Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Chương 2: Thực tiễn nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác và những yếu tố tác động đến quá trình hình thành nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác từ đặc điểm nhân thân người phạm tội. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1.Khái niệm, đặc điểm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1.
Khái niệm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trong Tội phạm học, nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng phạt [25, tr. Nhân thân con người là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Khi nói đến các đặc điểm, dấu hiệu cá nhân thuộc về người phạm tội, mà dấu hiệu đặc trưng nhất để phân biệt với nhân thân con người nói chung thể hiện ở hành vi mà họ tham gia vào các quan hệ xã hội (tốt, xấu, thiện, ác, hành vi nguy hiểm hay không nguy hiểm cho xã hội …) tức là nói đến nhân than người phạm tội. Nhân thân người phạm tội có thể được hiện thông qua các yếu tố về bẩm sinh, di truyền hoặjfnbc các đặc điểm về điều kiện, hoàn cảnh sống, môi trường sống cụ thể tạo ra.
Trong quá trình trưởng thành của con người, họ gặp phải những điều kiện không thuận lợi thì dễ có khả năng trở thành người phạm tội, khi mà họ hình thành nên những ý thức xấu, bắt nguồn từ chính cuộc sống không tốt, từ đó hình thành các đặc điểm được coi là các đặc điểm nhân thân xấu. Dưới tác động của các điều kiện xã hội thì ý thức được hình thành. Nhưng khi hình thành thì ý thức có tác động rất tích cực đến các hoạt động của con người, quyết định việc lựa chọn cách xử sự 8 của con người trong hoàn cảnh cụ thể. Chính vì vậy mà trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh giống nhau nhưng con người lại có những hành động khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược nhau, nếu con người có các đặc điểm nhân thân xấu mà gặp những tình huống khách quan thuận lợi tác động sẽ làm phát sinh hành vi phạm tội.
Khái niệm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác dưới góc độ tội phạm học cần phải được hiểu một cách “Công cụ hóa”, tức là có thể nghiên cứu được trên thực tế như sau: Thứ nhất, nhân thân của một người nào đó là hình ảnh có thể nhận thức được thông qua tổng thể các đặc điểm về mặt tự nhiên, xã hội và hành vi xã hội của chủ thể đã thực hiện hành vi đó ở một địa bàn và thời gian nhất định; Thứ hai, nhân thân người phạm tội là hình ảnh có thể nhận thức được thông qua tổng thể các đặc điểm về tự nhiên, xã hội và hành vi phạm tội của chủ thể đã thực hiện hành vi đó trên một địa bàn và thời gian nhất định, tức là những đặc điểm chứa đựng những thông tin về nguyên nhân và điều kiện của sự phạm tội; Thứ ba, nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hình ảnh có thể nhận thức được thông qua tổng thể các đặc điểm về tự nhiên, xã hội và hành vi phạm tội của chủ thể đã thực hiện hành vi đó, tức là những đặc điểm chứa đựng những thông tin về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm này. Như vậy, vấn đề biện chứng và hàm chứa giá trị khả thi của khái niệm nhân thân nói chung và nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nói riêng chính là mối quan hệ giữa hình ảnh và đặc điểm. Hình ảnh càng rõ khi những đặc điểm càng được mô tả đầy đủ và chuyên biệt theo nhân thân cần nghiên cứu. Các đặc điểm nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1.
Các đặc điểm tự nhiên Khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội chúng ta phải xem xét tới những đặc điểm thuộc về người phạm tội. Những đặc điểm này phần lớn phản ánh bản chất của người phạm tội. Sự hình thành và phát triển của nhân thân người phạm tội không phải là những biểu hiện thuần túy, giản đơn bên ngoài Trong lý luận tội phạm học, các đặc điểm nhân thân người phạm tội được chia thành bốn nhóm: Nhóm đặc điểm sinh học, nhóm đặc điểm tâm lý và nhóm đặc điểm xã hội, nhóm đặc điểm pháp lý hình sự [25, tr. Sau đây, chúng ta sẽ làm rõ các nhóm đặc điểm nhân thân người phạm tội.Nhóm đặc điểm sinh học Nhóm đặc điểm sinh học bao gồm giới tính, tuổi và một số đặc điểm thể chất khác.
Với các dấu hiệu này không thể khám phá những cơ chế của hành vi phạm tội, không phân biệt người phạm tội với những người không phạm tội. Các dấu hiệu này chỉ thể hiện mức trội lên về thống kê của loại người nhất định trong những người phạm tội. Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người là để thấy được những hạn chế trong các quan niệm cực đoan về cái sinh học, cái xã hội trong con người của một số trường phái triết học. Thực tế cho thấy rằng, những quy luật sinh học chi phối mặt sinh học, còn quá trình con người gia nhập xã hội sẽ quyết định mặt xã hội trong con người.
