Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa Du lịch của tác giả Vũ Văn Quân (Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2023) đặt vấn đề trong bối cảnh du lịch ngày càng khẳng định vai trò là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, hỗ trợ các lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, ăn uống và nghỉ ngơi, đồng thời tạo sinh kế cho lao động khu vực nông thôn. Tuy nhiên, trong hai năm 2020–2021, đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn cầu và tại Việt Nam đã khiến hoạt động du lịch chịu tổn thất nặng nề, rơi vào trạng thái đóng băng cục bộ. Bước sang giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, việc tái thiết và kích cầu du lịch trở thành yêu cầu cấp thiết.

Tỉnh Nam Định sở hữu vị trí địa lý thuận lợi tại vùng đồng bằng sông Hồng, giàu có về tài nguyên tự nhiên lẫn các giá trị văn hóa - lịch sử phong phú, hội tụ đủ điều kiện phát triển các loại hình du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái và nghỉ dưỡng biển. Mặc dù vậy, hoạt động du lịch của địa phương thời gian qua phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; công tác xúc tiến du lịch còn mang tính tự phát; hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá khách quan thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Nắm bắt thực trạng ngành du lịch tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2020–2022 dưới tác động của đại dịch COVID-19 và bước đầu thích ứng, phục hồi.
  2. Xác định các điểm nghẽn, tồn tại và nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng của ngành du lịch địa phương.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy du lịch tỉnh Nam Định phát triển bền vững và hiệu quả hơn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình phát triển du lịch của tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2020–2022.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính và lãnh thổ du lịch của tỉnh Nam Định.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào chuỗi dữ liệu thực trạng trong giai đoạn 2020–2022.
  • Phạm vi nội dung: Hiện trạng phát triển ngành du lịch (khách du lịch, doanh thu, hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực, môi trường, sản phẩm và không gian lãnh thổ) và các nguồn lực phát triển du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung nghiên cứu dựa trên các căn cứ pháp lý và lý luận chuyên ngành:

  • Khung pháp lý và khái niệm: Tác giả trích dẫn và vận dụng các khái niệm nền tảng quy định tại Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 (Luật số 09/2017/QH14), bao gồm định nghĩa pháp lý về: "Du lịch", "Khách du lịch", "Tài nguyên du lịch" (phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa), "Sản phẩm du lịch", "Điểm du lịch", và "Cơ sở lưu trú du lịch".
  • Khung điều kiện phát triển du lịch: Đề tài phân tích hai nhóm điều kiện chính:
    • Điều kiện chung: An ninh chính trị và an toàn xã hội; tăng trưởng kinh tế; chính sách phát triển của Nhà nước; hệ thống giao thông vận tải; quỹ thời gian rỗi của du khách.
    • Điều kiện riêng: Môi trường tự nhiên (địa hình, khí hậu, tài nguyên động - thực vật) và các giá trị văn hóa, lịch sử, thành tựu kinh tế - chính trị.
  • Văn bản định hướng phục hồi: Vận dụng Kế hoạch số 3228/KH-BVHTTDL ngày 07/9/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về các giải pháp phục hồi hoạt động du lịch trong trạng thái bình thường mới.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả phối hợp các phương pháp sau:

  • Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa: Đến thực tế các điểm đến, khu di tích, bãi biển và làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh để quan sát, thu thập dữ liệu về cảnh quan, hạ tầng và môi trường tiếp đón du khách.
  • Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu: Khai thác tư liệu thứ cấp từ các cơ quan nhà nước tại địa phương, các báo cáo chuyên đề và số liệu từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định.
  • Phương pháp tổng hợp so sánh, thống kê: Phân loại, đối chiếu các chỉ tiêu về lượng khách, doanh thu và nguồn nhân lực qua các mốc thời gian từ năm 2019 đến năm 2022.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chia nhỏ các cấu phần cấu thành ngành du lịch để đánh giá thuộc tính, sau đó xâu chuỗi nhằm đưa ra nhận định toàn diện.
  • Phương pháp bản đồ: Định vị không gian địa lý, khoảng cách các cụm điểm tham quan, địa hình và mạng lưới giao thông phục vụ phân vùng du lịch.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình bao gồm số liệu thống kê chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định năm 2022, Cổng thông tin điện tử tỉnh Nam Định, Niên giám thống kê, cùng các công trình luận văn thạc sĩ đi trước nghiên cứu về du lịch Nam Định (như nghiên cứu của Trần Diễm Hằng, Vũ Thị Hòa, Nguyễn Thị Thu Duyên, Trần Thị Lan, Nguyễn Thị Anh Tú cùng thực hiện năm 2016).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Du lịch và tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Nam Định

