CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NHU CẦU ĐI DU LỊCH 1. Cơ sở lý luận về nhu cầu du lịch 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nhu cầu Nhu cầu là một khái niệm rộng, là đối tượng nghiên cứu của triết học, tâm lý học, kinh tế học, xã hội học… Có thể nói mọi thứ trên thế giới đều xuất phát từ nhu cầu.
Nhà hàng được bắt nguồn từ nhu cầu ăn uống, cửa hàng thời trang thì từ nhu cầu mặc đẹp,. Hiện nay chưa có khái niệm rõ ràng về nhu cầu nhưng theo Nguyễn Bá Minh (2010) [2], Nhu cầu và vấn đề điều khiển hành vi thì điều này được định nghĩa như sau: “Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi con người nói riêng”. Nhu cầu đơn giản là một hiện tượng tâm lý cơ bản của con người, chính là sự đòi hỏi, sự mong muốn, khao khát và nguyện vọng của con người về vật chất hay tinh thần nhằm thỏa mãn bản thân. Mỗi người sẽ có một lối sống, quan điểm, môi trường và trình độ văn hóa, nhận thức khác nhau mà vì thế mỗi người sẽ có những nhu cầu mong muốn khác nhau.
Nhu cầu của một con người thì nó luôn đa dạng, phong phú và có sự biến đổi hàng ngày. Dường như mỗi người đều có cho mình nhiều nhu cầu khác nhau để đáp ứng với hoàn cảnh sống hiện tại. Từ điển Bách Khoa toàn thư triết học Liên Xô thì cho rằng “Nhu cầu là sự cần hay thiếu hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì hoạt động sống của cơ thể một cá nhân con người, một nhóm xã hội hay toàn bộ xã hội nói chung”. Như vậy có thể thấy rằng nhu cầu là sự thiếu hụt một cái gì đó cần được bù đắp lại để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển một cách bình thường.
Một nhà tâm lý học Xô Viết lại cho rằng: “Nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và sự phát triển của con người” [10]. Vậy nên, nhu cầu đã thúc đẩy tích cực con người để đáp ứng được những mong muốn cá nhân tại thời điểm hiện tại hay tương lai, cũng như thể hiện mối quan hệ tích cực giữa cá nhân và hoàn cảnh. Ngoài ra, nhu cầu cũng tạo cho cá nhân những mục tiêu cụ thể, động lực cố gắng để hoàn thành nhằm thỏa mãn mong cầu của bản thân. Điều này đã chứng minh rằng nhu cầu cũng chính là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người.
9 Trên cơ sở phân tích, tiếp thu các quan điểm khác nhau từ những nhà nghiên cứu, tâm lý học về nhu cầu và trong mục đích của đề tài thì nhóm tác giả đã chọn định nghĩa: “Nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và sự phát triển của con người”. Khái niệm du lịch Luật du lịch năm 2017 [4] đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Hiệp hội quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO) [10] cho rằng: “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian, môi trường của du khách thì du lịch là một trong những hình thức di chuyển đến một địa điểm khác trong một khoảng thời gian ngắn như từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nhưng không thay đổi về nơi cư trú.
Mục đích của mỗi chuyến đi có thể là vui chơi, giải trí, khám phá, nghỉ dưỡng hay đi công tác, làm việc. Ở góc độ kinh tế thị trường thì du lịch chính là một ngành dịch vụ mang lại lợi ích kinh tế cao. Trong đó du lịch có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, khám phá, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Hiện nay, du lịch còn là nền kinh tế mũi nhọn ở nhiều quốc gia, và việc tận dụng ngành công nghiệp “không khói bụi” này còn được ưu tiên nguồn lực để phát triển nền kinh tế quốc gia 1.
Khái niệm đi du lịch Đi du lịch được định nghĩa là các hoạt động đi lại của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình không quá một năm liên tục để nghỉ ngơi giải trí, kinh doanh hoặc với mục đích khác. Tổ chức Lao động Quốc tế định nghĩa về ngành khách sạn, dịch vụ ăn uống và du lịch [1] khác so với định nghĩa về ngành du lịch đang được hầu hết các tổ chức sử dụng. 10 Định nghĩa của I. Pirogionic (1985) [6] như sau: “Đi du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi có liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá và thể thao kèm theo việc sử dụng các giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá”.
