CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ Để định hướng đúng trong quá trình thu thập và khảo sát ngữ liệu, chúng tôi đề cập đến những lý thuyết làm cơ sở cho luận án. Đó là các khái niệm về từ, cấu tạo từ, nghĩa của từ, từ mới, ngữ cảnh, từ loại, tiêu chí phân định từ loại và trường từ vựng – ngữ nghĩa.1 Vấn đề từ và cụm từ Cho dù có một điểm chung là các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận có sự tồn tại của từ trong ngôn ngữ nhưng trên thực tế từ là một vấn đề vô cùng phức tạp mà cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất về định nghĩa từ. Điều này là vì có nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm khác nhau về từ. Meillet thì “từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định, có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định” [48, tr.
Sapir thì định nghĩa: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có thể làm hành câu tối giản” [57, tr. Bloomfield lại cho rằng “từ là hình thức tự do nhỏ nhất” [9, tr. Theo Lục Chí Vỹ (1957) thì “từ là đơn vị nhỏ nhất được vận dụng tự do trong câu” [74, tr. Trong khi đó, một số nhà ngôn ngữ học khác lại cho rằng, trong từng ngôn ngữ sẽ có khái niệm riêng về từ cho ngôn ngữ đó, như L.
Sherba (1958) đã viết: “Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. Do đó, tất nhiên sẽ không có khái niệm “từ” nói chung” [59, tr. Nguyễn Kim Thản (1997) thì lại cho rằng “từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp”[61, tr. Cũng theo Nguyễn Kim Thản “vấn đề định nghĩa thế nào là “từ” là một vấn đề có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác như từ vựng học, việc dạy học, việc soạn sách giáo khoa.
27 – 31], nhưng đây cũng là một vấn đề rất khó khăn. Khó khăn là vì cho đến nay, khái niệm về từ vẫn chưa được thống 17 nhất và các nhà ngôn ngữ học vẫn còn đang tiếp tục bàn luận và chưa nhất trí với nhau. Vì những lý do chưa được giải quyết ổn thỏa nêu trên, chúng tôi xin lấy định nghĩa về từ của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hòang Trọng Phiến để làm cơ sở cho nghiên cứu của chúng tôi như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây doing nên câu [17, tr. Trong tiếng Việt, ngoài từ còn có các đơn vị khác được dùng làm cơ sở để tạo ra câu, đó là ngữ và cụm từ.
Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa về ngữ định danh như sau: “ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế” [27, tr. Tác giả đã chia ngữ định danh thành hai loại: ngữ định danh hợp kết và ngữ định danh hòa kết, cụ thể như sau: 1. Ngữ định danh hợp kết: Là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng cũng chính là những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận tạo thành và nó trực tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình. Ví dụ: làm duyên, mát tay,.
Ngữ định danh hoà kết: Là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng không thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các bộ phận tạo thành. Ví dụ: đầu ruồi, mắt cá, mực thước. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000) thì cho rằng “cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ” [17, tr. Nếu chúng ta so sánh từ ghép và cụm từ cố định, chúng sẽ có những điểm giống và khác nhau như sau: 1.
Điểm giống nhau: Cả từ ghép và cụm từ cố định đều có: - Hình thức chặt chẽ, cấu trúc cố định. - Tính thành ngữ. - Những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ. Điểm khác nhau: 18 - Thành tố cấu tạo của từ ghép là hình vị và thành tố cấu tạo của cụm từ cố định là từ.
- Nghĩa của cụm từ cố định được tổ chức theo lối tổ chức nghĩa của cụm từ và nói chung là mang tính hình tượng. Do đó, nếu căn cứ vào nghĩa của từng thành tố cấu tạo thì không thể hiểu được nghĩa đích thực của toàn cụm từ. Đối với từ ghép thì nghĩa định danh, dù trực tiếp hay gián tiếp đều theo kiểu tổ chức nghĩa của từ, là điểm cốt lõi của từ. Nếu so sánh với cụm từ tự do, thì cụm từ cố định là một đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dang làm sẵn.
Và vì dưới dạng làm sẵn nên thành tố cấu tạo cụm từ cố định có số lượng ổn định. Trong khi đó cụm từ tự do được tạo ra trong lời nói và thành tố cấu tạo có thể thay đổi tùy ý.2 Vấn đề cấu tạo từ Đây là vấn đề mà cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đi đến thống nhất. Mọi ngôn ngữ trên thế giới đều có những phương thức cấu tạo từ khác nhau. Theo Bloomfield (1968) thì “thành tố tạo nên từ là những đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa, những đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa ấy được gọi là hình vị” [9, tr.
