Đặc Trưng Của Lớp Từ Vựng Mới Tiếng Việt Xuất Hiện Trong Vòng 10 Năm Trở Lại Đây

Tài liệu nghiên cứu Đặc trưng các lớp từ vựng mới tiếng việt xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây đối chiếu với lớp, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2010

243
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Từ Vựng Mới Tiếng Việt 10 Năm Biến Động

Ngôn ngữ luôn biến đổi và phát triển, phản ánh sự thay đổi của xã hội. Nghiên cứu ngôn ngữ là tiếp cận yếu tố đặc trưng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Ferdinand De Saussure nhấn mạnh ngôn ngữ là hệ thống biểu hiện ý niệm, không chỉ là sự vật và tên gọi. Daniels cho rằng ngôn ngữ thay đổi để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Nguyễn Văn Tu nhận định hệ thống từ vựng ngày nay tiến triển và phong phú thêm. Để đáp ứng với sự xuất hiện của nhiều khái niệm, hiện tượng mới, nhiều từ mới được tạo ra. Nhiều từ cũ bị mất đi vì không hợp thời nữa. Nhiều từ khác biến đổi về nghĩa cũng như về cách dùng. Nguyễn Thiện Giáp cho rằng sự mở rộng thế giới khái niệm đòi hỏi phải cấu tạo thêm những đơn vị từ vựng trên cơ sở những từ đã có. Ngôn ngữ luôn sống và tồn tại trong xã hội, phục vụ cho xã hội. Khoa học phát triển, ngôn ngữ cũng phát triển theo. Xã hội tác động lên ngôn ngữ, làm cho ngôn ngữ phát triển. Ngôn ngữ loại bỏ những từ không còn cần thiết, tạo ra từ mới và biến đổi nghĩa. Đây là tiến trình tất yếu khách quan.

1.1. Sự Thay Đổi Từ Vựng Tiếng Việt Trong Bối Cảnh Hội Nhập

Trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, các ngôn ngữ trên thế giới có sự biến đổi mạnh mẽ trong vốn từ vựng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều những đơn vị từ vựng mới để biểu đạt các sự vật, sự việc, hiện tượng mới trên nhiều lĩnh vực. Việc bổ sung nghĩa mới cho các từ đã có, vay mượn từ ngữ từ các ngôn ngữ khác để thực hiện chức năng giao tiếp trong giai đoạn hiện nay. Việc xã hội không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu phục vụ con người trên mọi lĩnh vực của một nền khoa học tiên tiến là nguyên nhân chính tạo ra những khái niệm, sự vật mới. Tiếng Việt của chúng ta trong vòng mười năm trở lại đây cũng có những biến đổi tương tự. Việc tạo ra các khái niệm, sự vật, sự việc mới, từ trong nước và cả du nhập từ bên ngoài, đều cần từ vựng mới để biểu đạt.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Từ Vựng Mới Tiếng Việt

Sự xuất hiện hàng loạt các từ vựng mới, sự thay đổi nghĩa của các từ ngữ đã có, có một ý nghĩa hết sức to lớn và quan trọng trong hoạt động hành chức, trong việc thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Việc xuất hiện các từ vựng mới, với các nghĩa mới lại càng làm giàu hơn vốn từ vựng của ngôn ngữ. Và khi chúng ta nói đến từ mới thì chúng ta không thể không nói đến phương thức cấu tạo, nghĩa và từ loại của từ. Trong tiếng Việt, có rất nhiều phương thức để cấu tạo từ như: cấu tạo mới, mở rộng hay thu hẹp nghĩa của một từ đã có, ghép những từ đã có để tạo ra lớp từ vựng mới, láy, vay mượn từ nước ngoài . và những phương thức này đều có những tác động nhất định đến quá trình tạo ra lớp từ vựng mới trong thời gian qua.

II. Thách Thức Trong Nghiên Cứu Từ Vựng Mới Tiếng Việt Hiện Nay

Việc nghiên cứu lớp từ vựng mới là một nhiệm vụ lớn, đòi hỏi phải có nhiều thời gian tổng hợp, nghiên cứu toàn diện. Do đó, trong luận án này, chúng tôi chỉ khảo sát các lớp từ vựng mới với các tiêu chí như sau: Những đơn vị từ vựng mới có chức năng định danh những sự vật, hiện tượng, khái niệm mới xuất hiện trong mười năm trở lại đây và chủ yếu là lớp từ vựng xuất hiện trong ba năm từ năm 2005 đến năm 2007. Những đơn vị từ vựng mới là những đơn vị chưa từng xuất hiện trong những cuốn từ điển được đem ra đối chiếu hoặc những đơn vị này nếu có xuất hiện trong các từ điển đó nhưng nay được cấu tạo mới. Những đơn vị từ vựng mới được nghiên cứu trong luận án này thuộc loại từ toàn dân chứ không bao gồm các từ thuộc nhóm từ địa phương, từ thông tục, tiếng lóng v.