Hiệp hội quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO) [10] cho rằng: “Đi du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: đi du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Khái niệm nhu cầu đi du lịch Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2009) [1] “Nhu cầu đi du lịch là sự mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở thường xuyên của mình để có được những xúc cảm mới, trải nghiệm mới, hiểu biết mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự thoải mái dễ chịu về tinh thần”. Nhu cầu đi du lịch khác với nhu cầu của khách du lịch.
Nhu cầu đi du lịch không phải là nhu cầu cơ bản, do vậy, nhu cầu đi du lịch chỉ được thỏa mãn trong những điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về kinh tế, kỹ thuật, xã hội… Còn nhu cầu của khách du lịch là những mong muốn cụ thể của khách du lịch trong một chuyến du lịch cụ thể, nó bao gồm: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bổ sung. Nội dung của nhu cầu du lịch Tháp nhu cầu Maslow có tên gọi đầy đủ là Maslow’s Hierarchy of Needs, được Abraham Maslow đề xuất vào năm 1943. Là một thuyết về tâm lý học đại diện cho những hành vi, tâm lý phổ biến của con người theo mô hình 5 tầng của kim tự tháp, mỗi tầng tượng trưng cho một nhóm nhu cầu cơ bản của con người, bắt đầu từ các nhu cầu đơn giản đến phức tạp hơn như sau: 11 Hình 1. Tháp nhu cầu Maslow Nguồn: Gitiho.com Nhu cầu sinh lý (Physiological needs) là tầng thứ nhất của tháp nhu cầu bao gồm những nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người về thức ăn, nước uống, không khí, giấc ngủ, quần áo, tình dục, bài tiết và nơi trú ẩn.
Đây là những nhu cầu mà nếu không được đáp ứng đủ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sinh tồn của con người. Việc đáp ứng các nhu cầu sinh lý là điều kiện tiên quyết để con người có thể tồn tại và phát triển. Đây được xem là nhu cầu cơ bản nhất, rộng rãi nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất của loài người. Theo Maslow, chỉ khi đáp ứng được tầng nhu cầu sinh lý này, mỗi người mới có thể đạt được những bậc tiếp theo trong mô hình tháp.
Nhu cầu an toàn (Safety needs) là cấp bậc thứ 2 trong tháp nhu cầu Maslow. Nhu cầu về an toàn thể hiện về cả thể chất lẫn tinh thần ví dụ như có một nơi ở an toàn, bảo vệ khỏi nguy cơ về thức ăn, nước uống, y tế và môi trường, không bị đe dọa bởi xung đột, bạo lực, bất công hoặc tình trạng tinh thần không ổn định,. Khi con người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản ở tầng thứ nhất, họ sẽ có nhu cầu cao hơn. 12 Việc đáp ứng các nhu cầu đảm bảo an toàn sẽ giúp con người cảm thấy an tâm và thoải mái, từ đó có thể tập trung vào việc phát triển các nhu cầu tiếp theo (cao hơn).
Ở tầng thứ ba là nhu cầu về xã hội (Love/ Belonging needs): con người mong muốn được tham gia các hoạt động xã hội, được yêu thương, được mưu cầu hạnh phúc thông qua quá trình giao tiếp như tìm bạn, kết bạn, lập gia đình, tìm người yêu, tham gia trường học, câu lạc bộ, công ty,… nhằm loại bỏ cảm giác cô đơn, buồn bã khi ở một mình, mang lại sự thân thuộc, gần gũi và sẻ chia. Cũng theo Abraham Maslow nhu cầu xã hội được coi là dấu vết của bản chất sống bầy đàn từ thời nguyên thủy của xã hội loài người. Tầng tiếp theo là nhu cầu được kính trọng (Esteem needs) bao gồm 2 yếu tố đó là: lòng tự trọng của bản thân và được người khác tôn trọng. Cụ thể, lòng tự trọng với bản thân chính là coi trọng đạo đức bản thân, phẩm giá, thành tích, khả năng làm chủ, độc lập.
Còn nhu cầu được người khác tôn trọng là mong muốn về danh tiếng, sự tôn trọng từ bên ngoài (danh tiếng, địa vị, mức độ thành công). Thực tế cho thấy khi con người xuất hiện nhu cầu cấp độ này, mỗi cá nhân sẽ tự biết cố gắng nỗ lực, phát triển để thăng tiến hơn trong công việc, cuộc sống. Nhu cầu thể hiện bản thân (Self - actualization needs) là cấp bậc cao nhất trong tháp nhu cầu của Maslow, biểu thị sự thăng tiến và phát triển cá nhân đạt đến đỉnh cao của mỗi người.