Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng môi trường và sức khỏe người lao động ở một số nhà máy chế biến quặng kẽm đề xuất giải pháp dự phòng

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng môi trường và sức khỏe người lao động tại nhà máy chế biến quặng kẽm, đề xuất giải pháp dự phòng hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

185
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan chung

1.2. Các khái niệm liên quan

1.3. Hấp thu, đào thải kẽm trong cơ thể

1.4. Xâm nhập, tích lũy, đào thải chì trong cơ thể

1.5. Tổng quan môi trường, sức khỏe ngành chế biến quặng kẽm

1.6. Lịch sử phát triển

1.7. Tình hình khai thác và chế biến quặng kẽm

1.8. Một số yếu tố môi trường theo quy trình sản xuất. Ảnh hưởng sức khỏe của một số yếu tố môi trường

1.9. Sốt hơi kim loại và một số yếu tố liên quan

1.10. Đặc điểm, nguyên nhân của sốt hơi kim loại

1.11. Biểu hiện triệu chứng và chẩn đoán

1.12. Các nghiên cứu về sốt hơi kim loại

1.13. Viêm mũi nghề nghiệp và các yếu tố liên quan

1.14. Dự phòng bệnh tật cho người lao động chế biến quặng kẽm

1.15. Các giải pháp dự phòng chung

1.16. Các giải pháp dự phòng khi tiếp xúc với hơi kẽm chì

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Môi trường lao động

2.4. Người lao động. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Sơ đồ và thiết kế nghiên cứu

2.7. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.8. Kỹ thuật chọn mẫu

2.9. Những khái niệm sử dụng trong nghiên cứu. Chỉ số nghiên cứu. Công cụ nghiên cứu

2.10. Kỹ thuật thu thập thông tin

2.11. Phương pháp xử lý số liệu và khắc phục sai số

2.12. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng môi trường làm việc tại các cơ sở nghiên cứu. Kết quả đo vi khí hậu

3.2. Kết quả đo bụi tại nơi làm việc

3.3. Kết quả đo hơi khí độc trong môi trường lao động

3.4. Thực trạng sức khỏe người lao động tại các cơ sở nghiên cứu

3.5. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.6. Phân loại sức khỏe chung của đối tượng nghiên cứu

3.7. Tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp

3.8. Mức độ nhiễm kẽm, chì ở người lao động

3.9. Sốt hơi kim loại ở người lao động và một số yếu tố liên quan

3.10. Mắc sốt hơi kim loại

3.11. Một số yếu tố liên quan với mắc sốt hơi kim loại. Viêm mũi và một số yếu tố liên quan

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thực trạng môi trường lao động

4.2. Thực trạng sức khỏe người lao động

4.3. Phân loại sức khỏe chung

4.4. Tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp

4.5. Các bệnh thường gặp có liên quan đến nghề và công việc

4.6. Biểu hiện bệnh, triệu chứng liên quan đến nghề nghiệp

4.7. Mức độ nhiễm kẽm ở người lao động

4.8. Tỷ lệ mắc bệnh sốt hơi kim loại và một số yếu tố liên quan

4.9. Mối liên quan với viêm mũi

4.10. Một số giải pháp dự phòng liên quan đến yếu tố tiếp xúc

4.11. Giám sát môi trường

4.12. Khám, quản lý sức khỏe người lao động

4.13. Một số biện pháp khác

4.14. Một số hạn chế của đề tài

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Môi trường lao động tại nhà máy chế biến quặng kẽm

Nghiên cứu tập trung vào môi trường lao động tại các nhà máy chế biến quặng kẽm, nơi có nhiều yếu tố nguy cơ như bụi, hơi kẽm và chì. Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động, gây ra các bệnh nghề nghiệp như sốt hơi kim loại và viêm mũi. Kết quả đo đạc cho thấy nồng độ bụi và hơi khí độc vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt tại các phân xưởng sản xuất. Điều này đòi hỏi các biện pháp quản lý môi trường hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực.

1.1. Đánh giá rủi ro môi trường

Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá rủi ro dựa trên các chỉ số đo lường về nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và nồng độ bụi. Kết quả cho thấy, môi trường làm việc tại các nhà máy chế biến quặng kẽm có nhiều yếu tố vượt ngưỡng an toàn, đặc biệt là nồng độ bụi và hơi kẽm. Điều này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp như sốt hơi kim loạiviêm mũi. Các biện pháp giám sát và kiểm soát môi trường cần được áp dụng để bảo vệ sức khỏe người lao động.

II. Sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp

Nghiên cứu chỉ ra rằng sức khỏe người lao động tại các nhà máy chế biến quặng kẽm bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các yếu tố môi trường. Tỷ lệ mắc các bệnh như sốt hơi kim loại, viêm mũi và nhiễm độc chì cao hơn so với các ngành nghề khác. Đặc biệt, sốt hơi kim loại là bệnh phổ biến nhất, với các triệu chứng như sốt, đau đầu và mệt mỏi. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa tuổi nghề và tỷ lệ mắc bệnh, cho thấy người lao động có thâm niên cao có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

2.1. Phòng ngừa bệnh nghề nghiệp

Để giảm thiểu nguy cơ sức khỏe, nghiên cứu đề xuất các giải pháp dự phòng như tăng cường giám sát môi trường, cải thiện điều kiện làm việc và tổ chức khám sức khỏe định kỳ. Các biện pháp này không chỉ giúp phát hiện sớm các bệnh nghề nghiệp mà còn nâng cao nhận thức của người lao động về an toàn lao động. Đồng thời, việc áp dụng các chính sách an toàn nghiêm ngặt sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động một cách toàn diện.

III. Giải pháp dự phòng và quản lý môi trường

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp dự phòng để cải thiện môi trường lao động và bảo vệ sức khỏe người lao động. Các biện pháp bao gồm tăng cường hệ thống thông gió, sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân và đào tạo người lao động về an toàn lao động. Ngoài ra, việc áp dụng các công nghệ xử lý bụi và khí thải tiên tiến sẽ giúp giảm thiểu tác động của các yếu tố độc hại. Các chính sách an toàn cần được thực hiện nghiêm ngặt để đảm bảo môi trường làm việc an toàn và lành mạnh.

3.1. Cải thiện điều kiện làm việc

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện điều kiện làm việc để giảm thiểu tác động môi trường đến sức khỏe người lao động. Các biện pháp như lắp đặt hệ thống thông gió, kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm sẽ giúp tạo ra môi trường làm việc thoải mái hơn. Đồng thời, việc sử dụng các thiết bị bảo hộ cá nhân như khẩu trang, găng tay và quần áo bảo hộ sẽ giúp người lao động tránh tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố độc hại.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng môi trường và sức khỏe người lao động ở một số nhà máy chế biến quặng kẽm đề xuất giải pháp dự phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan chung 1. Các khái niệm liên quan  Môi trường lao động + Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất lý học, hóa học, sinh vật học của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường [10]. + Quan trắc môi trường lao động (đo kiểm tra môi trường lao động) là hoạt động thu thập, phân tích, đánh giá số liệu đo lường các yếu tố trong môi trường lao động tại nơi làm việc để có biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe, phòng, chống bệnh nghề nghiệp [11].

 Khái niệm sức khỏe nghề nghiệp: sức khỏe nghề nghiệp là môn khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức khỏe NLĐ với môi trường và điều kiện lao động nghề nghiệp của NLĐ nhằm dự phòng các tác hại nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động và duy trì, nâng cao sức khỏe cho NLĐ.  Khái niệm vệ sinh lao động: là giải pháp dự phòng, chống tác động của các yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [11]. Mối quan hệ tác động tương hỗ trong môi trường lao động: Môi trường và sức khỏe con người có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu sử dụng khai thác hợp lý nó sẽ đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế, sức khỏe cho con người và ngược lại nếu không biết cách bảo vệ, xây dựng phát triển và sử dụng môi trường sống hợp lý thì môi trường sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ, tạo ra các yếu tố nguy cơ cho sức khoẻ, bệnh tật của con người.

Trong tổng số các bệnh tật của con người có tới 25% bệnh tật liên quan đến môi trường. Người ta thấy 80% tất cả các bệnh ung thư liên quan đến môi trường (hút thuốc, dinh dưỡng, các yếu tố môi trường khác) [10]. 4 Nói chung, khi phát triển sản xuất, với sự mở rộng của các ngành công nghiệp, các tác hại nghề nghiệp sẽ phát sinh, các yếu tố độc hại sẽ phát triển. Đây chính là những yếu tố gây ô nhiễm môi trường lao động, trong đó các yếu tố độc hại phổ biến nhất là bụi các loại (bụi vô cơ và hữu cơ), hơi khí độc, hóa chất độc, tiếng ồn, bức xạ ion hóa và không ion hóa, điện từ trường.