2.1. Phạm Vi Nghiên Cứu Từ Vựng Mới Tiếng Việt

Ngữ liệu được tiến hành trích xuất là từ các báo xuất bản ở Thành phố Hồ Chí Minh như: báo Người Lao Động, Người Lao Động Online, Phụ Nữ, Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên, Thanh Niên Online, Tuổi Trẻ, Tuổi Trẻ Online và các báo xuất bản ở Hà Nội như: báo Nhân Dân, Hà Nội Mới, VietNamNet . Lớp từ vựng mới có thể là từ đơn, từ ghép, từ láy và từ ngẫu hợp. Chúng cũng có thể được cấu tạo từ các yếu tố có sẵn của tiếng Việt hoặc vay mượn. Do đó trong quá trình nghiên cứu đặc trưng của lớp từ vựng mới từ góc độ cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích về đặc trưng của từng thành tố, nếu là từ ghép hoặc từ láy, tham gia hình thành nên lớp từ ngữ này.

2.2. Phương Pháp Phân Tích Ngữ Liệu Từ Vựng Mới

Để việc phân tích được chuẩn xác, các ngữ liệu sẽ được phân chia như sau: Ngữ liệu được sắp xếp theo các phương thức cấu tạo và các đơn vị mục từ được xếp theo thứ tự chữ cái. Phân tích ngữ liệu về lớp từ vựng mới tiếng Việt, ngữ liệu về lớp từ vựng mới tiếng Anh và sau đó tiến hành đối chiếu hai ngôn ngữ nhằm tìm ra những điểm tương đồng cũng như những điểm khác biệt. Cũng trong luận án này, qua khảo sát lớp từ vựng mới tiếng Việt, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh đối chiếu với lớp từ vựng mới tiếng Anh trên cả ba bình diện: cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa.

III. Cách Cấu Tạo Từ Vựng Mới Tiếng Việt Phân Tích Chi Tiết

Tiếng Việt có nhiều phương thức cấu tạo từ mới. Cấu tạo mới hoàn toàn, mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa của từ đã có, ghép các từ đã có, láy, và vay mượn từ nước ngoài. Các phương thức này đều tác động đến quá trình tạo ra lớp từ vựng mới. Nguyễn Thiện Giáp (2003) đã nêu rõ sự phát triển về bình diện từ vựng tiếng Việt kể từ khi chữ Nôm theo nguyên tắc của chữ Hán được sáng tạo đến khi có chữ Quốc ngữ được cấu tạo theo nguyên tắc của chữ Latin do các cố đạo phương Tây tạo ra cho mục đích truyền bá đạo ở nước ta và sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất cũng là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ.

3.1. Phát Triển Nghĩa Mới Của Từ Vựng Tiếng Việt

Theo Nguyễn Thiện Giáp, có nhiều phương thức để tạo từ mới như: Phát triển thêm nghĩa mới: Phương thức này xoay quanh hai quá trình: Mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa vốn có và chuyển đổi tên gọi (ẩn dụ hoặc hoán dụ). Theo phương thức này, mặt ngữ âm của các đơn vị từ vựng vẫn giữ nguyên nhưng mặt ngữ nghĩa lại biến đổi, phát triển phong phú hơn. Có trường hợp việc biến đổi ý nghĩa của từ chỉ tạo ra một sắc thái mới về nghĩa chứ chưa tạo ra nghĩa mới.

3.2. Ghép Các Yếu Tố Sẵn Có Trong Tiếng Việt

Ghép các yếu tố sẵn có: Đây là phương thức chủ yếu để cấu tạo các đơn vị từ vựng mới của tiếng Việt như: móc nối, bắn tỉa, khế ngọt . Yếu tố sẵn có được dùng để cấu tạo các đơn vị từ vựng mới không chỉ là những từ thuần Việt mà còn bao gồm những từ Hán – Việt đã nhập vào tiếng Việt từ trước và được người Việt coi như vốn sẵn có của mình, ví dụ như: bệnh viện, ca hát, súng lục, súng trường . Những đơn vị từ vựng như ngụy biện, phiêu bạt, nội quy, y tá . gồm các từ Hán – Việt ghép với nhau, mới nhìn tưởng là du nhập từ tiếng Hán, kỳ thực những đơn vị từ vựng này mới được cấu tạo ở Việt Nam.