Điều này thể hiện rõ nhất ở những đứa trẻ sinh ra từ cùng một trứng. Những đứa trẻ này giống nhau về mặt di truyền. Điều đó có nghĩa là, trong quá trình phát triển, chúng có thể mắc một số bệnh giống nhau, như bệnh về mắt hay nội tiết, tức là ở đây, mặt sinh học đóng vai trò không nhỏ. Điều này có nghĩa 10 là, con người vừa chịu sự tác động của quy luật sinh học, vừa chịu sự tác động của xã hội (nhưng cũng cần phải thấy được rằng, sự tác động của yếu tố sinh học và yếu tố xã hội không phải là ngang nhau, như nhau trong mỗi cuộc đời con người).
Dĩ nhiên, cũng cần phải thấy rằng với những mục đích nghiên cứu khác nhau, có thể các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tới mặt sinh học hoặc mặt xã hội của con người (và chỉ nhấn mạnh, chứ không phải tuyệt đối hoá như chủ nghĩa tự nhiên, thuyết sinh học xã hội hay trường phái xã hội đã làm). Việc tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố sinh học, di truyền trong con người sẽ dẫn đến tình trạng, các tệ nạn xã hội được giải thích bằng những nguyên nhân tự nhiên và do đó người ta cho rằng, không thể khắc phục được những tệ nạn xã hội. Điều đó còn đưa đến một quan niệm về "giống thượng lưu”, về sự phân biệt chủng tộc. Quan điểm này cho rằng, lịch sử loài người được tạo ra bởi một số người tiêu biểu, được chọn lọc và do đó dù muốn hay không, con người phải chủ động kiểm soát việc tái sản xuất ra giống người, thực hiện sự "tuyển chọn" vì "lợi ích" loài người.
Ngược lại, việc quá đề cao yếu tố xã hội trong con người lại đưa đến một quan niệm khác -. quan niệm cho rằng, mọi tệ nạn xã hội đều bắt nguồn từ khuyết điểm chính trị.Nhóm đặc điểm tâm lý Gắn với mỗi loại hành vi phạm tội có thể có nhóm đặc điểm tâm lí nhất định. Ví dụ: Đối với người phạm tội có tính vụ lợi có thể nêu ra ở đây các đặc điêm như thái độ lao động lười nhác- nhu cầu vật chất không chính đáng; tu tưởng ích kỉ làm ít hưởng nhiều; tư tưởng làm giàu không chính đáng, thích tích lũy tiền của và báu vật, dùng tiền để đáp ứng nhu cầu không chính đang (ma túy, mại dâm, cờ bạc). Ở đây, cũng cần đề cập ý thức pháp luật của người phạm tội.
Thực tế cho thấy những ai có ý thức pháp luật tốt thi có thói quen xử sự tuân theo pháp 11 luật. Trái lại, ở những người phạm tội thường có ý thức pháp luật kém, họ hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật hoặc có thái độ tiêu cực đối với các chuẩn mực pháp luật, thở ơ với sự trừng phạt, không sợ bị trùng phạt vì cho rằng hành vi phạm tội khó bị phát hiện hoặc có sự bao che v. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy một bộ phận người phạm tội khi bị kết án có tâm lí phủ nhận lỗi của mình và tìm cớ cho rằng phạm tội là bắt buộc. Trình độ học vấn và sự phát triển của trí tuệ có ảnh hưởng đến nhu cầu và lợi ích, đến cách sử dụng thời gian và cách xử sự của con người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng.
Nghiên cứu dấu hiệu này cho thấy trình độ học vấn của người phạm tội nhìn chung thấp hơn so với những người không phạm tội ở cùng độ tuổi. Tuy nhiên, những người phạm tội ở các loại tội phạm khác nhau thì có trình độ học vấn cũng khác nhau. Chẳng hạn những người phạm tội tham nhũng có trình độ học vấn cao hơn những người phạm tội khác.Các đặc điểm xã hội Nhân thân người phạm tội xét dưới góc độ đặc điểm xã hội thì gồm các yếu tố như: Hoàn cảnh gia đình tác động rất lớn đến sự hình thành các đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Khiếm khuyết của gia đình như cha mẹ ly dị, tình trạng độc thân, bạo lực gia đình, thành phần giai cấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn… trong mối quan hệ với các yếu tố khác tác động đến việc hình thành các đặc điểm nhân thân xấu của con người và trong những điều kiện, tình huống thuận lợi sẽ dễ dàng phát sinh hành vi phạm tội.