Trong khi đó, theo khảo sát của Hoàng Văn Hành (1991) thì khi phân tích cấu tạo từ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu gặp những khó khăn nhất định trong việc vận dụng khái niệm hình vị nên đã có một số nhà nghiên cứu đề nghị hiệu chỉnh khái niệm hình vị do Bloomfield đưa ra theo hướng mở rộng quan niệm về nghĩa của hình vị. Ngược lại, cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng trong tiếng Việt không có khái niệm hình vị và chủ trương “cứ mỗi tiếng là một từ”ø [29, tr. Đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều tranh luận nên chúng tôi xin lược qua một số phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt và của tiếng Anh. Theo truyền thống, một số nhà nghiên cứu dùng tên gọi khác để gọi khái niệm hình vị do Bloomfield đưa ra.
Nguyễn Kim Thản gọi đó là từ tố và định nghĩa 19 “từ tố là yếu tố có nghĩa (từ vựng) nhỏ nhất của ngôn ngữ” [61]. Hồ Lê (2003) thì gọi đó là nguyên vị và chia ra thành nguyên vị chính và nguyên vị trung gian. Nguyên vị chính gồm sáu loại: 1. Nguyên vị thực: là nguyên vị có ý nghĩa thực.
Xét về mặt ngữ âm, nguyên vị thực trong tiếng Việt thường là một âm tiết, ví dụ như nhà, đường, đẹp. nhưng cũng có khi là nhiều âm tiết như: ba ba, ô tô, măng cụt,. Đây là loại nguyên vị nồng cốt trong tiếng Việt và nó có khả năng phản ánh các loại đối tượng khác nhau trong hiện thực. Nguyên vị ngữ pháp: Đây là loại nguyên vị có ý nghĩa ngữ pháp.
Nếu xét về mặt ngữ âm, loại nguyên vị này do một âm tiết tạo thành, ví dụ như: cũng, đang, sẽ, nhưng, tuy,. Nguyên vị hệ thống: là nguyên vị chỉ có ý nghĩa hệ thống. Về ngữ âm, loại nguyên vị cũng chỉ do một âm tiết tạo thành. Dựa vào khả năng kết hợp, nguyên vị này được chia ra thành hai tiểu loại là nguyên vị hệ thống tự do và nguyên vị hệ thống phụ thuộc.
Nguyên vị tiềm tàng: là những yếu tố gốc Hán có ý nghĩa tiềm tàng. Nguyên vị tình cảm: Trong tiếng Việt gồm khoảng hai chục đơn vị như: a, ái chà, vâng, ừ,. Nguyên vị mục đích: là nguyên vị có ý nghĩa mục đích. Nguyên vị trung gian gồm có bốn loại: nguyên vị thực – ngữ pháp, nguyên vị thực - hệ thống, nguyên vị ngữ pháp - hệ thống, và nguyên vị hệ thực – tiềm tàng.
Tác giả Hoàng Văn Hành (1991) thì đưa ra năm mô thức cấu trúc cơ bản của từ tiếng Việt được tạo ra nhờ bốn phương thức cấu tạo từ: phương thức sao phỏng (hay còn gọi là phương thức từ hóa hình vị), phương thức ghép, phương thức láy và phương thức tựa phụ gia, cụ thể như sau: LOẠI HÌNH ĐƯỢC PHƯƠNG THỨC KIỂU QUAN HỆ VÍ DỤ SỬ DỤNG CẤU TẠO hình vị gốc phương thức từ hóa suy phỏng cày 1 - 2 (từ 20 hình vị đồng âm, khác nghĩa) hình vị gốc liên hợp (láy nghĩa) nhà cửa, già phương thức ghép nua, … tha hình vị láy nghĩa ghép tiếp hợp xe ngựa, trắng (chính phụ) nhởn, … hình vị gốc, tha hình vị phương thức láy hòa phối ngữ âm chặt chẽ, thoăn láy âm (láy âm) thoắt, lè tè, … hình vị gốc, tha hình vị phương thức tựa tiếp hợp, phái sinh vôi hóa, nhà thơ, tựa phụ tố phụ gia … Đỗ Hữu Châu (1981) cũng đưa ra ba phương thức tạo từ trong tiếng Việt là từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị như sau: TÊN CỦA LOẠI TỪ PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO từ đơn Phương thức từ hóa hình vị từ phức từ láy Phương thức ghép từ ghép Phương thức láy 1. Từ đơn là những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Từ láy – một trong hai tiểu loại của từ phức - là những từ được cấu tạo theo phương thức lập lại tòan bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.
Từ ghép – một trong hai tiểu loại của từ phức - được tạo ra do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị hay đơn vị cấu tạo tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau. Từ ghép được chia thành ba tiểu loại nhỏ: Từ ghép phân nghĩa: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị hay đơn vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn 21 cung loại. Loại từ ghép này có tính hệ thống rất cao thể hiện ở tác dụng phân chia các loại lớn thành những loại nhỏ độc lập. Ví dụ như: xe đạp vui tính khó tính xe hơi vui lòng khó chịu xe hỏa vui mặt khó nghe .