Chương 1. Van đề nghệ thuật tự sự và thành tựu sáng tạo của Tạ Duy Anh. Hình tượng nhân vật tự sự và điểm nhìn trần thuật trong Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh Chương 3. Ngôn ngữ, Giọng điệu, Kết cấu trong Thiện thân sám hồi và Giả biệt bóng tối của Tạ Duy Anh CHUONG 1 VẤN ĐÈ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ THÀNH TỰU SÁNG TẠO CỦA TẠ DUY ANH 1.
VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ 1. Khái niệm tự sự học và nghệ thuật trần thuật trong văn học + Khái niệm (định nghĩa) tự sự học: “Xét về từ nguyên, Narratology là khoa học về trần thuật”, “Một tác phẩm trần thuật một biểu hiện ký hiệu học. về một loạt các sự kiện gắn liền một cách có ý nghĩa theo thời gian vả nhân quả.° 43] ~ *Tự sự học vẫy gọi, liên kết các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam với các nhà ngôn ngữ học và rộng hơn là các nền văn hóa trong một số cố. gắng chung nhằm nghiên cứu Việt Nam, khám phá bản sắc dân tộc Việt Nam.
trong lĩnh vực tự sự” 43] + Nghệ thuật trần thuật: "Nghệ thuật là hình thái đặc thù củaý thức xã hội và các hoạt động của con người, một phương thức quan trọng để con người cỉ lĩnh các giá trị tinh than của hiện thực, nhằm mục đích tạo thành và phát triển các năng lực. chiếm lĩnh vả cải tạo bản thân và thế giới xung quanh theo quy luật của cái đẹp” [20, tr.138] ~ “Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trằn thuật nhất định” [2, tr. ~ Vay, nghệ thuật trân ;huật là một hình thức đặc thù của ý thức xã hội và của hoạt động của con người một phương thức để con người chiếm lĩnh các. giá trị tỉnh thần của hiện thực bằng các phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết mình, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo quy định của quy luật cái đẹp và cách nhìn của người trằn thuật nhất định.Gotki vạch rõ: “Tiểu thuyết hay truyện, những con người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác giả luôn luôn ở bên cạnh họ, mách cho người đọc biết rõ phải hiểu họ như thể nào, giải thích cho.
người đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí ẩn phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng họ bằng, những đoạn miêu tả thiên nhiên, trình bảy hoàn cảnh và nói chung là luôn luôn giật dây cho họ thực hiện những mục dích của minh, diéu khiển một cách tự do và nhiều khi một cách khéo léo, mặc dù người đọc không nhận thấy, những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ” [20, tr. Đổi mới phương thức tự sự trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam Sau khi hòa bình lặp lại, đất nước thống nhất, Việt Nam đi vào quá trình hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước theo định hướng. xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ này, đất nước Việt Nam là một nước sau chiến tranh còn nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế kém phát triển đã ảnh hưởng.
đến sự phát triển của văn học. Gần hơn 30 năm đổi mới từ năm 1986 cho đến. nay, Dắt nước đã bước sang thập kỷ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhưng chúng ta vẫn chưa có điều kiện phát triển kinh tế và tiến kịp ngành công. nghiệp và khoa học hiện đại với các nước trên thể giới.
Trong khi các nước trên thế giới như các nước Tây Âu và Mỹ, kể cả gần ta nhất là Trung Quốc - nền khoa học công nghệ thông tin - truyền thông của họ. đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, tác động không nhỏ đến sự đổi mới toàn diện bộ mặt trong nước và thể giới. Trong điều kiện đó, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ với tốc độ nhanh, Việt Nam chủ động hướng ngoại, hội nhập thể giới. Theo xu hướng này, những khuynh hướng nghệ thuật mới không thể không tác động đến đời sống tư tưởng của người Việt Nam nói chung, đời sống văn hóa nghệ.
Vậy nên việc đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật tự sự là điều không thể không diễn ra đối với nhà văn. Ở thập niên 90 cuối thế kỷ XX, việc đổi mới nền văn học là một hiện tượng hợp quy luật trong sự vận động và phát triển của văn học trên toàn cầu. “Trong quá trình đổi mới, văn học Việt Nam tiếp thu và hội nhập cùng. với văn học thế giới.
Song song với việc tiếp thu, giới thiệu các tác phẩm văn học theo. khuynh hướng đổi mới nói chung và nghệ thuật tự sự nói riêng trên thể giới, hing loạt các công trình của M.Bakhin, chủ nghĩa hình thức Nga, chủ nghĩa hiện sinh,. được dịch, ấn bản, lưu hành. Chúng ta có thể nhắc đến các công.
trình văn học trong xu hướng đổi mới, đó là Văn ñọc hậu hiện đại dl Những vấn dé lý thuyết do Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài ‘Thanh sưu tầm và biên soạn, Chủ nghữa hậu - hiện đại của Trần Quang Thái Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Tác phẩm văn học như là qué trình của Trương Đăng Dung, tuyển chọn Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới của Lê Huy Bắc , Lý luận phê bình văn học thể giới thể kỷ XX của Lộc Phương Thủy, Tiểu thuy pháp hiện đại, những tim tôi đổi mới của Phùng Văn Từu Những công trình dịch thuật này được xem là công cụ tinh thần tác động đến. sự đổi mới tư duy văn học của đội ngũ cầm bút văn học Việt Nam đương đại, nhất là thể hệ sáng tác trẻ. Ta có thể nói rằng về mặt khách quan mà đánh giá, văn học Việt Nam. đương đại có sự nỗ lực đổi mới vượt bật.
