Luận án tiến sĩ về nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt

Luận án tiến sĩ phân tích phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt, so sánh sự tương đồng và khác biệt.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

167
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Những đóng góp của luận án

0.6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

0.7. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.3. Cơ sở lí luận của luận án

1.3.1. Lí thuyết hành động ngôn từ

1.3.2. Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp

1.3.3. Hành động hỏi

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

2.1. Khái quát về hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.2. Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh

2.3. Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt

2.4. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh

2.5. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh

2.6. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh

2.7. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt

2.8. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt

2.9. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt

2.10. Sự tương đồng và khác biệt về phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

3.1. Khái quát về hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

3.2. Nhận diện hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh

3.3. Nhận diện hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Việt

3.4. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt

3.5. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh

3.6. Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh

3.7. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt

3.8. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái hành động ngôn từ ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt

3.9. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt

3.10. Sự tương đồng và khác biệt về phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ngôn ngữ học và nghĩa tình thái

Nghiên cứu ngôn ngữ học về nghĩa tình thái đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước. Nghĩa tình thái liên quan đến thái độ, cảm xúc và sự đánh giá của người nói đối với nội dung phát ngôn. Các nhà nghiên cứu như Ch. Palmer và J. Lyons đã đóng góp lớn trong việc phân loại và xác định các loại nghĩa tình thái, bao gồm tình thái nhận thứctình thái đạo nghĩa. Tình thái nhận thức liên quan đến tính khả năng và sự chắc chắn của thông tin, trong khi tình thái đạo nghĩa liên quan đến nghĩa vụ và sự cho phép. Những nghiên cứu này làm nền tảng cho việc phân tích hành động hỏi trong tiếng Anhtiếng Việt.

1.1. Khái niệm và phân loại nghĩa tình thái

Nghĩa tình thái được định nghĩa là sự biểu đạt thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn. Theo J. Lyons, tình thái nhận thức bao gồm các tiểu loại như tình thái thực hữu, tình thái phản thực hữutình thái không thực hữu. Tình thái đạo nghĩa liên quan đến các quy tắc xã hội, bao gồm sự bắt buộc, cho phép và cấm đoán. Những phân loại này giúp hiểu rõ hơn về cách nghĩa tình thái được biểu hiện trong hành động hỏi.

1.2. Nghiên cứu nghĩa tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt

Các nghiên cứu về nghĩa tình thái trong tiếng Anhtiếng Việt đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách biểu đạt. Tiếng Anh thường sử dụng các động từ khuyết thiếu để biểu đạt nghĩa tình thái, trong khi tiếng Việt lại dựa nhiều vào ngữ điệu và từ ngữ đặc thù. Những khác biệt này làm nổi bật sự phức tạp của nghĩa tình thái trong hai ngôn ngữ.

II. Hành động hỏi và biểu hiện nghĩa tình thái

Hành động hỏi là một trong những hành động giao tiếp quan trọng, được sử dụng để thu thập thông tin. Trong tiếng Anhtiếng Việt, hành động hỏi có thể được thực hiện thông qua câu hỏi trực tiếp hoặc câu hỏi gián tiếp. Nghĩa tình thái trong hành động hỏi thể hiện thái độ, sự mong đợi và mục đích của người nói. Việc phân tích biểu hiện ngữ nghĩa trong hành động hỏi giúp hiểu rõ hơn về cách thức giao tiếp trong hai ngôn ngữ.

2.1. Hành động hỏi trực tiếp

Hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anhtiếng Việt thường được thực hiện thông qua câu hỏi nghi vấn. Nghĩa tình thái trong loại câu này thể hiện sự mong đợi và mục đích của người nói. Ví dụ, trong tiếng Anh, câu hỏi 'Can you help me?' thể hiện sự mong đợi và nghĩa tình thái của sự cho phép. Trong tiếng Việt, câu hỏi 'Bạn có thể giúp tôi không?' cũng mang nghĩa tình thái tương tự.

