Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu Nhân thân là một khái niệm đặc thù, chỉ sử dụng khi nói về bản chất của con ngƣời. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhân thân con ngƣời chính là một phạm trù xã hội lịch sử, nó là sản phẩm của một thời đại nhất định, đƣợc quy định bởi các điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội.
Mỗi một thời đại khác nhau sản sinh ra những mẫu ngƣời không giống nhau, song dù ở thời đại nào thì bản chất của con ngƣời luôn luôn là tổng hòa những mối quan hệ xã hội [11, tr. Trong bất kỳ xã hội nào con ngƣời không bao giờ sống riêng lẻ, tách mình ra khỏi xã hội mà luôn quan hệ với nhau trong quá trình lao động sản xuất cũng nhƣ trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Tất cả các đặc điểm tâm, sinh lý cùng những biểu hiện trong các quan hệ xã hội của con ngƣời, thể hiện bản chất đặc trƣng của một con ngƣời sẽ hợp thành nhân thân của con ngƣời đó. Nhân thân con ngƣời là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con ngƣời tham gia vào tất cả các mối quan hệ xã hội.
Đó là các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học, các đặc điểm về xã hội học, đạo đức, tâm lý. Nói đến nhân thân là nói đến con ngƣời với tính cách là một thành viên của xã hội, một thực thể xã hội cũng nhƣ một con ngƣời tham gia vào những quan hệ xã hội. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, “Con người là một sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội”. Con ngƣời do tự nhiên sinh ra nên trƣớc hết nó mang các đặc tính tự nhiên, đặc tính sinh vật học.
Đặc điểm sinh học trong con ngƣời quy định sự hình thành những hiện tƣợng và quá trình tâm lý của họ. Bất kỳ ngƣời nào cũng có những nhu cầu mang tính sinh học, mang bản tính xã hội. Sự thống nhất của hai đặc tính này hình thành nên nhân thân con ngƣời, trong đó đặc tính xã hội giữ vai trò quyết định. Nói cách 7 khác, một con ngƣời cụ thể đƣợc thể hiện thông qua tất cả những đặc điểm của cá nhân thuộc ba nhóm: sinh học, tâm lý và xã hội tạo nên bản chất con ngƣời.
Do vậy, có thể khẳng định, tổng hợp tất cả những đặc điểm cơ bản cho phép xác định bản chất xã hội của một con ngƣời cụ thể đƣợc gọi là nhân thân của con ngƣời đó [45, tr. Ngƣời phạm tội đƣợc hiểu là ngƣời thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm [38, tr. Tội phạm bao giờ cũng đƣợc thực hiện bởi một con ngƣời cụ thể. Đặc trƣng của ngƣời phạm tội là thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội.
Nhân thân ngƣời phạm tội sẽ có những khác biệt, những đặc điểm riêng mà ngƣời không phạm tội không có. Những đặc điểm nhân thân của con ngƣời đƣợc hình thành và phát triển trong xã hội theo cả hai hƣớng: tốt và xấu. Chính do sự tồn tại đồng thời của hai hƣớng này mà có ngƣời trở thành ngƣời phạm tội còn ngƣời khác thì không. Những đặc điểm thuộc về nhân thân con ngƣời - sinh học, tâm lý, xã hội - nếu gặp những điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi của quá trình hình thành nhân cách sẽ trở thành những đặc điểm nhân thân xấu, những đặc điểm nhân thân xấu này khi gặp những tình huống bên ngoài thuận lợi sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội [23, tr.
Một số quan điểm của các nhà khoa học luật gia nƣớc ta đƣa ra khái niệm về nhân thân ngƣời phạm tội, cụ thể nhƣ sau: - Theo GS. TS Võ Khánh Vinh: “Nhân thân người phạm tội tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó”. TS Đỗ Ngọc Quang: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, những dấu hiệu, mối quan hệ xã hội về một con người chứa đựng phẩm chất cá nhân tiêu cực trong nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội”. - Theo TS Lý Văn Quyền: “Nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng phạt”.
