Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu mang tên "Đặc trưng của lớp từ vựng mới tiếng Việt xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây (đối chiếu với lớp từ vựng mới tiếng Anh)" do nghiên cứu sinh Huỳnh Văn Tài thực hiện, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu (mã số 62.10), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đỗ Thị Bích Lài và PGS. Dư Ngọc Ngân, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2010.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản của con người, luôn vận động và biến đổi để thích ứng với sự phát triển của xã hội. Trong ba bình diện của ngôn ngữ, ngữ âm và ngữ pháp có tính ổn định cao và cần nhiều thời gian để biến đổi, trong khi từ vựng là bình diện luôn có sự thay đổi, bổ sung liên tục. Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật và quá trình hội nhập quốc tế vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI dẫn đến sự xuất hiện của hàng loạt sự vật, hiện tượng, khái niệm mới, đòi hỏi ngôn ngữ phải liên tục tạo ra các đơn vị từ vựng mới để thực hiện chức năng định danh và giao tiếp. Tiếng Việt trong giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của lớp từ vựng mới, bao gồm từ tạo mới từ chất liệu bản ngữ và từ vay mượn (đặc biệt từ tiếng Anh). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về lớp từ mới xuất hiện trong giai đoạn 10 năm gần đây còn ít, chưa làm sáng tỏ đồng bộ các đặc trưng cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa trong sự đối chiếu với tiếng nước ngoài.
  • Mục đích nghiên cứu: Khảo sát, miêu tả, phân tích những đặc trưng cơ bản về phương thức cấu tạo từ, đặc trưng từ loại và đặc trưng ngữ nghĩa của lớp từ vựng mới tiếng Việt xuất hiện trong giai đoạn 10 năm (trọng tâm là 2005–2007), đồng thời tiến hành so sánh, đối chiếu với lớp từ vựng mới trong tiếng Anh nhằm xác định các nét tương đồng và dị biệt.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Miêu tả, phân tích các đặc trưng cấu tạo của lớp từ vựng mới trong tiếng Việt.
    2. Miêu tả, phân tích các đặc trưng từ loại của lớp từ vựng mới trong tiếng Việt.
    3. Miêu tả, phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa của lớp từ vựng mới trong tiếng Việt.
    4. Tiến hành so sánh, đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng cũng như khác biệt của lớp từ vựng mới của tiếng Việt và tiếng Anh trên cả ba bình diện cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Các đơn vị từ vựng mới tiếng Việt và các đơn vị từ vựng mới tiếng Anh xét trên phương diện cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa.
    • Phạm vi thời gian: Lớp từ vựng xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây (tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2010), trong đó ngữ liệu tập trung khảo sát chủ yếu trong ba năm từ 2005 đến 2007.
    • Phạm vi thuộc tính từ ngữ: Nghiên cứu giới hạn ở lớp từ toàn dân có chức năng định danh sự vật, hiện tượng, khái niệm mới; không khảo sát từ địa phương, từ thông tục và tiếng lóng. Tiêu chí xác định từ mới là các đơn vị chưa từng xuất hiện trong các cuốn từ điển tiếng Việt đối chiếu chuẩn mực, hoặc đã xuất hiện nhưng nay được cấu tạo với hình thức và nét nghĩa mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại có hệ thống các quan điểm lý luận và công trình nghiên cứu về từ vựng học, phương thức tạo từ và hiện tượng từ mới của các tác giả trong nước và quốc tế:

  • Lý thuyết nền tảng về bản chất và sự biến đổi của từ vựng:
    • Ferdinand De Saussure: Xác lập bản chất của ngôn ngữ là hệ thống biểu hiện ý niệm, trong đó tín hiệu ngôn ngữ kết hợp giữa một khái niệm (cái được biểu đạt) và một hình ảnh âm thanh (image acoustique - cái biểu đạt).
    • Harvey A. Daniels: Khẳng định mỗi ngôn ngữ được cấu tạo và thay đổi nhằm đáp ứng chính yêu cầu giao tiếp của người sử dụng ngôn ngữ đó.
    • Nguyễn Văn Tu (1978): Nhấn mạnh hệ thống từ vựng tiến triển liên tục theo sự xuất hiện của các khái niệm mới; định nghĩa từ mới là những từ chưa thuộc lớp từ vựng hoạt động và khẳng định từ mới được cấu tạo trái với quy luật của tiếng Việt sẽ không được xã hội chấp nhận.
  • Các công trình nghiên cứu về phương thức tạo từ mới tiếng Việt:
    • Nguyễn Thiện Giáp (2003): Khảo sát lịch sử phát triển từ vựng tiếng Việt và hệ thống hóa các phương thức tạo từ mới gồm: phát triển nghĩa mới (mở rộng, thu hẹp nghĩa, ẩn dụ, hoán dụ); biến dạng đơn vị có sẵn (biến âm, biến thể thành ngữ); ghép các yếu tố sẵn có (đẳng lập, chính phụ); phức hợp (hòa đúc); rút gọn; viết tắt; cùng các phương thức xử lý từ vay mượn (ngoại lai, viết tắt ngoại lai, ghép lai, sao phỏng cấu tạo từ, sao phỏng ngữ nghĩa).
    • Bùi Thị Thanh Lương: Nghiên cứu sáng tạo và sử dụng từ mới trên tư liệu báo Nhân Dân (1986–2000), chỉ ra các phương thức ghép hai hình vị tự do, ghép hình vị hạn chế với tự do, ghép hai hình vị hạn chế; khẳng định vay mượn từ ngữ Âu – Mỹ là hiện tượng tất yếu nhưng còn thiếu nhất quán trong phiên âm.
    • Đào Mục Đích (2003): Khảo sát báo chí Thành phố Hồ Chí Minh, khái quát ba phương thức tạo từ trong tiếng Việt hiện đại: gán thêm nghĩa mới / mở rộng nghĩa; cấu tạo dựa trên các mô hình kết hợp có sẵn (quan hệ liên tưởng, tính đối ứng, chuyển từ loại, quan hệ ngữ nghĩa đẳng lập gốc Hán); và xu hướng vay mượn từ ngữ tiếng Anh, tiếng Hán (chủ yếu xử lý bằng sao phỏng).
    • Chu Bích Thu (chủ biên, 2002): Công trình Từ điển từ mới tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, đưa ra các tiêu chí nhận diện từ mới, nghĩa mới và từ cũ được dùng lại.
  • Các nghiên cứu về cấu tạo từ và từ mới trong tiếng Anh:
    • Leonard Bloomfield (1968): Xác lập khái niệm hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa tham gia cấu tạo từ.
    • R. Moon (2003): Phân tích các mô hình từ ghép trong tiếng Anh.
    • Anna Vander Broek và David M. Ewalt (2009): Tổng kết 11 phương thức cấu tạo từ mới phổ biến trong tiếng Anh: tạo mới (coinage/invention), chuyển di từ loại (conversion/functional shift), tặng danh (eponym), phái sinh (derivation), phái sinh ngược (back-formation), ghép (compound), loại suy (analogy), mở rộng nghĩa (meaning extension), vị từ có phó từ bổ nghĩa (phrasal verb), trộn/hòa đúc (blend/portmanteau), và tỉnh lược/viết tắt (abbreviation gồm initialism, acronym, clipping).
    • Maxwell (2005): Phân tích cơ chế tiếp nhận và nhận diện các dạng thức viết tắt trong tiếng Anh như những từ độc lập.
  • Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về từ mới hoặc từng phương thức cấu tạo, nhưng chưa có công trình nào khảo sát toàn diện lớp từ vựng mới tiếng Việt xuất hiện trong giai đoạn 10 năm (đặc biệt là giai đoạn 2005–2007) đồng thời trên cả ba trục cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa, đặt trong mối tương quan so sánh đối chiếu trực tiếp với các mô hình từ mới của tiếng Anh. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm xác định các quy luật tiếp nhận, mô hình hóa cấu trúc và đề xuất cách thức xử lý lớp từ vựng mới và từ mượn trong giai đoạn mở cửa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các trụ cột ngôn ngữ học:

  1. Lý thuyết về từ và cụm từ: Tiếp thu định nghĩa của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến (2000): "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu". Phân biệt từ ghép với cụm từ cố định và cụm từ tự do dựa trên cấu trúc hình vị/từ và tính chất tổ chức nghĩa; tiếp thu quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp về ngữ định danh (hợp kết và hòa kết).
  2. Lý thuyết cấu tạo từ: Tiếp thu khái niệm hình vị của Bloomfield, nguyên vị của Hồ Lê (gồm 6 nguyên vị chính: thực, ngữ pháp, hệ thống, tiềm tàng, tình cảm, mục đích; và 4 nguyên vị trung gian). Kế thừa mô thức cấu tạo từ tiếng Việt của Hoàng Văn Hành (từ hóa hình vị, ghép, láy, tựa phụ gia), hệ thống phân loại của Đỗ Hữu Châu (từ đơn, từ láy, từ ghép phân nghĩa, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép biệt lập) và Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (từ đơn, từ ghép đẳng lập/chính phụ, từ láy, từ ngẫu hợp; phương thức dựa trên chất liệu có sẵn và phương thức vay mượn).
  3. Lý thuyết từ loại: Tiếp thu quan điểm của Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (2004) về ba tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt: ý nghĩa khái quát, chức năng cú pháp và khả năng kết hợp. Hệ thống từ loại tiếng Việt được chia thành:
    • Nhóm 1 (Thực từ): Danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
    • Nhóm 2 (Hư từ và tiểu từ): Phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ (trợ từ, tình thái từ).
    • Hệ thống từ loại tiếng Anh: Dựa trên ngữ pháp truyền thống và các công trình của Hartley & Viney (1987), Interlink Language Centers với 8 từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ, phó từ, đại từ, giới từ, liên từ, thán từ/quán từ).
  4. Lý thuyết nghĩa và trường từ vựng – ngữ nghĩa: Tiếp thu quan điểm nghĩa của từ phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức (Hoàng Văn Hành), tam giác nghĩa (Stern, Zveginxhev), hình tháp nghĩa 4 đỉnh của Đỗ Hữu Châu (từ trừu tượng – sự vật – hệ thống chức năng – tín hiệu học). Phân biệt nghĩa gốc và nghĩa phái sinh theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Vận dụng lý thuyết trường ngữ nghĩa của Trier, Pokrovxki, X. Xtepanov, Đỗ Hữu Châu (trường nghĩa dọc/trực tuyến gồm biểu vật và biểu niệm; trường nghĩa ngang/tuyến tính) và Nguyễn Công Đức – Nguyễn Hữu Chương.
  5. Lý thuyết ngữ cảnh: Sử dụng ngữ cảnh giao tiếp và văn bản báo chí làm môi trường xác định nghĩa và từ loại của các đơn vị từ vựng mới.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thống kê: Lập danh mục ngữ liệu từ vựng mới tiếng Việt và tiếng Anh, xác định tần số xuất hiện, phân loại tỷ lệ theo các mô hình cấu tạo, từ loại và trường ngữ nghĩa để làm cơ sở định lượng cho các nhận định đối chiếu.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ pháp: Thực hiện qua ba bước:
    • Bước 1 - Phân tích phương thức cấu tạo: Phân tích đặc điểm của từng thành tố tham gia cấu tạo, từ đó khái quát hóa thành các mô hình cấu tạo từ mới.
    • Bước 2 - Phân tích từ loại: Phân tích đặc điểm ngữ pháp, chức năng cú pháp và khả năng kết hợp của từ mới trong câu trích dẫn thực tế để xác định từ loại.
    • Bước 3 - Phân tích ngữ nghĩa và phân loại theo trường từ vựng – ngữ nghĩa: Phân tích nghĩa của các thành tố và mối quan hệ ngữ nghĩa nội tại trong ngữ cảnh nhằm xác định nghĩa cấu trúc và xếp vào các trường nghĩa tương ứng.
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu: Đặt các mô hình cấu tạo, đặc trưng từ loại và ngữ nghĩa của lớp từ mới tiếng Việt bên cạnh các mô hình tương ứng của tiếng Anh để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt.