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, đồng thời kiểm kê toàn diện các nguồn lực tự nhiên và nhân văn của tỉnh Nam Định phục vụ phát triển du lịch:

  • Điều kiện tự nhiên và địa kinh tế: Tỉnh Nam Định có diện tích đất tự nhiên là 165.145,72 ha (chiếm 0,52% diện tích cả nước, xếp thứ 57/63 tỉnh, thành). Địa hình phân hóa thành vùng đồng bằng thấp trũng và vùng đồng bằng ven biển; thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam (điểm cao nhất là đỉnh núi Gôi cao 122m, điểm thấp nhất là -3m tại vùng trũng huyện Ý Yên). Tỉnh có mạng lưới sông ngòi dày đặc với ba con sông lớn là sông Hồng, sông Đáy và sông Ninh Cơ. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23–24°C, trung bình 250 ngày nắng/năm, lượng mưa trung bình từ 1.800 mm, chịu ảnh hưởng từ 4–6 cơn bão/năm. Chế độ thủy triều ven biển là nhật triều với biên độ 1,6–1,7m; thấu kính nước ngọt ven biển có diện tích khoảng 775 km². Năm 2022, GRDP của tỉnh ước đạt 53.180 tỷ đồng (giá so sánh 2010), quy mô GRDP giá hiện hành đạt 91.966 tỷ đồng, trong đó khu vực dịch vụ chiếm 34,78%. Mạng lưới giao thông liên vùng gồm các tuyến Quốc lộ 10, 21A, 37B, 38B, cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, tuyến đường sắt quốc gia dài 42 km và cảng biển Hải Thịnh.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên:
    • Vườn quốc gia Xuân Thủy (huyện Giao Thủy): Diện tích vùng đất ngập nước trên 7.000 ha, ghi nhận gần 200 loài chim (trong đó có gần 100 loài chim di cư, 48 loài chim nước, 9 loài được ghi trong Sách đỏ quốc tế), 6 loài thú chính, 57 loài giáp xác, 28 loài nhuyễn thể và 55 loài cá.
    • Tài nguyên du lịch biển: Các bãi tắm thoải, cát mịn, giữ nét tự nhiên gồm Quất Lâm (Giao Thủy), Thịnh Long (Hải Hậu) và Rạng Đông (Nghĩa Hưng).
    • Hệ sinh thái và cảnh quan sông: Rừng ngập mặn Nghĩa Hưng nằm giữa hai cửa sông Đáy và Ninh Cơ; sinh cảnh hạ lưu sông Hồng với bãi bồi ven sông và các vùng trồng cây cảnh.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn:
    • Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa: Tỉnh có gần 2.000 di tích (84 di tích cấp quốc gia và 174 di tích cấp tỉnh). Tiêu biểu là Quần thể di tích lịch sử - văn hóa Trần gồm 45 di tích (Đền Thiên Trường, Đền Trùng Hoa lưu giữ 14 pho tượng vua Trần bằng đồng nặng 9 tạ/pho, Đền Cố Trạch, Chùa Phổ Minh với tháp cổ 14 tầng cao 19,51m, Đền Bảo Lộc, Đền Lựu Phố, Chùa Đệ Tứ); Quần thể di tích Phủ Dầy (Phủ Tiên Hương 19 tòa 81 gian, Phủ Vân Cát, Lăng Mẫu xây bằng đá năm 1938); Chùa Cổ Lễ (tháp Cửu phẩm liên hoa cao 32m đặt trên móng 50 cây gỗ lim, chuông đồng nặng 9.000 kg); Chùa Keo Hành Thiện; Chùa Lương và Cầu Ngói Chợ Lương kiến trúc "Thượng gia hạ trì" dựng trên 18 cột đá; Nhà thờ Phú Nhai (tháp chuông cao 44m); Cột cờ Thành Nam (cao 23,84m, xây dựng năm 1812); Nhà lưu niệm Cố Tổng bí thư Trường Chinh; Chùa Ngô Xá và Phế tích tháp Chương Sơn thời Lý (từng khai quật 900 m², ước tính tháp cao 57m).
    • Di sản văn hóa phi vật thể và làng nghề: UNESCO đã ghi danh "Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; toàn tỉnh có hơn 100 lễ hội truyền thống (Lễ hội Đền Trần khai ấn, Lễ hội Phủ Dầy, Chợ Viềng Xuân họp phiên mùng 7–8 tháng Giêng âm lịch với món bê thui truyền thống). Tỉnh có các làng nghề nổi tiếng: hoa cây cảnh Vị Khê (hơn 700 năm), chạm khắc gỗ La Xuyên, đúc đồng Tống Xá (nơi đúc tượng đài Điện Biên Phủ 240 tấn và tượng Phật Bái Đính 100 tấn), sơn mài Cát Đằng, ươm tơ Cổ Chất và dệt đũi Cự Trữ, làng nghề làm muối Hải Hòa, Giao Lâm, Nghĩa Thắng; cùng văn hóa ẩm thực đặc trưng (nem nắm, cá chạch kho niêu, gỏi nhệch, xíu páo).

