Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong ngành ngôn ngữ học thế giới hiện nay tồn tại nhiều cách hiểu về tình thái. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài như Ch.Palmer (2001) đã có những đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng khung lí luận chung về tình thái, phân loại tình thái.Bally là người đầu tiên phân biệt Modus (bộ phận tình thái) là một trong hai thành phần thiết yếu, quan trọng của cấu trúc nghĩa của phát ngôn gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. Hầu hết các nhà nghiên cứu về tình thái ở nước ngoài như O.Reacher (1968), Quirk et al.Palmer ( 2001) đều bàn về hai loại tình thái chính đó là tình thái trong ngôn ngữ học và tình thái trong logic học.
Nếu trong logic học chúng ta quan tâm đến tình thái khách quan với các thuộc tính của tình thái khách quan là chân trị của mệnh đề, là tính hiện thực, là tính tất yếu hay không tất yếu, là tính khả hữu thì trong ngôn ngữ học đối tượng quan tâm đặc biệt là tình thái chủ quan với thái độ của người nói. Theo quan niệm của T.Givón (1993) “Tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với phát ngôn”. Thái độ mà ông đề cập đến ở đây là hai loại đánh giá của người nói về thông tin phát ngôn được chuyển tải qua nội dung mệnh đề. Một 8 là những đánh giá nhận thức về tính hiện thực, khả năng, lòng tin và sự chắc chắn hay bằng chứng.
Hai là những đánh giá giá trị về ước muốn, sự ưa thích, ý định, sự ràng buộc hay sự điều khiển.Givón chia tình thái nhận thức làm bốn tiểu loại gồm: (1) Tiền giả định ( presupposition), (2) Xác nhận hiện thực (realis assertion), (3) Xác nhận phi hiện thực (irrealis assertion), (4) Xác nhận phủ định (negative assertion).L Austin (1962) trong công trình nghiên cứu “How to do things with words” cho rằng nói năng cũng là hành động, tương ứng với câu nói là những hành động nhằm tác động vào người nghe. Từ đây đã khởi xướng cho việc nghiên cứu tình thái của “hành động phát ngôn”. Tình thái của “hành động phát ngôn” phân biệt các phát ngôn theo mục đích, mục tiêu cụ thể trong giao tiếp, phân biệt các câu có giá trị ngôn trung khác nhau được đánh dấu.Lyons cho rằng: Tình thái nhận thức liên quan đến tính khá năng, tính cần thiết và mức độ cam kết của người nói đối với điều mà anh ta nói ra, tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động đo một 9 người nào đó hay do chính người nói thực hiện. Tình thái nhận thức phải được thể hiện thông qua tính tất yếu hoặc khả năng về tính xác thực của mệnh đề, và có liên quan đến tri thức và niềm tin.
Trong tình thái nhận thức, xét về góc độ chân thực thì có ba kiểu tình thái nhận thức: + Tình thái thực hữu (factive modality) là loại tình thái mà người nói cho rằng sự việc được nói đến là hiện thực hay tất yếu hiện thực. + Tình thái phản thực hữu (contra-factive modality) là loại tình thái người nói cho rằng sự việc được nói đến là phi hiện thực hoặc tất yếu phi hiện thực. + Tình thái không thực hữu (non-factive modality) là loại tình thái người nói cho rằng sự việc được nói đến có thể xảy ra ở một thế giới khả năng nào đó.Lyons 1977, tr 823 ) Tình thái đạo nghĩa là loại tình thái có liên quan với chức năng xã hội của phép tắc hay là nghĩa vụ nghĩa là loại tình thái đạo nghĩa này thể hiện mức độ áp đặt của chủ thể giao tiếp về mặt đạo đức,về phong tục,về tập quán. với các tiểu loại sau: + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự bắt buộc/không bắt buộc, + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự được phép/không được phép + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự cấm đoán/không cấm đoán + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự miễn trừ/ không miễn trừ (J.Lyons 1977, tr 823) Đáng chú ý là J.
Searle (1979) trong cuốn Expression and Meaning( Cambridge (Mass) lại phân tích tình thái theo hướng tiếp cận vấn đề về hành động ngôn từ. Lí thuyết hành động ngôn từ cho thấy mối quan hệ giữa người nói, người nghe và nội dung phát ngôn bao chứa rất nhiều nội dung tình thái.Theo cách tiếp cận này, vai trò của người nói và người nghe được nhấn mạnh. Dường như có sự tương hợp giữa khung tình thái với 5 nhóm hành động ngôn từ mà tác giả đã phân loại. 10 Tương tự với nhận xét của T.Givón về tình thái, W.