2.2. Hành động hỏi gián tiếp

Hành động hỏi gián tiếp được thực hiện thông qua câu trần thuật hoặc câu mệnh lệnh. Nghĩa tình thái trong loại câu này thường ẩn chứa và đòi hỏi người nghe phải suy luận. Ví dụ, trong tiếng Anh, câu 'I wonder if you could help me' thể hiện nghĩa tình thái của sự mong đợi một cách lịch sự. Trong tiếng Việt, câu 'Tôi muốn biết bạn có thể giúp tôi không' cũng mang nghĩa tình thái tương tự.

III. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi

Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi bao gồm các yếu tố ngữ pháp, từ vựng và ngữ điệu. Trong tiếng Anh, các động từ khuyết thiếu như 'can', 'may', 'must' thường được sử dụng để biểu đạt nghĩa tình thái. Trong tiếng Việt, các từ như 'có thể', 'nên', 'phải' đóng vai trò tương tự. Ngoài ra, ngữ điệu cũng là một yếu tố quan trọng trong việc biểu đạt nghĩa tình thái.

3.1. Phương tiện biểu hiện trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh, phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái chủ yếu dựa vào các động từ khuyết thiếu và cấu trúc câu. Ví dụ, câu 'You must finish this task' thể hiện nghĩa tình thái của sự bắt buộc. Các yếu tố ngữ điệu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nghĩa tình thái.

3.2. Phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái thường dựa vào từ vựng và ngữ điệu. Ví dụ, câu 'Bạn phải hoàn thành công việc này' thể hiện nghĩa tình thái của sự bắt buộc. Ngữ điệu lên xuống trong câu hỏi cũng giúp biểu đạt nghĩa tình thái một cách rõ ràng.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về nghĩa tình thái trong hành động hỏi của tiếng Anhtiếng Việt có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ cách thức biểu đạt nghĩa tình thái trong hai ngôn ngữ. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ, dịch thuật và giao tiếp đa văn hóa.

4.1. Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về nghĩa tình tháiphương tiện biểu hiện trong hành động hỏi. Nó góp phần làm phong phú thêm lý thuyết về ngữ nghĩa trong ngôn ngữhành động giao tiếp.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng trong việc biên soạn tài liệu giảng dạy, hỗ trợ người học hiểu và sử dụng đúng nghĩa tình thái trong hành động hỏi. Điều này giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp trong cả tiếng Anhtiếng Việt.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong ngành ngôn ngữ học thế giới hiện nay tồn tại nhiều cách hiểu về tình thái. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài như Ch.Palmer (2001) đã có những đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng khung lí luận chung về tình thái, phân loại tình thái.Bally là người đầu tiên phân biệt Modus (bộ phận tình thái) là một trong hai thành phần thiết yếu, quan trọng của cấu trúc nghĩa của phát ngôn gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. Hầu hết các nhà nghiên cứu về tình thái ở nước ngoài như O.Reacher (1968), Quirk et al.Palmer ( 2001) đều bàn về hai loại tình thái chính đó là tình thái trong ngôn ngữ học và tình thái trong logic học.

Nếu trong logic học chúng ta quan tâm đến tình thái khách quan với các thuộc tính của tình thái khách quan là chân trị của mệnh đề, là tính hiện thực, là tính tất yếu hay không tất yếu, là tính khả hữu thì trong ngôn ngữ học đối tượng quan tâm đặc biệt là tình thái chủ quan với thái độ của người nói. Theo quan niệm của T.Givón (1993) “Tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với phát ngôn”. Thái độ mà ông đề cập đến ở đây là hai loại đánh giá của người nói về thông tin phát ngôn được chuyển tải qua nội dung mệnh đề. Một 8 là những đánh giá nhận thức về tính hiện thực, khả năng, lòng tin và sự chắc chắn hay bằng chứng.