Chương 2: Thực trạng phát triển ngành du lịch của tỉnh Nam Định giai đoạn 2020 - 2022

Chương 2 phản ánh chi tiết sự gián đoạn và phục hồi của ngành du lịch Nam Định trong bối cảnh chịu tác động của dịch bệnh COVID-19:

  • Công tác quản lý và ứng phó dịch bệnh: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Phòng An ninh đối ngoại Công an tỉnh (PA01) rà soát khách nước ngoài, bố trí cơ sở lưu trú làm điểm cách ly y tế, đồng thời từng bước phục hồi hoạt động theo Kế hoạch 3228/KH-BVHTTDL khi Việt Nam chính thức mở cửa du lịch từ 15/3/2022.
  • Biến động lượng khách và doanh thu:
    • Giai đoạn 2020–2021 ghi nhận mức sụt giảm nghiêm trọng. Năm 2020, tổng lượng khách đạt khoảng 1.430.000 lượt (chỉ bằng 54% so với năm 2019). Trong cơ cấu khách năm 2020: khách lễ hội và tham quan di tích lịch sử chiếm ưu thế áp đảo với khoảng 860.000 lượt; du lịch sinh thái và biển đạt khoảng 360.000 lượt (chiếm 25,2%); khách công vụ và thăm thân kết hợp du lịch đạt khoảng 210.000 lượt (chiếm 14,6%).
    • Đến đầu tháng 9/2021, lượng khách tham quan đạt 471.000 lượt (bằng 44,2% cùng kỳ 2020). Sang tháng 9/2022, khi dịch bệnh được kiểm soát, tổng số lượt khách phục hồi lên 765.000 lượt (tăng 62,4% so với cùng kỳ).
    • Về doanh thu: Doanh thu năm 2020 đạt khoảng 415 tỷ đồng (giảm 51% so với năm 2019); trong đó dịch vụ ăn uống và lưu trú đạt 249 tỷ đồng, dịch vụ lễ hội và mua sắm đạt 104 tỷ đồng, dịch vụ lữ hành và vận chuyển đạt 62 tỷ đồng. Theo bảng tổng quan tại văn bản, doanh thu du lịch đến đầu tháng 9/2021 ước đạt khoảng 154.000 tỷ đồng (bằng 49% cùng kỳ 2020) và đầu tháng 9/2022 ước đạt khoảng 252.000 tỷ đồng (tăng 63,6% cùng kỳ).
    • Về thời gian lưu trú: Thị trường khách nội địa (chủ yếu từ Hà Nội và các tỉnh lân cận) chỉ lưu trú bình quân 1,3–1,5 ngày; khách quốc tế lưu trú bình quân 1,5–1,8 ngày với tỷ trọng rất nhỏ.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ: Toàn tỉnh có 666 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, trong đó có 387 cơ sở lưu trú với 5.617 buồng phòng. Mặc dù số lượng tăng, các cơ sở chủ yếu có quy mô nhỏ, chất lượng bình dân, thiếu vắng hoàn toàn các khách sạn đạt tiêu chuẩn 4–5 sao. Dịch vụ vui chơi giải trí ngoài khách sạn rất nghèo nàn, hầu như chỉ dừng lại ở các dịch vụ cơ bản như karaoke, massage, bóng đá, thể thao đơn thuần.
