ĐẶT VẤN ĐỀ Cây bơ có tên khoa học là: Persea americana Miller., thuộc họ Lauraceae (Long não) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Trung Mỹ (Bender, 2012; Popenoe, 1952). Theo tài liệu khảo cổ học, quả bơ đã được dùng để làm thức ăn tại Mexico cách đây khoảng 9. Cây bơ được du nhập vào trồng ở nước ta từ thế kỷ 20 và được trồng nhiều nhất ở Lâm Đồng và Tây Nguyên. Từ lâu, quả bơ luôn được đánh giá là một trong những siêu thực phẩm và là nguồn chất béo lành mạnh tuyệt vời.
Trong 100g thịt quả bơ chín có 60g nước, 2,08g protid, 20,10g lipid, 7,4g gluxit, 1,26g tro, các chất khoáng: Ca 12mg, P 26, Fe 0,6mg, vitamin A 205mg, vitamin B1 0,05mg, vitamin C 20mg, các aminaxit: cystin, tryptophan, ngoài ra còn có nhiều chất kháng khuẩn. Nghiên cứu được thực hiện bởi Hiệp hội Hoá học Hoa Kỳ cho thấy phần lớn các chất dinh dưỡng của quả bơ nằm ở phần màu xanh đậm ngay dưới vỏ quả bơ. Các phát hiện gần đây cho thấy, ngoài tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho con người, quả bơ còn có tác dụng giúp các sản phụ giảm tỷ lệ sinh con dị tật, chống lại viêm gan C và đặc biệt hơn trong quả bơ có chất glutathion, một hợp chất gồm 3 axit amin có khả năng chống ô xi hoá, ngăn ngừa bệnh tim, ức chế khối u, chống ung thư và hoàn toàn không chứa cholesterol (Berge et al., 1996) (Pliego-Alfaro et al.,2002) (Scora et al. Trong sách Guiness đã công nhận: bơ là quả cây chứa nhiều chất dinh dưỡng nhất.
Ngoài ra, trong lá và vỏ cây chứa nhiều chất dầu dễ bay hơi (methyl – chavicol, alpha pinen) flavonoid, lanin… Theo thống kê của FAO, cây bơ đã được trồng tại 63 nước với tổng diện tích 417 nghìn ha, sản lượng 3.078 nghìn tấn mỗi năm, năng suất trung bình 7,4 tấn/ha, hàng năm lượng xuất khẩu 491,5 nghìn tấn và có giá trị xuất khẩu 606,6 triệu USD (Gazit et al., 2002) (Shepherd and Bender., 2012) (Pliego-Alfaro et al. Tại Việt Nam, hiệu quả kinh tế mà cây bơ đem lại cũng khá cao, trung bình mỗi ha đất trồng được khoảng 150 – 200 cây bơ. Với năng suất từ 8-15 tấn/ ha, giá bán tại vườn trung bình mỗi cây bơ từ 1 – 2 triệu đồng thì trung bình mỗi ha bơ cho thu từ 200 – 300 triệu đồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều loại cây ăn quả khác. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài những giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế mà quả bơ đem lại cho sức khoẻ của con người thì việc trồng cây bơ cũng đem lại giá trị tích cực cho môi trường như giảm nhiệt độ không khí, cung cấp nguồn oxi dồi dào, làm giảm vận tốc dòng chảy, chống lại sự xói mòn của đất… Từ những giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng và giá trị về môi trường, cây bơ đang được trồng rộng rãi ở một số địa phương có điều kiện tự nhiên phù hợp, trong đó có Mộc Châu, Sơn La.
Tuy nhiên, đa số chất lượng của quả bơ Mộc Châu chưa được tốt như bơ của Đăk Lăk hay Lâm Đồng. Nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng bơ chưa cao và năng suất kém phần lớn là do nguồn cây bơ giống chưa tốt. Cây giống đang được trồng tại địa phương chủ yếu được nhân từ hạt nên lâu cho quả (khoảng 7 - 8 năm mới cho quả), tỷ lệ phân ly cao nên năng suất và chất lượng biến động rất lớn. Cây bơ là loại cây có tính tạp giao rất mạnh giữa các giống do tập tính ra hoa đặc biệt cho nên phấn của nó không tự thụ cho nó được mặc dù trên hoa có đủ cả nhuỵ và nhị.
Vì vậy, nhân giống bằng phương pháp hữu tính không phải là biện pháp tối ưu để duy trì các nguồn gen quý. Hiện nay, tại các nước sản xuất bơ lớn trên thế giới, cây bơ được nhân giống bằng phương pháp ghép và sử dụng cây ươm từ hạt là gốc ghép. Cây ghép có khả năng cho quả sau khi trồng từ 4 - 5 năm, chất lượng tốt, năng suất ổn định do chồi ghép được sử dụng từ những cây đầu dòng đã được công nhận là ổn định về năng suất và chất lượng. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn và nhân giống bằng phương pháp ghép cây bơ đầu dòng để phát triển sản xuất tại Mộc Châu – Sơn La” để làm nguyên liệu cho sản xuất cây bơ giống chất lượng là một vấn đề cấp thiết.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục đích của đề tài Xác định những cây bơ đầu dòng chất lượng để làm nguyên liệu cho vùng và mở rộng sản xuất ra các vùng có điều kiện tự nhiên tương ứng. Đánh giá được khả năng nhân giống của các cây bơ đầu dòng, phục vụ cho công tác sản xuất cây con để cung cấp cho thị trường cây con có chất lượng tốt. Yêu cầu của đề tài - Xác định được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng hình thành năng suất của các cây bơ đầu dòng tại huyện Mộc Châu, Sơn La.