Hai là những đánh giá giá trị về ước muốn, sự ưa thích, ý định, sự ràng buộc hay sự điều khiển.Givón chia tình thái nhận thức làm bốn tiểu loại gồm: (1) Tiền giả định ( presupposition), (2) Xác nhận hiện thực (realis assertion), (3) Xác nhận phi hiện thực (irrealis assertion), (4) Xác nhận phủ định (negative assertion).L Austin (1962) trong công trình nghiên cứu “How to do things with words” cho rằng nói năng cũng là hành động, tương ứng với câu nói là những hành động nhằm tác động vào người nghe. Từ đây đã khởi xướng cho việc nghiên cứu tình thái của “hành động phát ngôn”. Tình thái của “hành động phát ngôn” phân biệt các phát ngôn theo mục đích, mục tiêu cụ thể trong giao tiếp, phân biệt các câu có giá trị ngôn trung khác nhau được đánh dấu.Lyons cho rằng: Tình thái nhận thức liên quan đến tính khá năng, tính cần thiết và mức độ cam kết của người nói đối với điều mà anh ta nói ra, tình thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lý của hành động đo một 9 người nào đó hay do chính người nói thực hiện. Tình thái nhận thức phải được thể hiện thông qua tính tất yếu hoặc khả năng về tính xác thực của mệnh đề, và có liên quan đến tri thức và niềm tin.

Trong tình thái nhận thức, xét về góc độ chân thực thì có ba kiểu tình thái nhận thức: + Tình thái thực hữu (factive modality) là loại tình thái mà người nói cho rằng sự việc được nói đến là hiện thực hay tất yếu hiện thực. + Tình thái phản thực hữu (contra-factive modality) là loại tình thái người nói cho rằng sự việc được nói đến là phi hiện thực hoặc tất yếu phi hiện thực. + Tình thái không thực hữu (non-factive modality) là loại tình thái người nói cho rằng sự việc được nói đến có thể xảy ra ở một thế giới khả năng nào đó.Lyons 1977, tr 823 ) Tình thái đạo nghĩa là loại tình thái có liên quan với chức năng xã hội của phép tắc hay là nghĩa vụ nghĩa là loại tình thái đạo nghĩa này thể hiện mức độ áp đặt của chủ thể giao tiếp về mặt đạo đức,về phong tục,về tập quán. với các tiểu loại sau: + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự bắt buộc/không bắt buộc, + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự được phép/không được phép + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự cấm đoán/không cấm đoán + Tình thái đạo nghĩa thể hiện sự miễn trừ/ không miễn trừ (J.Lyons 1977, tr 823) Đáng chú ý là J.

Searle (1979) trong cuốn Expression and Meaning( Cambridge (Mass) lại phân tích tình thái theo hướng tiếp cận vấn đề về hành động ngôn từ. Lí thuyết hành động ngôn từ cho thấy mối quan hệ giữa người nói, người nghe và nội dung phát ngôn bao chứa rất nhiều nội dung tình thái.Theo cách tiếp cận này, vai trò của người nói và người nghe được nhấn mạnh. Dường như có sự tương hợp giữa khung tình thái với 5 nhóm hành động ngôn từ mà tác giả đã phân loại. 10 Tương tự với nhận xét của T.Givón về tình thái, W.

K Halliday (1994) cũng cho rằng các thuộc tính cơ bản của tình thái là tính “hiện thực” và “phi hiện thực”. Tình thái ảnh hưởng tới toàn bộ nội dung của một sự diễn đạt nào đó.Tình thái gợi lên không chỉ các mức độ nhận thức khách quan về hiện thực mà còn cả các thái độ và sự định hướng chủ quan đối với nội dung của sự biểu đạt.Palmer (2001) (Mood and modality, 2nd edition. Cambridge Textbooks in Linguistics New York: Cambridge University Press) cũng phân loại tình thái giống như cách phân loại của J.Lyons gồm hai loại trọng tâm là tình thái nhận thức (epistemic modality)và tình thái đạo nghĩa (deontic modality), ngoài ra, ông còn đề cập đến loại tình thái trạng huống (dynamic modality). Tình thái trạng huống là loại tình thái có tính tình huống.

