính: Do đặc điểm sinh lý khác nhau, các giới khác nhau có những đặc điểm tâm lý khác nhau.
Đặc điểm giới tính cũng được biểu thị trong sắc thái nội dung và cách thức thoả mãn nhu cầu tin của mỗi người. Phương thức thoả mãn như cầu tin: Được thoả mãn bằng phương thức hiện đại, đầy đủ (kèm theo cảm xúc, hứng thú) nhu cầu tin sẽ ngày càng phát 19 triển ở mức độ cao hơn. Nếu nhu cầu tin được thoả mãn, chu kỳ của nhu cầu tin sẽ được rút ngắn lại, nếu không được thoả mãn trong thời gian dài nhu cầu sẽ bị giảm và thoái hoá. Yếu tổ chủ quan ông Trình độ học vấn: trình độ học vấn có ảnh hưởng trực tiếp tới đời tỉnh thần của con người.
NDT có trình độ văn hoá cao thường có nhu cầu nhận thức rất cao, nhu cầu thông tin sâu rộng, có khả năng tiếp cận tới các nguồn thông tin hiện đại NDT có trình độ văn hoá chưa cao thường hướng tới các biến cố của đời sống xã hội, chủ yếu họ tìm kiếm thông tin phổ cập trong xã hội qua các phương tiện thông tin đại chúng. Nhân cách (văn hoá): Nhân cách là tổng hợp những phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của họ. Nhân cách tồn tại và phát triển trong hoạt động. Nhân cách cũng là thước đo giá trị của mỗi con người trong xã hội.
Nhu cầu là một bộ phận cấu thành xu hướng- một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người. Những đặc điểm riêng trong nhân cách mỗi người cũng tạo nên phong cách hành vi đặc trưng trong quá trình tìm kiếm, truy cập thông tin, tạo nên tập quán sử dụng thông tin riêng biệt của mỗi người hay từng nhóm người dùng tin khác nhau.2 Khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội 1.1 Sơ lược về lịch sử ra đời và phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi: viét tắt là VNU) được thành lập theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 trường đại học lớn ở Hà Nội: Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội I và Đại 20 học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội với mục tiêu trở thành Trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đồng thời là một trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của cả nước. Theo Quyết định 201/QĐ-TTg ngày 12/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) gắn với lịch sử hình thành và phát triển của những trường ĐH tiêu biểu ở Việt Nam trong suốt bề dày của thế kỷ XX, bắt đầu từ trường đại học Đông Dương (16/05/1906) có cơ sở tại 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội. Đây là trường ĐH đầu tiên ở Việt Nam (thời kỳ Pháp) được tổ chức theo mô hình trường ĐH đa ngành, đa lĩnh vực.
Xét về đội ngũ cán bộ, cơ. sở vật chất-kỹ thuật va chương trình đào tạo, ĐHQGHN ngày nay là sự nối tiếp truyền thống và uy tín của các trường đại học lớn ở Việt Nam từ Đại học Đông Dương (1906), Đại học Quốc gia Việt Nam (1945) đến Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956) và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ sau này (1967), 'Ngày 1/2/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2001/NĐ-CP về DHQGHN. Day là mốc lịch sử đánh dấu giai đoạn phát triển mới về quy mô và chất lượng của ĐHQGHN - một Trung tâm đào tạo đại học, sau dai hoc, nghiên cứu và ứng dụng khoa học ~ công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao hàng đầu, đóng vai trò nòng cốt của hệ thống giáo dục đại học của cả nước. Ngày 12 tháng 02 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia, khẳng định và tăng cường hơn nữa quyền tự chủ của các Đại học Quốc gia trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là đào tạo, nghiên cứu khoa học - công nghệ, tổ chức cán bộ, kế hoạch - tài chính và hợp tác quốc tế.
Hiện tại, ĐHQGHN có trên 60 ngành học được đảo tạo theo hai loại hình: hệ chính quy tập trung và hệ không tập trung.