IV. Vay Mượn Từ Nước Ngoài Xu Hướng Trong Từ Vựng Mới

Trong quá trình phát triển, tiếng Việt vay mượn thêm từ ngữ, ý nghĩa và cách cấu tạo của ngôn ngữ khác. Lớp từ vựng vay mượn được xử lý bằng các phương thức: Ngoại lai: Từ ngoại lai là những từ mà tiếng Việt vay mượn của các ngôn ngữ khác cả về hình thức lẫn nội dung. Tiếng Việt vay mượn chủ yếu từ tiếng Hán như cộng hòa, đại sứ quán ., các ngôn ngữ Ấn Âu như lô cốt, xô viết . và cả ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở Việt Nam nhưng số này không nhiều như buôn, bản, phai .

4.1. Các Phương Thức Vay Mượn Từ Vựng Tiếng Việt

Những từ vay mượn có thể tồn tại dưới các hình thức như: giữ nguyên dạng gốc (veston, blouse .), chuyển tự (Leningrad, Moskva .) và phiên âm là ghi lại cách phát âm các đơn vị từ vựng nước ngoài bằng hệ thống chữ cái của tiếng Việt (béton ( bê tông, bích tông, boulon ( bù lon, bu long, bu loong, bù loong .). Ngoài các đơn vị từ vựng, tiếng Việt cũng vay mượn các đơn vị viết tắt của tiếng nước ngoài như: EC = European Community (Cộng đồng châu Âu), WB = World bank (Ngân hàng Thế giới).

4.2. Ảnh Hưởng Của Tiếng Anh Đến Từ Vựng Mới Tiếng Việt

Đây là phương thức ghép mà trong đó có một phần là bản ngữ và một phần là ngoại lai nhưng ý nghĩa thì hoàn toàn là ngoại lai. Ví dụ: áo măng tô, áo vét, đạn gây nhiễu rađa . Ngoài việc mượn từ, phương thức sao phỏng cấu tạo từ là dùng chất liệu của tiếng Việt để cấu tạo một đơn vị từ vựng dựa theo mẫu về kết cấu của đơn vị tương ứng trong ngoại ngữ nào đó. Thực chất đây là việc dịch từng hình vị hoặc từng đơn vị tương ứng. Ví dụ: kim loại hóa ( metaliser ), chắn bùn ( garde boue ).

V. So Sánh Từ Vựng Mới Tiếng Việt và Tiếng Anh Điểm Khác

Luận án này so sánh đối chiếu lớp từ vựng mới tiếng Việt với tiếng Anh trên ba bình diện: cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa. Tiếng Anh được chọn vì là ngôn ngữ phổ biến, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật được chuyển đổi tên gọi từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Việc so sánh, đối chiếu để đưa ra một phương thức xử lý lớp từ này là cần thiết. Một thực tế là tiếng nước ngoài được sử dụng cùng lúc với tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Anh. Việc nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân và có thể đưa ra hướng đề xuất cho việc xử lý hiện tượng này.

5.1. Lý Do Chọn Tiếng Anh Để So Sánh Từ Vựng

Trong giai đoạn phát triển hiện nay trên toàn thế giới, ngày càng có nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật được phát minh từ nước ngoài và sau đó, những thành tựu này được nhập vào nước ta. Việc chuyển đổi tên gọi những sự vật, sự việc này bằng tiếng Việt dựa trên tiếng Anh xuất hiện ngày càng nhiều. Do đó, việc so sánh, đối chiếu để đưa ra một phương thức xử lý lớp từ này là cần thiết.