K Halliday (1994) cũng cho rằng các thuộc tính cơ bản của tình thái là tính “hiện thực” và “phi hiện thực”. Tình thái ảnh hưởng tới toàn bộ nội dung của một sự diễn đạt nào đó.Tình thái gợi lên không chỉ các mức độ nhận thức khách quan về hiện thực mà còn cả các thái độ và sự định hướng chủ quan đối với nội dung của sự biểu đạt.Palmer (2001) (Mood and modality, 2nd edition. Cambridge Textbooks in Linguistics New York: Cambridge University Press) cũng phân loại tình thái giống như cách phân loại của J.Lyons gồm hai loại trọng tâm là tình thái nhận thức (epistemic modality)và tình thái đạo nghĩa (deontic modality), ngoài ra, ông còn đề cập đến loại tình thái trạng huống (dynamic modality). Tình thái trạng huống là loại tình thái có tính tình huống.
Tình thái trạng huống mang tính khách quan khi yếu tố tình huống là yếu tố bên ngoài, không liên quan đến ý chí hay mong muốn của người nói đối với việc thực hiện hành động (Palmer 2001, tr 76 – tr 96). Ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê (1989), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Lê Đông (1996), Nguyễn Đức Dân(1998), Diệp Quang Ban(2000), Hoàng Tuệ (2001), Phạm Hùng Việt(2003), Bùi Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Văn Hiệp (2001, 2004, 2007, 2015).trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái với những nghiên cứu rất chi tiết và có nhiều kiến giải sâu sắc vấn đề tình thái trên nhiều phương diện khác nhau. Trong đó Cao Xuân Hạo (1999) đã phân biệt hai loại tình thái: Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Theo ông việc “phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế” thuộc tình thái của hành động phát ngôn, còn tình thái của lời phát ngôn là tình thái “có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra hoặc quan hệ sở đề và sở thuyết của mệnh đề”.
Sự phân biệt giữa các kiểu câu trần thuật, câu hỏi, câu 11 mệnh lệnh theo tiêu chí ngữ pháp và sự phân biệt các hành động ngôn từ theo tiêu chí ngữ dụng thuộc lĩnh vực tình thái của hành động phát ngôn. Như vậy nội dung tình thái của lời phát ngôn bao gồm: Những hiểu biết của chủ thể giao tiếp về chân trị của điều được nói ra trong các loại câu khẳng định, phủ nhận, ngờ vực, giới hạn của điều kiện chân trị. Tính khả năng hay tính tất yếu của điều được nói ra ( có thể/ không thể; tất nhiên /không tất nhiên; tính khả năng/tất yếu) Sự đánh giá của chủ thể giao tiếp với thông tin truyền đạt ( buồn, vui, nên có hay không nên có, đáng mừng hay đáng tiếc) Sự chính xác, đơn giản, mức độ thành thật của thông tin mà người nói nói ra Sự liên hệ giữa câu, phát ngôn với cảnh huống và các vấn đề khác thuộc những vấn đề logic hay siêu ngôn ngữ. (Cao Xuân Hạo 1991, tr 42- tr 50) Cao Xuân Hạo còn đề cập đến loại tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân.
Nghiên cứu về thái độ của người nói về điều mà mình nói ra, cách đánh giá nhận định của người nói về tính hiện thực, tính không hiện thực, giới hạn của nó và tính xác thực, tính tất yếu , điều mong muốn của thông tin truyền tải chính là nghiên cứu về tình thái của câu. Nguyễn Văn Hiệp với bài viết “Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”-Tạp chí Ngôn ngữ số 8-2007 đã cho thấy nghiên cứu sâu về tình thái. Ông đã nêu ra những phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ dựa trên sự đối lập của các cặp nghĩa tình thái như sự đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality), sự đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái căn bản (root modality), đối lập giữa tình thái hướng tác thể (agent- oriented modality) và tình thái hướng người nói ( speaker- oriented modality), đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Những đối lập về tình thái mà ông nêu ra cho thấy phạm vi rất rộng trong việc nghiên cứu về tình thái.
12 Bàn về các phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh Trong tiếng Anh, O.