Chương 1 NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ CHAT 1. Ngôn ngữ và chữ viết 1. Khái niệm về chữ viết Hệ thống chữ viết là một hệ thống kí hiệu dùng để ghi lại ngôn ngữ. Nếu ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu thì chữ viết là hệ thống kí hiệu của kí hiệu.
Chữ viết là phương tiện để văn bản hóa ngôn ngữ nhưng không thể đồng nhất ngôn ngữ và chữ viết. Người ta có thể không biết chữ nhưng vẫn nói, vẫn dùng ngôn ngữ như thường. Về mặt lịch sử, ngôn ngữ xuất hiện cùng với xã hội loài người, trong khi đó, cho tới nay nhiều ngôn ngữ vẫn chưa có chữ viết. Con người có mặt trên trái đất hàng chục vạn năm, nhưng mãi tới khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, loài người mới có chữ viết.
F Engels, triết gia người Đức - Nhà cách mạng vĩ đại đã viết: “Giai đoạn này bắt đầu với việc nấu quặng sắt và chuyển qua thời đại văn minh với việc sáng tạo ra chữ viết có vần và việc sử dụng chữ để ghi lời văn” (Dẫn F. Engels, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước, Nxb Sự thật, năm 1961) Đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết có một vai trò rất to lớn. Ngôn ngữ, là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người, dầu sao vẫn có những hạn chế nhất định. Vì vỏ vật chất của ngôn ngữ là âm thanh cho nên nếu ở xa nhau không thể nghe nhau nói được.Khả năng truyền âm thanh và tiếp nhận âm thanh của tai người là hữu hạn.
Ở cùng một chỗ, có thể nghe nhau nói được nhưng lại có những hạn chế khác. Các cụ ta thường nói: “Lời nói gió bay”. Mỗi lời nói chỉ được thu nhận vào lúc nó phát ra, sau đó không còn nữa. Như vậy ngôn ngữ cũng không vượt qua được cái hố ngăn không gian và thời gian.
Nhưng liệu người ta có thể hiểu được lời nói của nhau, khi gián cách về không gian và thời gian, bằng con đường truyền mieng hay không? Hiển nhiên là có nhưng rất hạn chế. Khả năng nhận thức của mỗi người khác nhau và trí nhớ của con người cũng có hạn nên tình trạng “tam sao thất bản” không thể nào tránh khỏi. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, hiện nay người ta đã dùng điện thoại, vô tuyến điện, radio… nhưng những biện pháp đó không phải là phổ biến, rộng rãi khắp mọi lĩnh vực. Trong tình hình như vậy, chữ viết có giá trị rất to lớn.
Vì chữ viết dựa trên sự tiếp nhận về thị giác cho nên có thể thắng được không gian, thời gian và làm hạn chế đi nhiều hiện tượng “tam sao thất bản”. Nhờ có chữ viết, chúng ta mới hiểu lịch sử quá khứ của nhân loại. Không phải ngẫu nhiên người ta gọi thời kỳ có chữ viết trong quá trình phát triển của loài người là giai đoạn lịch sử còn thời kỳ trước đó là giai đoạn tiền sử hoặc dã sử. Chữ viết chẳng những khắc phục được khoảng cách về không gian và thời gian mà còn phát huy được tác dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp không dùng ngôn ngữ bằng lời được.
Với tác dụng đó, chữ viết thực sự là một bước tiến lớn trong sự phát triển của xã hội loài ngưới. Nó thực sự giúp cho con người có thể truyền tải kinh nghiệm và học tập lẫn nhau trên tất cả lĩnh vực hoạt động, từ lĩnh vực văn hoá, xã hội, lịch sử đến lĩnh vực khoa học kĩ thuật. Chữ viết là sáng tạo kì diệu của con người, nhưng sản phẩm kì diệu đó không phải được hình thành ra một cách dễ dàng mà phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Nhưng chữ viết cổ nhất không ra đời một cách ngẫu nhiên, đột ngột mà đều trên những cơ sở nhất định, tức là nguồn gốc của nó.
Từ xưa đến nay con người luôn luôn sử dụng những biện pháp giao tiếp bổ sung. Nếu như ngôn ngữ dựa vào sự tiếp nhận về thính giác thì các phương tiện giao tiếp bổ sung thường dựa vào sự tiếp nhận về thị giác. Hình thức của chúng là hiện vật và hình vẽ. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp Khi con người đã sáng tạo ra chữ viết, biện pháp giao tiếp bằng hình vẽ vẫn được sử dụng.
Hiển nhiên, các hiện vật, các hình vẽ và quan hệ giữa chúng cũng có thể biểu trưng đến mức nào đó những sự vật, hiện tượng và quan hệ trong thực tế, nhưng chúng không thể nào diễn đạt được tất cả mọi nội dung, nhất là những nội dung trừu tượng. Đối với hình thức giao tiếp bằng hiện vật còn có một hạn chế khác là các hiện vật không thể tồn tại lâu bền được. Một số người gán cho thuật ngữ “chữ viết” một phạm vi thể hiện quá rộng. Họ cho các hình thức giao tiếp kiểu trên cũng là chữ viết.
Như vậy, theo họ chữ viết phải hiểu là tất cả các kiểu giao tiếp của con người nhờ các tín hiệu thị giác, tức là các tín hiệu thu nhận được bằng mắt. Số khác gạt những hình thức giao tiếp bằng hiện vật ra khỏi chữ viết, nhưng vẫn thừa nhận chữ hình vẽ hay còn gọi là chữ tượng hình. Thực ra cả hai hình thức giao tiếp trên đây chỉ là những hình thức tiền thân của chữ viết. Nói đến chữ viết là nói đến mối liên hệ của nó với ngôn ngữ.