  • Nguồn nhân lực du lịch: Lực lượng lao động du lịch gồm khoảng 6.000 lao động trực tiếp (làm việc tại 544 cơ sở kinh doanh dịch vụ, 326 cơ sở lưu trú) và 12.000 lao động gián tiếp. Trình độ chuyên môn còn thấp: tỷ lệ lao động có trình độ đại học/cao đẳng chỉ chiếm 8,5%; trình độ trung cấp 15–20%; sơ cấp 30%; còn lại gần 50% là lao động phổ thông chưa qua đào tạo chính quy. Ở khối lao động gián tiếp, tỷ lệ lao động dưới trình độ sơ cấp lên tới 53,59%.
  • Hiện trạng môi trường tại các điểm du lịch làng nghề: Toàn tỉnh có 142 làng nghề (17 làng nghề truyền thống với khoảng 16.000 hộ làm nghề). Nhiều làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng:
    • Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên (xã Nam Thanh, Nam Trực) với hơn 200 hộ, tái chế 1.500 tấn nhôm/tháng, dùng 40 tấn than đá và 2 tấn hóa chất tẩy trắng, thải ra 4–5 tấn chất thải rắn nguy hại/ngày và hàng trăm m³ nước thải chứa axit, xút, crom chưa qua xử lý.
    • Làng nghề cơ khí Vân Chàng (Nam Giang, Nam Trực) có 283 hộ, tiêu thụ 300 tấn than và 112,5 tấn hóa chất (axit, xút)/tháng.
    • Làng nghề sơn mài, mây tre đan Yên Tiến (Ý Yên) tiêu thụ khoảng 100 tấn nứa/ngày, thói quen ngâm nứa trực tiếp xuống kênh mương gây ô nhiễm nguồn nước.
    • Tình trạng sử dụng hóa chất độc hại, sơn mạ tại La Xuyên, Xuân Tiến hay ô nhiễm mùi hữu cơ tại làng bún Phong Lộc, nước mắm Sa Châu làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cảnh quan đón khách.
  • Quy hoạch không gian và các dự án đầu tư hạ tầng: Không gian du lịch được định hình thành 2 vùng chính: vùng du lịch trung tâm (TP. Nam Định và phụ cận) và vùng sinh thái nghỉ dưỡng biển (Giao Thủy, Hải Hậu). Tỉnh đã quy hoạch và chuẩn bị các dự án đầu tư lớn như: Khu phức hợp dịch vụ, thương mại, nghỉ dưỡng Mỹ Lộc (1.500 ha); Tổ hợp TTTM, khách sạn và nhà phố shophouse tại TP. Nam Định (1 ha); Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Thủy (2.000 ha); Khu du lịch Rạng Đông (800 ha); Khu nghỉ dưỡng tắm biển Giao Thủy (85 ha); Khu đô thị, du lịch và công nghiệp ven biển Nghĩa Hưng (4.000 ha). Địa phương cũng bắt đầu ứng dụng chuyển đổi số qua Dự án "Du lịch thông minh - gắn QR-Code tại các điểm du lịch".