Tình thái trạng huống mang tính khách quan khi yếu tố tình huống là yếu tố bên ngoài, không liên quan đến ý chí hay mong muốn của người nói đối với việc thực hiện hành động (Palmer 2001, tr 76 – tr 96). Ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê (1989), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Lê Đông (1996), Nguyễn Đức Dân(1998), Diệp Quang Ban(2000), Hoàng Tuệ (2001), Phạm Hùng Việt(2003), Bùi Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Văn Hiệp (2001, 2004, 2007, 2015).trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái với những nghiên cứu rất chi tiết và có nhiều kiến giải sâu sắc vấn đề tình thái trên nhiều phương diện khác nhau. Trong đó Cao Xuân Hạo (1999) đã phân biệt hai loại tình thái: Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Theo ông việc “phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu và tác dụng trong giao tế” thuộc tình thái của hành động phát ngôn, còn tình thái của lời phát ngôn là tình thái “có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra hoặc quan hệ sở đề và sở thuyết của mệnh đề”.

Sự phân biệt giữa các kiểu câu trần thuật, câu hỏi, câu 11 mệnh lệnh theo tiêu chí ngữ pháp và sự phân biệt các hành động ngôn từ theo tiêu chí ngữ dụng thuộc lĩnh vực tình thái của hành động phát ngôn. Như vậy nội dung tình thái của lời phát ngôn bao gồm:  Những hiểu biết của chủ thể giao tiếp về chân trị của điều được nói ra trong các loại câu khẳng định, phủ nhận, ngờ vực, giới hạn của điều kiện chân trị.  Tính khả năng hay tính tất yếu của điều được nói ra ( có thể/ không thể; tất nhiên /không tất nhiên; tính khả năng/tất yếu)  Sự đánh giá của chủ thể giao tiếp với thông tin truyền đạt ( buồn, vui, nên có hay không nên có, đáng mừng hay đáng tiếc)  Sự chính xác, đơn giản, mức độ thành thật của thông tin mà người nói nói ra  Sự liên hệ giữa câu, phát ngôn với cảnh huống và các vấn đề khác thuộc những vấn đề logic hay siêu ngôn ngữ. (Cao Xuân Hạo 1991, tr 42- tr 50) Cao Xuân Hạo còn đề cập đến loại tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân.

Nghiên cứu về thái độ của người nói về điều mà mình nói ra, cách đánh giá nhận định của người nói về tính hiện thực, tính không hiện thực, giới hạn của nó và tính xác thực, tính tất yếu , điều mong muốn của thông tin truyền tải chính là nghiên cứu về tình thái của câu. Nguyễn Văn Hiệp với bài viết “Một số phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ”-Tạp chí Ngôn ngữ số 8-2007 đã cho thấy nghiên cứu sâu về tình thái. Ông đã nêu ra những phạm trù tình thái chủ yếu trong ngôn ngữ dựa trên sự đối lập của các cặp nghĩa tình thái như sự đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality), sự đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái căn bản (root modality), đối lập giữa tình thái hướng tác thể (agent- oriented modality) và tình thái hướng người nói ( speaker- oriented modality), đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn. Những đối lập về tình thái mà ông nêu ra cho thấy phạm vi rất rộng trong việc nghiên cứu về tình thái.

12 Bàn về các phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh Trong tiếng Anh, O.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ngôn ngữ học: Biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt là một tài liệu chuyên sâu khám phá cách biểu đạt ý nghĩa tình thái trong các hành động hỏi giữa hai ngôn ngữ. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ sự khác biệt và tương đồng trong cách sử dụng ngôn ngữ mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa giao tiếp của người Anh và người Việt. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức biểu đạt tình cảm, thái độ thông qua câu hỏi, từ đó nâng cao kỹ năng giao tiếp liên văn hóa.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học cấu trúc ngữ nghĩa ngữ dụng của phép nối trong tiếng việt so sánh với tiếng anh, nơi phân tích sâu về cấu trúc ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ. Bên cạnh đó, Luận án sự tình phát ngôn trong tiếng anh đối chiếu với tiếng việt cung cấp góc nhìn toàn diện về cách thức phát ngôn trong hai ngôn ngữ. Cuối cùng, Luận văn đại học ngoại thương khảo sát kiểu câu ngôi xưng hô tình thái trong thư từ giao dịch tiếng anh thương mại trên dữ liệu tiếng anh đối chiếu với tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ tình thái trong bối cảnh thương mại. Mỗi tài liệu là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và hiểu sâu hơn về sự đa dạng ngôn ngữ.