Chỉ những tín hiệu nào liên hệ với các hình thái của ngôn ngữ mới được xem là chữ viết. Khái niệm “chữ viết có vần” hay “chữ để ghi lời văn” của Engels là vậy. Những hình thức giao tiếp bằng hiện vật và hình vẽ là nguồn gốc của “chữ viết có vần” của “chữ để ghi lời văn”. Chữ viết và những hình thức giao tiếp đó có cùng một bản chất tín hiệu như nhau.
Nếu như sự giống nhau giữa chữ viết và hình thức giao tiếp bằng hiện vật chỉ có bấy nhiêu thôi thì hình thức giao tiếp bằng hình vẽ còn mách bảo cho con người cách đặt hình chữ như thế nào. Như chúng ta đã biết, hình chữ của những chữ viết đầu tiên thường là hình vẽ. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ một bên là hình vẽ không liên hệ với các hình thái ngôn ngữ còn một bên là hình vẽ có liên hệ với các hình thái ngôn ngữ. Chính nhờ chữ viết - ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình.
Từ đó có thể nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Từ những hiểu biết cơ bản về ngôn ngữ, ta cùng trải nghiệm quá trình biến đổi của chúng qua từng thời kỳ. Bước vào thiên niên kỷ thứ 3, những thành tựu tiến bộ của khoa học kĩ thuật làm nảy sinh những biến đổi nhất định có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, mà cụ thể là chữ viết. Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến một mảng biến đổi của ngôn ngữ trước mạng thông tin đa chiều như ngày nay, đó là ngôn ngữ chat.
Ngôn ngữ chat Ngôn ngữ chat còn gọi là ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ @. Trong tiếng Anh, danh từ “chat” có nghĩa là “chuyện phiếm, chuyện gẫu”, còn sử dụng với nghĩa động từ thì nó là “nói chuyện phiếm, tán gẫu”. Từ ý nghĩa đó, người Việt mượn nguyên thể từ “chat” trong tiếng Anh để chỉ việc trò chuyện, tán gẫu giữa hai hay nhiều người với nhau một cách gián tiếp thông qua mạng internet. Như vậy, ngôn ngữ chat trước hết là ngôn ngữ nói.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động trao đổi thông tin nhiều tiện ích này, ngôn ngữ “chat” càng trở nên quen thuộc và phổ biến với cộng đồng “dân cư mạng”. Là dạng biến thể của ngôn ngữ chuẩn, nó không chỉ được sử dụng làm công cụ giao tiếp trên “không gian ảo” như mạng internet mà còn thâm nhập vào đời sống thông qua sách báo dành cho tuổi mới lớn, qua tin nhắn, điện thoại…. Theo tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, trưởng bộ môn Tâm lý học (Khoa Tâm lý giáo dục trường ĐH Sư phạm TP.HCM): “Dưới ảnh hưởng của phương tiện giao tiếp đơn giản tới mức hời hợt như thế, các em sẽ mất năng lượng cảm thụ vẻ đẹp của ngôn ngữ mẹ đẻ. Tình trạng này lan rộng sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các em.
Bắt chước là chuyện bình thường nhưng nếu cứ để trẻ bắt chước mà không được định hướng, chọn lọc thì sự bắt chước sẽ trở thành thói quen khó điều chỉnh và về lâu dài tạo nên những vết trầm tích ảnh hưởng đến tâm lý. Nếu cứ để trẻ chạy theo thói quen qua loa, đại khái khi sử dụng ngôn ngữ thì trong việc làm, sinh hoạt cũng dễ dàng trượt theo sự hời hợt, đơn giản ấy.TS Nguyễn Đức Dân từng nhận định về ngôn ngữ chat trên báo Tuổi trẻ như sau: “Thực tế thời nào cũng có chuyện này. Chỉ có điều bây giờ Internet phát triển nên giới trẻ sáng tạo nhiều cách viết mới, nhiều tiếng lóng mới càng nở rộ hơn mà thôi. Tâm lý của trẻ thường thích sự mới lạ, khác người nên các em muốn có kiểu viết, kiểu nói của riêng mình.
Cách đây 40 năm, lúc đi học chúng tôi cũng dùng tiếng lóng, nhiều khi chỉ vì không muốn cha mẹ biết. Các em thích ngôn ngữ chat phải cẩn thận ở chỗ phân biệt nơi nào nên sử dụng, nơi nào không. Đặc biệt là trong sách vở, trong các bài học ở trường”. Từ đặc điểm trên, ta tìm hiểu đôi nét khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
So sánh ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Xác định ngôn ngữ chat chính là ngôn ngữ nói, ta tìm hiểu vài điểm khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết để hiểu rõ được bối cảnh, đặc điểm và cấu trúc của ngôn ngữ chat. Hai khía cạnh khác nhau của chúng là: - Nói thì nhanh hơn viết - Người nói tương tác trực tiếp với người nghe, còn người viết thì không. 35-53)] Ngoài ra, cứ liệu của ngôn ngữ nói thường bị ngắt quãng do nhịp độ nhanh của ngôn ngữ nói (ngôn ngữ chat không thông qua lời nói nhưng cường độ và tính chất thông tin của ngôn ngữ này làm thao tác gõ bàn phím gần như theo kịp những tư duy đang hình thành trong đầu người chat). Các lỗi thường gặp của người chat là: lỗi về từ vựng, cú pháp, việc bỏ lửng những ý mình định nói lúc đầu hoặc quên đi phần mình vừa phát biểu xong và lặp lại cùng một ý.