8 - Theo TS Nguyễn Mạnh Kháng: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc tính, các dấu hiệu thể hiện bản chất của con người mà trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và dưới tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó động cơ phạm tội nảy sinh”.TS Nguyễn Ngọc Hòa: “Nhân thân người phạm tội trong Luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ”.TS Kiều Đình Thụ: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp tất cả những khía cạnh xã hội đặc trưng của người phạm tội tạo thành cá nhân, có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự”. Trên cơ sở khái niệm nhân thân ngƣời phạm tội của một số nhà khoa học, có thể đƣa ra khái niệm chung về nhân thân ngƣời phạm tội: là tổng hợp những đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội của ngƣời phạm tội, các đặc điểm này kết hợp với các điều kiện hoàn cảnh khách quan bên ngoài dẫn con ngƣời đó đến việc thực hiện hành vi phạm tội [38, tr. Trên cơ sở khái niệm nhân thân ngƣời phạm tội, có thể đƣa ra khái niệm nhân thân ngƣời phạm tội XPSH nhƣ sau: Nhân thân người phạm tội XPSH là tổng hợp những đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội của người phạm tội XPSH, những đặc điểm này kết hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan bên ngoài dẫn con người đó đến việc thực hiện hành vi phạm tội XPSH được quy định tại chương XVI của BLHS 2015. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu Ở mức độ khái quát của Tội phạm học, không phải ngẫu nhiên mà nhân thân của ngƣời phạm tội trở thành khách thể nghiên cứu có tầm quan trọng.
Nghiên cứu về nhân thân ngƣời phạm tội có ý nghĩa to lớn cho công cuộc phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ đề cập đến ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội XPSH nhƣ sau: Thứ nhất, nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội XPSH tạo cơ sở cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm. 9 Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm đƣợc hiểu là mối quan hệ tƣơng tác giữa những nhân tố chủ quan của con ngƣời (đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, tính cách…) với các yếu tố thuộc môi trƣờng bên ngoài làm phát sinh tội phạm XPSH. Những yếu tố thuộc mặt chủ quan là những sai lệch về nhu cầu, nhất là cách thức để thỏa mãn nhu cầu sẽ là động cơ thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội.
Yếu tố chủ quan cũng có thể là do ý thức pháp luật kém, không tôn trọng pháp luật, không thừa nhận giá trị xã hội đích thực của pháp luật. Mặt khách quan bên ngoài là những tình huống, hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, có thể là hoàn cảnh kéo dài hay một sự kiện có tính nhất thời. Các nguyên nhân và điều kiện trong sự tác động lẫn nhau đã tham gia vào quá trình hình thành đặc điểm tâm lý, đạo đức của cá nhân, quyết định động cơ và sự quyết tâm thực hiện tội phạm. Không phải con ngƣời nào sinh ra cũng thực hiện tội phạm, hay nói cách khác là trở thành ngƣời phạm tội.
Mà do những nguyên nhân, điều kiện khác nhau tác động dẫn đến con ngƣời trở thành ngƣời phạm tội. Chính vì vậy, nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội sẽ cho thấy rõ những điều kiện, hoàn cảnh tiêu cực từ môi trƣờng tác động thế nào đến sự hình thành nhân cách, đạo đức, đến quá trình động cơ hóa hành vi phạm tội. Nói cách khác, nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội sẽ cho phép xác định đƣợc nguyên nhân phát sinh tội phạm. Thứ hai, nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội XPSH có ý nghĩa rất lớn trong việc định tội, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác, thuyết phục.
Qua việc nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội, chúng ta đánh giá đƣợc tính chất nguy hiểm cho xã hội của ngƣời phạm tội, khả năng giáo dục, cải tạo của ngƣời phạm tội để có thể đƣa ra hình phạt tƣơng ứng. Mặc dù nhân thân ngƣời phạm tội XPSH không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm nhƣng trong quá trình xác định trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập, nghiên cứu đầy đủ và chính xác những đặc điểm riêng biệt này để giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt đúng quy định pháp luật, không bỏ lọt 10 tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự quy định khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) phải chứng minh làm rõ đƣợc những đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo. Các đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo phải đƣợc thu thập, phản ánh trong hồ sơ điều tra, bản cáo trạng, bản án và các giấy tờ kèm theo hồ sơ vụ án [23, tr.
Khoản 1 Điều 50 của BLHS 2015 cũng quy định nhân thân ngƣời phạm tội là một trong các yếu tố buộc phải cân nhắc khi Tòa án quyết định hình phạt, nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố và xét xử đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật, đảm bảo mục đích phòng ngừa của hình phạt đƣợc áp dụng. Thứ ba, nghiên cứu nhân thân ngƣời phạm tội XPSH có ý nghĩa quan trọng trong dự báo và phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội XPSH nói riêng.