5.2. Tác Động Của Tiếng Anh Đến Sự Phát Triển Tiếng Việt

Một thực tế tồn tại trong nhiều năm qua trong xã hội chúng ta là việc tiếng nước ngoài được sử dụng cùng một lúc với tiếng Việt – đặc biệt là tiếng Anh. Đây có thể được coi là một hiện tượng không lành mạnh trong việc bảo tồn tiếng Việt. Việc nghiên cứu nhằm tìm hiểu nguyên nhân và có thể đưa ra hướng đề xuất cho việc xử lý hiện tượng này.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Từ Vựng Mới Tiếng Việt Tương Lai

Hiện nay, ngoài cuốn “Từ điển từ mới tiếng Việt” (TS. Chu Bích Thu - Chủ biên), (2002) của Viện Ngôn ngữ học do Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, thì việc nghiên cứu về lớp từ mới xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây có thể nói là chưa nhiều. Trong công trình nghiên cứu “về cách sáng tạo và sử dụng từ mới trên tư liệu báo Nhân Dân giai đoạn 1986 – 2000”, tác giả Bùi Thị Thanh Lương cho rằng “hiện nay các phương thức tạo từ mới chủ yếu gồm: phương thức cấu tạo từ bằng cách ghép, láy và chuyển nghĩa, phương thức vay mượn trong đó phương thức ghép được triệt để khai thác.

6.1. Các Nghiên Cứu Hiện Tại Về Từ Vựng Mới Tiếng Việt

Với loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình thì ghép là phương thức có khả năng sản sinh rất lớn. Mối quan hệ giữa các hình vị trong từ ghép có thể chặt hay lỏng tùy theo từng trường hợp cụ thể, với nhiều kiểu ghép khác nhau như: Ghép hai hình vị hạn chế với nhau, Ghép hình vị hạn chế với hình vị tự do, Ghép hai hình vị tự do với nhau.

6.2. Tiềm Năng Phát Triển Nghiên Cứu Từ Vựng Mới Tiếng Việt

Theo Bùi Thị Thanh Lương, trong ba cách ghép nêu trên thì cách ghép hai hình vị tự do là cách đơn giản và thuận tiện nhất. Về việc vay mượn từ ngữ, tác giả cũng cho rằng cần có sự chọn lọc và sử dụng hợp lý để tránh làm mất đi bản sắc của tiếng Việt.

05/06/2025
Đặc trưng các lớp từ vựng mới tiếng việt xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại đây đối chiếu với lớp từ vựng mới tiếng anh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ Để định hướng đúng trong quá trình thu thập và khảo sát ngữ liệu, chúng tôi đề cập đến những lý thuyết làm cơ sở cho luận án. Đó là các khái niệm về từ, cấu tạo từ, nghĩa của từ, từ mới, ngữ cảnh, từ loại, tiêu chí phân định từ loại và trường từ vựng – ngữ nghĩa.1 Vấn đề từ và cụm từ Cho dù có một điểm chung là các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận có sự tồn tại của từ trong ngôn ngữ nhưng trên thực tế từ là một vấn đề vô cùng phức tạp mà cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất về định nghĩa từ. Điều này là vì có nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm khác nhau về từ. Meillet thì “từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định, có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định” [48, tr.

Sapir thì định nghĩa: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có thể làm hành câu tối giản” [57, tr. Bloomfield lại cho rằng “từ là hình thức tự do nhỏ nhất” [9, tr. Theo Lục Chí Vỹ (1957) thì “từ là đơn vị nhỏ nhất được vận dụng tự do trong câu” [74, tr. Trong khi đó, một số nhà ngôn ngữ học khác lại cho rằng, trong từng ngôn ngữ sẽ có khái niệm riêng về từ cho ngôn ngữ đó, như L.

Sherba (1958) đã viết: “Thiết nghĩ rằng trong các ngôn ngữ khác nhau, từ sẽ khác nhau. Do đó, tất nhiên sẽ không có khái niệm “từ” nói chung” [59, tr. Nguyễn Kim Thản (1997) thì lại cho rằng “từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp”[61, tr. Cũng theo Nguyễn Kim Thản “vấn đề định nghĩa thế nào là “từ” là một vấn đề có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác như từ vựng học, việc dạy học, việc soạn sách giáo khoa.

27 – 31], nhưng đây cũng là một vấn đề rất khó khăn. Khó khăn là vì cho đến nay, khái niệm về từ vẫn chưa được thống 17 nhất và các nhà ngôn ngữ học vẫn còn đang tiếp tục bàn luận và chưa nhất trí với nhau. Vì những lý do chưa được giải quyết ổn thỏa nêu trên, chúng tôi xin lấy định nghĩa về từ của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hòang Trọng Phiến để làm cơ sở cho nghiên cứu của chúng tôi như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây doing nên câu [17, tr. Trong tiếng Việt, ngoài từ còn có các đơn vị khác được dùng làm cơ sở để tạo ra câu, đó là ngữ và cụm từ.

Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa về ngữ định danh như sau: “ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế” [27, tr. Tác giả đã chia ngữ định danh thành hai loại: ngữ định danh hợp kết và ngữ định danh hòa kết, cụ thể như sau: 1. Ngữ định danh hợp kết: Là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng cũng chính là những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận tạo thành và nó trực tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình. Ví dụ: làm duyên, mát tay,.

Ngữ định danh hoà kết: Là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng không thể phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các bộ phận tạo thành. Ví dụ: đầu ruồi, mắt cá, mực thước. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000) thì cho rằng “cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ” [17, tr. Nếu chúng ta so sánh từ ghép và cụm từ cố định, chúng sẽ có những điểm giống và khác nhau như sau: 1.

Điểm giống nhau: Cả từ ghép và cụm từ cố định đều có: - Hình thức chặt chẽ, cấu trúc cố định. - Tính thành ngữ. - Những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ. Điểm khác nhau: 18 - Thành tố cấu tạo của từ ghép là hình vị và thành tố cấu tạo của cụm từ cố định là từ.

- Nghĩa của cụm từ cố định được tổ chức theo lối tổ chức nghĩa của cụm từ và nói chung là mang tính hình tượng. Do đó, nếu căn cứ vào nghĩa của từng thành tố cấu tạo thì không thể hiểu được nghĩa đích thực của toàn cụm từ. Đối với từ ghép thì nghĩa định danh, dù trực tiếp hay gián tiếp đều theo kiểu tổ chức nghĩa của từ, là điểm cốt lõi của từ. Nếu so sánh với cụm từ tự do, thì cụm từ cố định là một đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dang làm sẵn.

Và vì dưới dạng làm sẵn nên thành tố cấu tạo cụm từ cố định có số lượng ổn định. Trong khi đó cụm từ tự do được tạo ra trong lời nói và thành tố cấu tạo có thể thay đổi tùy ý.2 Vấn đề cấu tạo từ Đây là vấn đề mà cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đi đến thống nhất. Mọi ngôn ngữ trên thế giới đều có những phương thức cấu tạo từ khác nhau. Theo Bloomfield (1968) thì “thành tố tạo nên từ là những đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa, những đơn vị nhỏ nhất, có nghĩa ấy được gọi là hình vị” [9, tr.

Trong khi đó, theo khảo sát của Hoàng Văn Hành (1991) thì khi phân tích cấu tạo từ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu gặp những khó khăn nhất định trong việc vận dụng khái niệm hình vị nên đã có một số nhà nghiên cứu đề nghị hiệu chỉnh khái niệm hình vị do Bloomfield đưa ra theo hướng mở rộng quan niệm về nghĩa của hình vị. Ngược lại, cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng trong tiếng Việt không có khái niệm hình vị và chủ trương “cứ mỗi tiếng là một từ”ø [29, tr. Đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều tranh luận nên chúng tôi xin lược qua một số phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt và của tiếng Anh. Theo truyền thống, một số nhà nghiên cứu dùng tên gọi khác để gọi khái niệm hình vị do Bloomfield đưa ra.

Nguyễn Kim Thản gọi đó là từ tố và định nghĩa 19 “từ tố là yếu tố có nghĩa (từ vựng) nhỏ nhất của ngôn ngữ” [61]. Hồ Lê (2003) thì gọi đó là nguyên vị và chia ra thành nguyên vị chính và nguyên vị trung gian. Nguyên vị chính gồm sáu loại: 1. Nguyên vị thực: là nguyên vị có ý nghĩa thực.

Xét về mặt ngữ âm, nguyên vị thực trong tiếng Việt thường là một âm tiết, ví dụ như nhà, đường, đẹp. nhưng cũng có khi là nhiều âm tiết như: ba ba, ô tô, măng cụt,. Đây là loại nguyên vị nồng cốt trong tiếng Việt và nó có khả năng phản ánh các loại đối tượng khác nhau trong hiện thực. Nguyên vị ngữ pháp: Đây là loại nguyên vị có ý nghĩa ngữ pháp.