Trong đó, đáng kể là vai trò của các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài: Đoàn Minh Phượng Thuận sống ở Pháp, Lê Thị Thắm Vấn sống ở Mỹ, Nguyễn Ngọc Tuần, Nguyễn Ước sống ở Úc. Họ sống trong môi trường, trong điều kiện hắp thu, đổi mới và sáng tạo văn học hiện đại một cách trực tiếp và có hiệu quả. Dù muốn hay không, sáng tác của. họ cũng góp phần trong sự sáng tạo, đổi mới văn học trong xu hướng vận động tắt yếu chung của các nền văn học trên thể giới, trong đó, có nn văn học Việt Nam.
Khuynh hướng văn học nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tự sự đã và đang đổi mới, phát triển trong văn học đương đại Việt Nam. Trước một trào lưu, một tư tưởng, một sự vận động đổi mới nà „ giới văn học nghệ thuật Việt Nam trong buổi đầu tiếp thu, tiếp biến luôn có sự đè dặt nhất định. Chúng ta đã từng trải qua một giai doạn "Lịch sử bút chiến” giữa thơ mới và thơ cũ vào những thập niên 30 của thể kỷ XX và hiện nay vấn để văn học “Hậu - hiện đại trong văn học Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới đã làm cho nhiều ý kiến khác nhau: Không ít người phản đồi, bài xích nhưng cũng không thiểu người ung hộ. Trong sự đổi mới văn học nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật tự sự, ta không thể không nhắc đến “Chủ nghĩa - hậu - hiện đại trong văn học”, vấn đẻ được nhiều nhà văn quan tâm.
Đông La đã nhận thức rằng "Chủ nghĩa hậu - hiện đại là vấn để không mới nhưng nó vẫn đang ảnh hưởng và còn đang là “mốt” đối với văn nghệ sĩ. Ở ta, tỉnh thần hậu - hiện đại đã và đang phát triển dau đó trong văn chương Việt Nam cũng là lề thường tình”. Tuy nhiên, tác giả cảm giác: “Không có tài, không hiểu biết đến nơi đến chốn mà mê muội bắt chước, ;hi làm ra những bản sao tồi mà thôi”. Trả lời phỏng vấn của.
“Thiện Khanh, Phùng Gia Th mạnh: “Theo tôi, hậu - hiện dai trong thực tiễn sáng tác, giờ không còn là chuyện có. hay không nữa mà vấn đề chỗ: Ta nhìn nhận đánh giá nó như thể nào. Nhìn từ hôm nay, tôi cho là chúng ta có một khuynh hướng hậu - hiện đại trong văn chương đương đại, dấu hiệu in đậm của *cảm quan hậu - hiện đại” trong sáng tác của nhiều nghệ sĩ”. Trong thực tế nghiên cứu năm 1989, Greg Lockhart đã tìm thấy sự đổi mới văn học nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Trong bài "Tại sao tôi địch truyện ngắn Huy Thiệp ra tiếng Anh”, ông nhận xét Nguyễn Huy. Thiệp là nhà văn viết theo bút pháp hậu hiện đại. Nhiều bài viết của giới nghiên cứu Việt Nam viết về văn học trong thời kỳ đổi mới như Đảo Tuần Ảnh, Cao Kim Lan, Lê Huy Bắc, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy.ần lượt ra mắt, giúp người đọc thấy được sự đổi mới nghệ thuật tự sự trong văn học. đương đại Việt Nam, trong đó, có Tạ Duy Anh được.
xem là nhà văn có thành tựu và tạo được hiệu ứng nghệ thuật sâu rộng rong công chúng. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA TẠ DUY ANH 1. Quan niệm về vai trò của nhà văn Theo Tạ Duy Anh, văn chương phải là thứ sáng trong lịch lãm, là bánh Biscuit dat tiền và đương nhiên không phải dành cho tất cả mọi người. Nghề viết văn là nghề cao quý và đòi hỏi nhà văn phải có nhiều tâm sức để “nhả” ra được những con chữ chất lọc từ tâm can minh, Nhà văn phải biết cách chuyển “lượng sống” thành “chất sống”, nghĩa là chuyển những trải nghiệm, đời thực.
của mình thành một hiện thực thứ hai trong văn chương ở dạng cô đặc nhất, tỉnh chất nhất. Nói một cách khác, viết đối với ông chính là quá trình khai thác những vỉa quặng cuộc sống đã kết tỉnh trong bản thân người cằm bút, là sự "rút ruột nhả tơ” của tâm hồn. Theo Ta Duy Anh, người viết văn nghiêm túc at bị kiệt quệ. thành hình cũng là lúc nhà văn côn lại một mình với cảm giác đuối sức, hụt hãng và trồng rồng khủng khiếp.
Nhưng như một sự đến bù, chính lúc chơi với trong cảm giác "tống không” đó là lúc nhà văn cảm thấy sung sướng nhất, thậm chí sướng hơn cả khoái cảm yêu đương. Với nhà văn, đó là niềm. sung sướng vì thấy tâm hồn mình trở nên tuyệt vời.