- Xác định được khả năng nhân giống bằng phương pháp ghép của các cây bơ đầu dòng và khả năng ứng dụng biện pháp này để sản xuất cây giống. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng hình thành năng suất và khả năng nhân giống bằng phương pháp ghép trên cây bơ.
Các cây bơ đầu dòng còn là nguồn vật liệu để bảo tồn gen tại Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn - Tuyển chọn được một số cây bơ ưu tú, có triển vọng, có tính di truyền ổn định, sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng ổn định, là nguồn gen quý của địa phương, có thể sử dụng để phục vụ công tác chọn tạo giống chất lượng cao. - Các cây giống tạo ra là nguồn vật liệu để mở rộng sản xuất tại địa phương và các vùng có điều kiện sinh thái tương đồng. Từ đó, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp của vùng, góp phần chuyển đổi cơ cấu trong ngành trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hoá mang lại giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU + Nghiên cứu tuyển chọn cây bơ đầu dòng và khả năng nhân giống cây bơ đầu dòng bằng phương pháp ghép nêm. + Địa điểm: huyện Mộc Châu – Sơn La; Thạch Thành – Thanh Hóa, Phòng thí nghiệm Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI Cây bơ có tên khoa học: Persea Americana, M (1768) Persea Gratissima, G (1807) Persea Drymifolia, S (1831) Persea Nubigena, L. Đa số các giống bơ đều xuất xứ từ các vùng nhiệt đới Trung Mỹ như Mexico, Guatemala và quần đảo Antilles. Trong những xứ này, người ta thường phát hiện những cây bơ mọc hoang dại. Bơ gồm rất nhiều giống thuộc họ Lauraceae.
Phần lớn các giống có tính cách thương mại đều thuộc vào 3 chủng: chủng Mexico, chủng Guatemala và chủng Antilles hay West Indian. Ba chủng bơ trên đây có thể lai chéo với nhau một cách dễ dàng khi chúng được trồng gần nhau (Popenoe,1952; Bergh, 1969; Crowley and Arpaia, 2002). Trong đó, chủng Guatemala và West indian (Antilles) được xếp vào loài Persea americana Mill, chủng Mexico được xếp vào loài Persea drymyfolia. Đặc tính của 3 chủng loại bơ quan trọng: - Chủng Mexico: Có lá thay đổi nhiều về kích thước, lá có màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn mặt trên, đặc biệt khi vò lá ngửi có mùi hôi.
Quả nhỏ, chỉ nặng trên dưới 250 gram, quả thường dài7 dạng quả lê, dạng đu đủ. Chất lượng rất tốt do hàm lượng chất béo rất cao: 15-30% (trên thị trường gọi là bơ sáp). Vỏ quả mỏng (dưới 0,8 mm), thường trơn tru, khi chín có màu xanh, vàng xanh, hay đỏ tím, đỏ sẫm tùy giống. Hạt hơi lớn, vỏ hạt mỏng, mặt ngoài hạt trơn láng, khi chín hạt nằm lỏng trong lòng quả nhưng lắc không kêu.
Thời gian từ khi ra hoa đến lúc quả chín thường từ 8 - 9 tháng. Đây là chủng bơ có chất lượng cao nhất và có đặc tính chịu rét tốt nhất. Có các giống: Mexico, Puebla, Jalna, Gottfried, Duke, Winter, Mexican và nhóm giống lai: + Lai giữa Antiles x Guatemala như các giống: Collinson, Winslowson. Các giống lai này cũng như các giống Antilles có thể trồng được ở đồng bằng châu thổ miền Nam hay ở vùng đất đỏ sông Bé, Đồng Nai… + Lai giữa Guatemala x Mexico như các giống: Fuerte, Ryan.
- Chủng Guatemala: Cây có tán rộng, nhiều cành rậm rạp, lá to có màu xanh sẫm hơn chủng Mexico và chủng Antilles, khi vò lá không có mùi hôi, đọt non màu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc quả chín thường từ 9-12 tháng. Quả nhiều, quả to nhỏ tuỳ giống, nặng từ 250 – 800 gram, dạng bầu dục, cuống quả dài, vỏ hơi dày và có sớ gỗ. Da thường sần sùi như da cá sấu.
Hạt nhỏ và nằm sát trong lòng quả. Thịt quả dày cơm, ở Việt Nam gọi bơ thuộc chủng này là bơ mỡ - có hàm lượng dầu béo 10-15%. Mặt ngoài hạt láng hoặc trơn láng. Chủng này có sức chống chịu rét khá tốt.
- Chủng Antilles hoặc West Indian: có lá to, lá thường có màu sắc gần như đồng đều ở hai mặt lá, khi vò nát lá, ngửi không thấy mùi vị gì cả. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc quả chín thường từ 6 - 9 tháng. Quả thường to, có quả rất to, quả thường nặng từ 100 - 400 gram. Cuống quả ngắn.
Vỏ quả hơi ngắn và dai, dày trung bình 0,8-1,5 mm. Vỏ quả có màu xanh và khi chín thì đổi sang màu xanh hơi vàng. Thịt quả có hàm lượng dầu 3-10%. Hạt khá lớn và nằm lỏng trong lòng quả, khi chín lắc qua nghe tiếng kêu.
Mặt ngoài của hạt sần sùi, vỏ bao quanh hạt không dính liền với hạt. Chủng Antilles chịu rét yếu nhưng chịu nóng và chịu mặn (3% trong nước tưới). Đặc điểm chung để phân biệt 3 chủng bơ được mô tả trên 15 tính trạng chủ yếu có thể dễ nhận biết như sau: Bảng 2.