Nguồn ngữ liệu và công cụ đối chiếu

Loại ngữ liệu / Công cụ Nguồn trích xuất cụ thể trong luận án
Ngữ liệu báo chí tiếng Việt Báo chí xuất bản tại TP.HCM (Người Lao Động, Người Lao Động Online, Phụ Nữ, Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên, Thanh Niên Online, Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ Online) và Hà Nội (Nhân Dân, Hà Nội Mới, VietNamNet).
Từ điển đối chiếu tiếng Việt - Đại Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1999, NXB Văn hóa – Thông tin).
- Từ điển từ mới tiếng Việt (Chu Bích Thu chủ biên, 2002, NXB TP.HCM).
- Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, in lần thứ 10 - 2005, NXB Đà Nẵng).
Từ điển chuyên ngành đối chiếu - Từ điển chữ viết tắt thông dụng Việt – Anh – Pháp (Lê Nhân Đàm, 2002, NXB Thế giới).
- Từ điển viết tắt tiếng Anh về khoa học & công nghệ thông dụng (Phùng Quang Nhượng, 2002, NXB Thống kê).
- Từ điển Tin học & Công nghệ Thông tin Anh – Anh – Việt (Nguyễn Ngọc Tuấn, Trương Văn Thiện, 2002, NXB Thông tấn).
Từ điển đối chiếu tiếng Anh - Từ điển Anh – Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1995, NXB TP.HCM).
- Oxford Advanced Learner’s Dictionary (Ấn bản 6 - 2000, Sally Wehmeier chủ biên).
- Oxford Dictionary of English – NewWords.pdf (Second edition - 2003, Oxford University Press).

Nội dung chính theo từng chương

Cấu trúc nội dung của luận án được triển khai qua 4 chương chính (tổng cộng 159 trang nội dung chính, chưa tính phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục):

Chương Tên chương trong văn bản Dung lượng
Chương 1 Những vấn đề lý thuyết cơ sở 34 trang (tr. 11–44)
Chương 2 Đặc trưng cấu tạo của đơn vị từ vựng mới tiếng Việt (đối chiếu với đơn vị từ vựng mới tiếng Anh) 41 trang (tr. 44–81)
Chương 3 Đặc trưng từ loại của lớp từ vựng mới tiếng Việt (đối chiếu với lớp từ vựng mới tiếng Anh) 43 trang (tr. 81–121)
Chương 4 Đặc trưng ngữ nghĩa của lớp từ vựng mới tiếng Việt (đối chiếu với lớp từ vựng mới tiếng Anh) 43 trang (tr. 121–167)

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ

Chương này trình bày 7 nội dung lý luận cơ sở:

  1. Vấn đề từ và cụm từ: Phân tích các định nghĩa từ của Sapir, Bloomfield, Lục Chí Vỹ, L. Sherba, Nguyễn Kim Thản; chuẩn hóa định nghĩa từ làm việc theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến; phân biệt từ ghép với cụm từ cố định, ngữ định danh (hợp kết và hòa kết) và cụm từ tự do.
  2. Vấn đề cấu tạo từ: Trình bày quan niệm hình vị, từ tố, nguyên vị (Hồ Lê), các mô thức cấu tạo từ tiếng Việt theo Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Mai Ngọc Chừ; hệ thống hóa 11 phương thức cấu tạo từ mới trong tiếng Anh theo Anna Vander Broek và David M. Ewalt.
  3. Vấn đề từ mới: Phân tích bản chất từ mới theo Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thị Kiều Vi, Chu Bích Thu, các nguồn từ điển quốc tế (Merriam-Webster, Wikipedia); mô tả 3 giai đoạn tiếp nhận từ mới trong xã hội: chưa ổn định (unstable), lan truyền (diffused), và ổn định (stable).
  4. Vấn đề từ loại: Điểm lại lịch sử phân loại từ loại từ Aristôt, Priscian, Thomas đến các trường phái ngôn ngữ học Việt Nam; chuẩn hóa hệ thống phân loại từ loại tiếng Việt theo Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung và từ loại tiếng Anh theo ngữ pháp phân tích tính.
  5. Vấn đề nghĩa và nghĩa của từ: Phân tích cấu trúc nghĩa, tam giác nghĩa (Stern), hình tháp nghĩa 4 đỉnh (Đỗ Hữu Châu), phân loại nghĩa gốc và nghĩa phái sinh.
  6. Vấn đề trường từ vựng – ngữ nghĩa: Khái quát lý thuyết trường từ vựng của Trier, Pokrovxki, Xtepanov, Đỗ Hữu Châu (trường trực tuyến biểu vật, biểu niệm; trường tuyến tính).
  7. Vấn đề ngữ cảnh: Xác định vai trò của ngữ cảnh trong việc hiện thực hóa ý nghĩa và nhận diện từ loại của từ mới.