Nếu xét về mặt ngữ âm, loại nguyên vị này do một âm tiết tạo thành, ví dụ như: cũng, đang, sẽ, nhưng, tuy,. Nguyên vị hệ thống: là nguyên vị chỉ có ý nghĩa hệ thống. Về ngữ âm, loại nguyên vị cũng chỉ do một âm tiết tạo thành. Dựa vào khả năng kết hợp, nguyên vị này được chia ra thành hai tiểu loại là nguyên vị hệ thống tự do và nguyên vị hệ thống phụ thuộc.

Nguyên vị tiềm tàng: là những yếu tố gốc Hán có ý nghĩa tiềm tàng. Nguyên vị tình cảm: Trong tiếng Việt gồm khoảng hai chục đơn vị như: a, ái chà, vâng, ừ,. Nguyên vị mục đích: là nguyên vị có ý nghĩa mục đích. Nguyên vị trung gian gồm có bốn loại: nguyên vị thực – ngữ pháp, nguyên vị thực - hệ thống, nguyên vị ngữ pháp - hệ thống, và nguyên vị hệ thực – tiềm tàng.

Tác giả Hoàng Văn Hành (1991) thì đưa ra năm mô thức cấu trúc cơ bản của từ tiếng Việt được tạo ra nhờ bốn phương thức cấu tạo từ: phương thức sao phỏng (hay còn gọi là phương thức từ hóa hình vị), phương thức ghép, phương thức láy và phương thức tựa phụ gia, cụ thể như sau: LOẠI HÌNH ĐƯỢC PHƯƠNG THỨC KIỂU QUAN HỆ VÍ DỤ SỬ DỤNG CẤU TẠO hình vị gốc phương thức từ hóa suy phỏng cày 1 - 2 (từ 20 hình vị đồng âm, khác nghĩa) hình vị gốc liên hợp (láy nghĩa) nhà cửa, già phương thức ghép nua, … tha hình vị láy nghĩa ghép tiếp hợp xe ngựa, trắng (chính phụ) nhởn, … hình vị gốc, tha hình vị phương thức láy hòa phối ngữ âm chặt chẽ, thoăn láy âm (láy âm) thoắt, lè tè, … hình vị gốc, tha hình vị phương thức tựa tiếp hợp, phái sinh vôi hóa, nhà thơ, tựa phụ tố phụ gia … Đỗ Hữu Châu (1981) cũng đưa ra ba phương thức tạo từ trong tiếng Việt là từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị như sau: TÊN CỦA LOẠI TỪ PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO từ đơn Phương thức từ hóa hình vị từ phức từ láy Phương thức ghép từ ghép Phương thức láy 1. Từ đơn là những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Từ láy – một trong hai tiểu loại của từ phức - là những từ được cấu tạo theo phương thức lập lại tòan bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.

Từ ghép – một trong hai tiểu loại của từ phức - được tạo ra do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị hay đơn vị cấu tạo tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau. Từ ghép được chia thành ba tiểu loại nhỏ:  Từ ghép phân nghĩa: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị hay đơn vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn 21 cung loại. Loại từ ghép này có tính hệ thống rất cao thể hiện ở tác dụng phân chia các loại lớn thành những loại nhỏ độc lập. Ví dụ như: xe đạp vui tính khó tính xe hơi vui lòng khó chịu xe hỏa vui mặt khó nghe .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt bài viết "Đặc Trưng Của Lớp Từ Vựng Mới Tiếng Việt Trong 10 Năm Qua" cho thấy sự phát triển và biến đổi không ngừng của tiếng Việt, đặc biệt là trong lĩnh vực từ vựng. Bài viết này khám phá những xu hướng mới, nguồn gốc của các từ mới, và cách chúng được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Việc hiểu rõ những đặc trưng này giúp chúng ta nắm bắt được nhịp điệu của ngôn ngữ, sử dụng tiếng Việt một cách chính xác và hiệu quả hơn, đồng thời có cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi của xã hội thông qua ngôn ngữ.

Để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi của tiếng Việt, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Tiếng việt trên mạng xã hội facebook và sự ảnh hưởng đến ngôn ngữ viết của học sinh thpt, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về tác động của mạng xã hội đến ngôn ngữ viết của giới trẻ. Ngoài ra, bài viết Đặc điểm hiện tượng viết tắt tiếng việt trên một số báo điện tử báo thái nguyên báo hà nội mới báo sài gòn giải phóng báo lâm đồng cũng cung cấp một góc nhìn thú vị về hiện tượng viết tắt trên các báo điện tử, một khía cạnh khác của sự biến đổi ngôn ngữ trong thời đại số.