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu cơ bản phản ánh thực trạng phát triển du lịch tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2020–2022 theo dữ liệu khóa luận:

Tiêu chí Năm 2020 Đầu tháng 9/2021 Tháng 9/2022
Lượng khách du lịch Khoảng 1.430.000 lượt (bằng 54% năm 2019) Khoảng 471.000 lượt (bằng 44,2% cùng kỳ 2020) 765.000 lượt (tăng 62,4% so với cùng kỳ 2021)
Cơ cấu khách theo loại hình - Lễ hội, di tích: 860.000 lượt
- Sinh thái, biển: 360.000 lượt (25,2%)
- Công vụ, thăm thân: 210.000 lượt (14,6%)
Suy giảm mạnh trên toàn bộ các phân khúc Phục hồi dần ở phân khúc tham quan, lễ hội
Doanh thu du lịch Ước đạt 415 tỷ đồng (giảm 51% so với 2019) Ước đạt khoảng 154.000 tỷ đồng (bằng 49% cùng kỳ 2020) Ước đạt khoảng 252.000 tỷ đồng (tăng 63,6% cùng kỳ 2021)
Cơ cấu chi tiêu của khách - Dịch vụ ăn uống: ~33,0%
- Lưu trú: ~20,0–24,0%
- Lữ hành, vận chuyển: Tỷ trọng nhỏ
Chi tiêu sụt giảm do hạn chế lưu trú Phục hồi tại các dịch vụ ăn uống và tham quan
Cơ sở vật chất kỹ thuật 666 cơ sở dịch vụ; 387 cơ sở lưu trú (5.617 buồng phòng) Hoạt động cầm chừng, chuyển đổi công năng cách ly Tái hoạt động thích ứng trạng thái bình thường mới
Nguồn nhân lực trực tiếp 6.000 người (Đại học: 8,5%; Trung cấp: 15–20%; Phổ thông: ~50%) Thiếu hụt cục bộ do dịch chuyển việc làm Từng bước tuyển dụng và đào tạo lại nhân lực

Chương 3: Giải pháp phát triển ngành du lịch tỉnh Nam Định

Dựa trên các tồn tại về hạ tầng, tính thời vụ, chất lượng nhân lực và ô nhiễm môi trường đã làm rõ ở Chương 2, tác giả đề xuất khung định hướng và hệ thống giải pháp phát triển du lịch Nam Định:

  • Định hướng phát triển thị trường và sản phẩm chủ yếu: Mở rộng thị trường khách nội địa từ vùng Đồng bằng sông Hồng và Hà Nội; từng bước khai thác thị trường khách quốc tế đi đôi với kéo dài thời gian lưu trú. Đa dạng hóa danh mục sản phẩm, chuyển dịch từ thế mạnh đơn thuần về lễ hội, tâm linh sang kết hợp du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Thủy, nghỉ dưỡng biển Quất Lâm - Thịnh Long, du khảo đồng quê, du lịch tham quan hệ thống nhà thờ Thiên chúa giáo và du lịch trải nghiệm làng nghề.
  • Tổ chức không gian du lịch theo vùng và tuyến: Hoàn thiện tổ chức 2 vùng du lịch động lực; phát triển các cụm điểm trọng điểm (cụm trung tâm TP. Nam Định, cụm văn hóa Phủ Dầy, cụm sinh thái biển Xuân Thủy, cụm nghỉ dưỡng Thịnh Long - Quất Lâm). Thiết lập các tuyến du lịch đường sông dọc hạ lưu sông Hồng và đẩy mạnh liên kết liên tỉnh với Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng.
  • Huy động vốn và cơ chế đầu tư: Thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn, đẩy mạnh cơ chế xã hội hóa thu hút các nhà đầu tư chiến lược xây dựng cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao sao (4–5 sao), khu phức hợp nghỉ dưỡng và công trình vui chơi giải trí ban đêm.
  • Phát triển nguồn nhân lực du lịch: Hoàn thiện chính sách đãi ngộ nhằm thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao; liên kết các trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ buồng, bàn, bar, bếp, lễ tân và nâng cao trình độ ngoại ngữ cho hướng dẫn viên du lịch.
  • Ứng dụng khoa học công nghệ và xúc tiến quảng bá: Xây dựng cơ sở dữ liệu số ngành du lịch; đẩy mạnh ứng dụng du lịch thông minh qua hệ thống quét mã QR-Code tại toàn bộ các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh; triển khai chiến dịch quảng bá trực tuyến trên các nền tảng số.
  • Giải pháp bảo vệ môi trường du lịch: Kiểm soát quy hoạch xây dựng tại các khu du lịch biển; đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom và xử lý nước thải, rác thải công nghiệp tại 17 làng nghề truyền thống (đặc biệt là các làng đúc nhôm Bình Yên, cơ khí Vân Chàng, sơn mài Yên Tiến) để đảm bảo vệ sinh môi trường phục vụ khách tham quan.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả thực tiễn, khóa luận cung cấp một bức tranh toàn diện và số liệu có hệ thống về giai đoạn biến động lớn nhất của ngành du lịch Nam Định (2020–2022). Khóa luận làm rõ sự sụt giảm của lượng khách và doanh thu trong các năm 2020–2021 (năm 2020 giảm 51% doanh thu so với năm 2019; tháng 9/2021 lượng khách giảm xuống chỉ còn 471.000 lượt), đồng thời ghi nhận đà tăng trưởng phục hồi vào tháng 9/2022 khi lượng khách đạt 765.000 lượt (tăng 62,4%) và doanh thu tăng 63,6%. Công trình bóc tách chính xác các số liệu về hạ tầng (387 cơ sở lưu trú với 5.617 buồng phòng), cơ cấu lao động (8,5% đạt trình độ đại học, 50% lao động phổ thông) và mức độ ô nhiễm môi trường cụ thể tại các làng nghề tiêu biểu.

Về đóng góp nghiên cứu, công trình bổ khuyết dữ liệu quan trọng cho giai đoạn hậu COVID-19 đối với ngành du lịch tỉnh Nam Định. So với các luận văn thạc sĩ thực hiện năm 2016 chỉ nghiên cứu giai đoạn 2000–2012 hoặc tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ (như du lịch văn hóa tâm linh của Nguyễn Thị Thu Duyên, du lịch bền vững của Vũ Thị Hòa, du lịch cộng đồng ven biển của Trần Thị Lan), khóa luận của tác giả Vũ Văn Quân đã tổng hợp đa chiều từ tài nguyên, kinh tế, hạ tầng đến môi trường làng nghề và chuyển đổi số (Dự án gắn mã QR-Code). Hệ thống giải pháp được đề xuất bám sát các chỉ đạo phục hồi của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có tính khả thi đối với công tác điều hành tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu và điều kiện thu thập tư liệu:

  • Do bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp trong phần lớn giai đoạn nghiên cứu, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả từ báo cáo hành chính của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh; chưa thực hiện được các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn với bảng hỏi khảo sát mức độ hài lòng của du khách (cỡ mẫu n cụ thể).
  • Số liệu khảo sát của năm 2022 dừng lại ở mốc thời điểm tháng 9/2022, do đó chưa phản ánh trọn vẹn kết quả cả năm của chu kỳ phục hồi kinh tế.

Hướng nghiên cứu mở rộng được gợi mở bao gồm:

  • Tiếp tục theo dõi chu kỳ tăng trưởng của du lịch Nam Định trong các năm tiếp theo khi thị trường quốc tế mở cửa hoàn toàn.
  • Nghiên cứu sâu về các mô hình kỹ thuật xử lý chất thải rắn và nước thải cụ thể cho các cụm làng nghề nhằm phát triển mô hình du lịch làng nghề không khói.
  • Đánh giá tính khả dụng và hiệu quả thực tế của mô hình chuyển đổi số và ứng dụng du lịch thông minh (hệ thống mã QR-Code) tại các điểm di tích trọng điểm.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Người học và nghiên cứu viên: Sinh viên các chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý văn hóa làm cơ sở tham khảo phương pháp tiếp cận đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch của một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước địa phương: Cán bộ công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định, phòng văn hóa - thông tin các huyện, thành phố có thêm tư liệu tham khảo về hiện trạng phân bố cơ sở lưu trú, điểm nghẽn nhân lực và áp lực ô nhiễm môi trường làng nghề phục vụ công tác quy hoạch, quản trị.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Danh mục thống kê chi tiết các di tích lịch sử văn hóa (Quần thể di tích thời Trần, Phủ Dầy, hệ thống chùa, nhà thờ) và số liệu đo lường chất thải tại các làng nghề sản xuất truyền thống tại Chương 1 và Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu khách du lịch tỉnh Nam Định năm 2020 phân bổ như thế nào theo mục đích chuyến đi?
Trong tổng số khoảng 1.430.000 lượt khách năm 2020, khách tham dự lễ hội và tham quan di tích lịch sử - văn hóa chiếm số lượng lớn nhất với khoảng 860.000 lượt. Khách đến các khu du lịch sinh thái và du lịch biển đạt khoảng 360.000 lượt (chiếm 25,2%). Khách công vụ và thăm thân kết hợp du lịch đạt khoảng 210.000 lượt (chiếm 14,6%).

2. Thực trạng trình độ đào tạo của nguồn nhân lực trực tiếp ngành du lịch Nam Định được ghi nhận ra sao?
Trong khoảng 6.000 lao động du lịch trực tiếp trên địa bàn tỉnh, chất lượng chuyên môn còn rất thấp: chỉ có 8,5% lao động đạt trình độ đại học/cao đẳng; 15–20% có trình độ trung cấp; 30% có trình độ sơ cấp; và gần 50% còn lại là lao động phổ thông, chủ yếu làm việc tại các cơ sở tư nhân vùng ven biển.

3. Hoạt động của làng nghề truyền thống gây ra những áp lực môi trường cụ thể nào cho du lịch Nam Định?
Nhiều làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: làng đúc nhôm Bình Yên (huyện Nam Trực) thải ra 4–5 tấn chất thải rắn nguy hại/ngày và hàng trăm m³ nước thải chứa axit, xút, crom chưa qua xử lý; làng cơ khí Vân Chàng tiêu thụ 300 tấn than và 112,5 tấn hóa chất mỗi tháng; làng sơn mài Yên Tiến tiêu thụ khoảng 100 tấn nứa/ngày và ngâm nứa trực tiếp xuống các dòng sông gây ô nhiễm nước mặt.

4. Dự án công nghệ nào đã được ngành du lịch Nam Định bước đầu đưa vào thử nghiệm nhằm chuyển đổi số?
Để thích ứng với xu hướng du lịch thông minh thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Du lịch tỉnh Nam Định đã bước đầu triển khai thực hiện Dự án "Du lịch thông minh - gắn QR-Code tại các điểm du lịch" nhằm cung cấp thông tin tra cứu tiện ích cho khách tham quan.

5. Vì sao thời gian lưu trú của khách du lịch tại Nam Định còn rất ngắn (chỉ từ 1,3 đến 1,8 ngày)?
Khóa luận chỉ ra ba nguyên nhân chính: sản phẩm du lịch chủ yếu thiên về tâm linh, lễ hội mang tính mùa vụ cao; hệ thống cơ sở lưu trú thiếu các khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn 4–5 sao; và các dịch vụ bổ trợ, tiện nghi vui chơi giải trí ban đêm gần như chưa được đầu tư phát triển.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Văn Quân đã hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú của tỉnh Nam Định, đồng thời phản ánh chân thực bức tranh thực trạng hoạt động du lịch giai đoạn 2020–2022 dưới tác động của đại dịch COVID-19. Công trình đã chỉ rõ những nút thắt căn bản về cơ sở lưu trú bình dân, nguồn nhân lực trình độ thấp, tính mùa vụ của sản phẩm du lịch tâm linh và vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ quy hoạch không gian, đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ gắn mã QR đến liên kết vùng, đóng góp nguồn tư liệu tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và định hướng phát triển du lịch địa phương trong giai đoạn phục hồi.