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG CẤU TẠO CỦA ĐƠN VỊ TỪ VỰNG MỚI TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI ĐƠN VỊ TỪ VỰNG MỚI TIẾNG ANH)

Chương 2 tập trung phân tích ngữ liệu thực tế về phương thức cấu tạo từ mới ở hai ngôn ngữ:

  • Đặc trưng cấu tạo của lớp từ vựng mới tiếng Việt:
    • Nhóm cấu tạo từ chất liệu và quy tắc có sẵn: Phân tích cơ chế tạo từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập, mô hình rút gọn / hòa đúc (khiếu nại + tố cáo $\rightarrow$ khiếu tố; giao thông + liên lạc $\rightarrow$ giao liên), viết tắt chữ đầu (ĐHQGHN, VPQH), phương thức loại suy và mô hình kết hợp mới dựa trên các yếu tố gốc Hán hoặc thuần Việt.
    • Nhóm hình thành bằng cách vay mượn: Phân tích các hình thức từ ngoại lai (giữ nguyên dạng, chuyển tự, phiên âm), viết tắt ngoại lai (EC, WB, ASEAN), ghép lai (đài rađa, áo măng tô, sóng rađiô), sao phỏng cấu tạo từ (kim loại hóa $\leftarrow$ métalliser, chắn bùn $\leftarrow$ garde-boue, bức tường lửa $\leftarrow$ fire wall) và sao phỏng ngữ nghĩa (bàn đạp $\leftarrow$ pédale, ngân phiếu $\leftarrow$ mandat).
  • Đặc trưng cấu tạo của đơn vị từ vựng mới tiếng Anh:
    • Khảo sát ngữ liệu từ điển từ mới tiếng Anh theo các phương thức: tạo mới (coinage), phái sinh tiền tố/hậu tố (derivation), phái sinh ngược (back-formation), ghép (compounding), trộn từ (blending ví dụ brunch, electrocute), viết tắt (acronym, initialism, clipping), và thành ngữ vị từ (phrasal verbs).
    • Khảo sát cơ chế tiếp nhận từ vay mượn của tiếng Anh từ các ngôn ngữ khác.
  • So sánh đặc trưng cấu tạo từ mới Anh – Việt:
    • Điểm tương đồng: Cả hai ngôn ngữ đều khai thác triệt để phương thức ghép từ các yếu tố có sẵn, sử dụng phổ biến phương thức rút gọn/viết tắt để phục vụ tính kinh tế của ngôn ngữ, và áp dụng cơ chế sao phỏng (calque) khi tiếp nhận khái niệm ngoại lai.
    • Điểm khác biệt: Xuất phát từ loại hình ngôn ngữ. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình nên phương thức tạo từ mới chủ yếu là ghép từ căn/hình vị độc lập và biến đổi trật tự từ; không có hiện tượng phái sinh bằng phụ tố thực thụ (chỉ có hiện tượng tựa phụ tố gốc Hán như -hóa, -viên, -sinh). Tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình/phân tích tính, có hệ thống phụ tố phái sinh phong phú (tiền tố, hậu tố), có phương thức trộn từ (blend) và phái sinh ngược (back-formation) vốn không tồn tại theo cách thức tương tự trong tiếng Việt.

CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG TỪ LOẠI CỦA LỚP TỪ VỰNG MỚI TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI LỚP TỪ VỰNG MỚI TIẾNG ANH)

Chương 3 phân loại và phân tích định lượng ngữ liệu từ mới theo các phạm trù từ loại:

  • Đặc trưng từ loại của từ mới tiếng Việt:
    • Phân tích khả năng kết hợp và chức năng cú pháp trong câu trích dẫn báo chí để xác định từ loại. Kết quả khảo sát cho thấy danh từ chiếm tỷ lệ cao nhất trong lớp từ vựng mới, xuất phát từ nhu cầu định danh các thực thể, tổ chức, công nghệ, hiện tượng xã hội mới xuất hiện. Động từ mới đứng thứ hai, phản ánh các hành động, quy trình, hoạt động kinh tế – xã hội mới. Tính từ mới đứng thứ ba, miêu tả các đặc tính, tính chất mới phát sinh.
    • Khảo sát hiện tượng chuyển đổi từ loại trong ngữ cảnh tiếng Việt (ví dụ: danh từ chuyển sang làm vị từ/tính từ như "giá tiền rất sinh viên").
  • Đặc trưng từ loại của từ mới tiếng Anh:
    • Khảo sát danh từ, động từ, tính từ và phó từ mới trong tiếng Anh. Phân tích phương thức chuyển loại (conversion / functional shift), cho phép một từ chuyển đổi chức năng ngữ pháp linh hoạt giữa động từ và danh từ mà không cần thay đổi hình thức ngữ âm.
  • So sánh đặc trưng từ loại Anh – Việt:
    • Điểm tương đồng: Ở cả hai ngôn ngữ, danh từ luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng số từ mới được tạo ra, theo sau là động từ và tính từ. Các hư từ hầu như không xuất hiện từ mới.
    • Điểm khác biệt: Việc xác định từ loại của từ mới tiếng Anh dựa vào các dấu hiệu hình thái học (phụ tố chỉ loại) và vị trí cú pháp có biến hình; trong khi việc xác định từ loại của từ mới tiếng Việt hoàn toàn dựa vào khả năng kết hợp ngữ pháp với các phụ từ đi kèm và chức năng cú pháp đảm nhiệm trong câu phát ngôn.

CHƯƠNG 4: ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA LỚP TỪ VỰNG MỚI TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU VỚI LỚP TỪ VỰNG MỚI TIẾNG ANH)

Chương 4 phân tích cấu trúc nghĩa của từ mới và tập hợp thành các trường từ vựng – ngữ nghĩa cụ thể:

  • Phân loại từ mới theo trường từ vựng – ngữ nghĩa:
    • Trường từ vựng – ngữ nghĩa Văn hóa – Xã hội: Tập hợp các từ mới phản ánh các biến chuyển trong đời sống xã hội, kinh tế thị trường, pháp luật, tiêu cực xã hội và văn hóa đương đại (ví dụ các ngữ liệu báo chí được phân tích: chạy án, mảng chạy án, PMU 18, hóa đơn khống, bán khống, điều chỉnh tăng, điều chỉnh giảm, thương thảo, hào sảng...). Phân tích sự mở rộng nghĩa, chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ từ các từ ngữ sẵn có.
    • Trường từ vựng – ngữ nghĩa Công nghệ thông tin: Khảo sát hệ thống thuật ngữ mới xuất hiện theo làn sóng tin học hóa và Internet (ví dụ: bức tường lửa, thông tin trực tuyến, tin tặc, thư rác... và các từ viết tắt chuyên ngành). Phân tích cơ chế sao phỏng kết cấu và ngữ nghĩa từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
  • So sánh đặc trưng ngữ nghĩa Anh – Việt:
    • Điểm tương đồng: Cả hai ngôn ngữ đều ghi nhận sự bùng nổ ngữ nghĩa trong hai lĩnh vực trọng yếu là Công nghệ thông tin và Văn hóa – Xã hội. Quá trình phát triển nghĩa đều dựa trên các cơ chế chuyển nghĩa phổ quát của tư duy nhân loại như ẩn dụ hóa (metaphor) và hoán dụ hóa (metonymy).
    • Điểm khác biệt: Tiếng Việt thể hiện xu hướng định danh mô tả rõ nghĩa, sử dụng các yếu tố Hán – Việt mang tính khái quát cao hoặc sao phỏng nguyên hợp nghĩa từ tiếng Anh; trong khi tiếng Anh thể hiện xu hướng cô đọng hóa tối đa bằng cách rút gọn âm tiết, ghép từ tự do hoặc đa nghĩa hóa các từ căn đơn âm sẵn có.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Những đóng góp mới về mặt lý luận:
    • Làm sáng tỏ và hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về cơ chế cấu tạo từ, phân định từ loại và phân loại trường từ vựng – ngữ nghĩa đối với lớp từ mới tiếng Việt trong mối tương quan so sánh đối chiếu với tiếng Anh.
    • Chỉ ra các mô hình kết hợp từ mới phổ biến trong tiếng Việt hiện đại, xác lập các quy luật biến đổi ngữ nghĩa (mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa, chuyển đổi cấu trúc định danh) dưới tác động của sự phát triển kinh tế – xã hội và khoa học kỹ thuật.
    • Xác định rõ nét tương đồng và dị biệt về phương thức tạo từ và đặc trưng ngữ pháp – ngữ nghĩa giữa một ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt) và một ngôn ngữ biến hình/phân tích tính (tiếng Anh) trong việc đáp ứng nhu cầu định danh hiện đại.
  • Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp một tập hợp ngữ liệu phong phú, có căn cứ khoa học về các đơn vị từ vựng mới tiếng Việt xuất hiện trên báo chí giai đoạn 10 năm (trọng tâm là 2005–2007), được đối chiếu xác thực qua các bộ từ điển chuẩn mực.
    • Phân tích và đánh giá thực trạng bốn phương thức xử lý từ ngữ vay mượn tiếng nước ngoài (giữ nguyên ngữ gốc, ngoại lai, sao phỏng, ghép lai); khẳng định việc vay mượn từ ngữ là cần thiết và góp phần làm giàu vốn từ tiếng Việt nếu được tiếp nhận và chuẩn hóa đúng quy luật ngôn ngữ bản địa.
    • Cung cấp tư liệu tham khảo đối chiếu Anh – Việt phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy ngoại ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng và công tác biên dịch – phiên dịch thuật ngữ chuyên ngành.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
    • Cần có sự định hướng và chuẩn hóa trong việc sử dụng từ ngữ mới trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hạn chế hiện tượng lạm dụng chèn từ tiếng Anh nguyên dạng vào văn bản tiếng Việt khi đã có từ tiếng Việt tương đương biểu đạt chính xác.
    • Thống nhất các quy tắc phiên âm, chuyển tự và sao phỏng thuật ngữ khoa học – công nghệ mới từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt nhằm tạo tính nhất quán cho người tiếp nhận và phục vụ công tác biên soạn từ điển học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Về phạm vi thời gian và ngữ liệu: Do giới hạn nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát ngữ liệu xuất hiện trong vòng 10 năm, trong đó nguồn ngữ liệu trích dẫn chi tiết tập trung chủ yếu vào 3 năm (2005–2007) trên các báo in và báo điện tử tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; chưa thể bao quát toàn bộ các xuất bản phẩm văn hóa, văn học và giao tiếp khẩu ngữ đời sống.
    • Về nguồn ngữ liệu đối chiếu tiếng Anh: Do điều kiện tiếp cận tư liệu tại thời điểm nghiên cứu, luận án sử dụng tài liệu Oxford Dictionary of English – NewWords xuất bản năm 2003 để làm cơ sở đối chiếu chính, tạo ra một khoảng cách nhất định về thời điểm xuất bản so với khung ngữ liệu tiếng Việt (2005–2007).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát lớp từ mới sang các kênh truyền thông số đa phương tiện, các diễn đàn chuyên ngành và giao tiếp mạng xã hội trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
    • Nghiên cứu đối chiếu lớp từ vựng mới tiếng Việt với các ngôn ngữ khác trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á (như tiếng Hán, tiếng Pháp) để làm rõ hơn các phương thức tiếp nhận và giao lưu ngôn ngữ đa chiều.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết hệ thống về từ mới, từ loại, trường từ vựng – ngữ nghĩa và phương pháp luận so sánh – đối chiếu ngôn ngữ học liên ngôn ngữ (Anh – Việt). Phần Chương 1 và các bảng phân loại mô hình cấu tạo là tài liệu tham khảo tốt cho việc giảng dạy môn Từ vựng học tiếng Việt và Ngôn ngữ học đối chiếu.
  • Giảng viên tiếng Anh, dịch thuật viên và sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh: Khai thác các kết quả phân tích đối chiếu về mô hình sao phỏng, ghép lai và chuyển dịch thuật ngữ công nghệ thông tin, văn hóa – xã hội để nâng cao kỹ năng xử lý từ ngữ trong biên dịch Anh – Việt và Việt – Anh.
  • Biên tập viên báo chí, nhà xuất bản và nhà từ điển học: Sử dụng danh mục ngữ liệu và các phân tích ngữ nghĩa, từ loại của luận án làm căn cứ tra cứu thực tế, phục vụ công tác chuẩn hóa văn bản báo chí và biên soạn, bổ sung các mục từ mới cho các bộ từ điển tiếng Việt hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định tiêu chí cho một đơn vị được coi là "từ vựng mới" tiếng Việt như thế nào?

Luận án xác định từ vựng mới tiếng Việt dựa trên ba tiêu chí cụ thể: (1) Là đơn vị có chức năng định danh sự vật, hiện tượng, khái niệm mới xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây (chủ yếu trong 3 năm 2005–2007); (2) Là những đơn vị chưa từng xuất hiện trong các cuốn từ điển tiếng Việt được đem ra đối chiếu, hoặc nếu đã có mặt nhưng nay được cấu tạo với hình thức và nét nghĩa mới; (3) Thuộc lớp từ ngữ toàn dân, không bao gồm từ địa phương, từ thông tục hay tiếng lóng.

2. Nguồn ngữ liệu thực tế của luận án được trích xuất từ các cơ quan báo chí cụ thể nào?

Ngữ liệu tiếng Việt được trích xuất từ các báo xuất bản tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Người Lao Động, Người Lao Động Online, Phụ Nữ, Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên, Thanh Niên Online, Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ Online; và các báo xuất bản tại Hà Nội gồm: Nhân Dân, Hà Nội Mới, VietNamNet.

3. Tác giả sử dụng những bộ từ điển chuẩn mực nào để làm căn cứ đối chiếu và xác minh từ mới?

Tác giả sử dụng các bộ từ điển đối chiếu gồm:

  • Tiếng Việt: Đại Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1999), Từ điển từ mới tiếng Việt (Chu Bích Thu chủ biên, 2002), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2005) và các từ điển chuyên ngành tin học, chữ viết tắt của Lê Nhân Đàm, Phùng Quang Nhượng, Nguyễn Ngọc Tuấn – Trương Văn Thiện (2002).
  • Tiếng Anh: Từ điển Anh – Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1995), Oxford Advanced Learner’s Dictionary (Ấn bản lần thứ 6, 2000), và Oxford Dictionary of English – NewWords (Ấn bản lần thứ hai, 2003).

4. Luận án đã khảo sát những phương thức xử lý lớp từ vựng vay mượn tiếng nước ngoài nào?

Luận án khảo sát năm phương thức xử lý từ vay mượn gồm: (1) Ngoại lai (giữ nguyên dạng gốc, chuyển tự, phiên âm); (2) Viết tắt ngoại lai; (3) Ghép lai (kết hợp một phần bản ngữ với một phần ngoại lai); (4) Sao phỏng cấu tạo từ (dịch từng hình vị tương ứng dựa trên mô hình cấu trúc ngoại ngữ); và (5) Sao phỏng ngữ nghĩa (dùng hình thức vỏ ngữ âm bản ngữ nhưng mang nét nghĩa ngoại lai).

5. Khung phân loại từ loại tiếng Việt được luận án lựa chọn làm cơ sở lý thuyết căn cứ vào công trình nào?

Luận án căn cứ vào khung lý thuyết phân định từ loại tiếng Việt của Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (2004) trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt, dựa trên 3 tiêu chuẩn: ý nghĩa khái quát, chức năng cú pháp và khả năng kết hợp. Hệ thống gồm Nhóm 1 (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ) và Nhóm 2 (phụ từ gồm định từ/phó từ, kết từ, tiểu từ gồm trợ từ/tình thái từ).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Huỳnh Văn Tài là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, khảo sát một cách có hệ thống lớp từ vựng mới tiếng Việt xuất hiện trong giai đoạn 10 năm (trọng tâm 2005–2007) trên tư liệu báo chí và đối chiếu với tiếng Anh. Thông qua việc kết hợp các phương pháp thống kê, phân tích ngữ nghĩa – ngữ pháp và so sánh liên ngôn ngữ, luận án đã làm rõ các mô hình cấu tạo từ, sự phân bố từ loại và đặc trưng ngữ nghĩa trong hai trường từ vựng tiêu biểu là Văn hóa – Xã hội và Công nghệ thông tin. Công trình mang lại những đóng góp rõ ràng về mặt lý luận cấu tạo từ đối chiếu cũng như cung cấp nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích cho công tác nghiên cứu từ vựng học, chuẩn hóa ngôn ngữ báo chí, biên soạn từ điển và giảng dạy ngoại ngữ.