Hậu quả tất yếu của sự ô nhiễm trên đây là phát sinh các bệnh nghề nghiệp, bệnh liên quan đến nghề nghiệp dẫn đến tuổi lao động và tuổi thọ NLĐ giảm sút đáng kể. NLĐ mắc phải bệnh nghề nghiệp khả năng lao động và có thể chết trong tuổi lao động. Trong lao động sản xuất, NLĐ không chỉ chịu tác động của một nguyên nhân hay một yếu tố, mà họ thường phải chịu tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm các yếu tố về môi trường, điều kiện lao động và về cá nhân NLĐ. Mối liên quan của chúng là mối quan hệ tác động tương hỗ [10].

 Trong đó các yếu tố môi trường lao động bao gồm: vi khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm không khí, vận tốc gió, cường độ bức xạ nhiệt; nồng độ các hơi khí độc; nồng độ bụi; mức độ ồn; cường độ ánh sáng; mức độ các yếu tố có hại khác (bức xạ ion hóa, bức xạ từ…).1: Mối quan hệ tác động tương hỗ trong môi trường lao động Các yếu tố về điều kiện lao động bao gồm: cường độ và nhịp điệu lao động; gánh nặng lao động; tư thế lao động; mặt bằng sản xuất và thiết bị công nghệ.  Các yếu tố về cá nhân NLĐ bao gồm: tuổi đời, tuổi nghề, giới tính; thể trạng cơ thể; tình trạng gia đình và hoàn cảnh sống; tình hình ốm đau bệnh tật. Hấp thu, đào thải kẽm trong cơ thể  Kẽm là một kim loại được con người biết đến và sử dụng rộng rãi từ rất lâu trong lịch sử, do vậy đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu tổng quan về hấp thu đào thải, vai trò của kẽm đối với cơ thể và về ảnh hưởng lợi và hại của kẽm khi thiếu hoặc thừa. Một số nghiên cứu tổng quan đáng chú ý bao gồm: tổng quan nhiễm độc kẽm do Trung tâm độc chất học và bệnh tật của Mỹ đưa ra năm 2005 [12]; tổng quan nhiễm độc kẽm và các hợp chất của tác giả Harlal Choudhury (2005) [13]; báo cáo đánh giá nguy cơ của kẽm ô xít tại Liên minh châu Âu, năm 2004 [14]…  Các đường vào cơ thể của kẽm: Kẽm là chất cần thiết cho cơ thể con người và được cung cấp chủ yếu qua đường ăn uống.

Các ảnh hưởng mạn tính do kẽm ô xít chủ yếu liên quan đến việc tăng cung cấp kẽm vào cơ thể qua đường tiêu hóa kéo dài. Việc tiếp xúc với bụi hơi kẽm trong môi trường làm việc có thể là tăng lượng kẽm đưa vào đường tiêu hóa do bụi hơi kẽm nuốt vào qua ngã ba hầu họng.  Cơ chế duy trì hằng định lượng kẽm trong cơ thể: Trong cơ thể con người, kẽm có khoảng 2 ÷ 3g, và khoảng 90% số đó nằm ở cơ và xương. Haase (2010) [15] các bộ phận khác trong cơ thể cũng chứa một lượng kẽm nhất định như tuyến tiền liệt, gan, đường tiêu hóa, thận, da, phổi, não, tim và tụy.

Những thay đổi trong sự hấp thụ kẽm và bài tiết qua đường tiêu hóa là cơ chế chính để duy trì hằng định lượng kẽm nội môi. Những điều chỉnh trong bài tiết ở thận cũng là cơ chế điều chỉnh khi một lượng kẽm rất thừa hoặc rất thiếu được đưa vào cơ thể. Khi có thay đổi lớn tăng lên hoặc giảm lượng kẽm đưa vào cơ thể, việc giảm hấp thu, tăng đào thải hoặc ngược lại trong cơ thể sẽ chỉ diễn ra trong 6 ÷ 12 ngày kể từ thời điểm tăng, giảm và sau đó sẽ đạt được lượng kẽm nội môi hằng định. Như vậy, con người dường như có khả năng điều tiết để hằng định lượng kẽm khi lượng kẽm đưa vào cơ thể tăng hoặc giảm gấp 10 lần bình thường tương tự như đã được quan sát trên động vật thí nghiệm.

6 Kẽm chủ yếu được đào thải qua đường ruột, 90% đào thải qua phân, một lượng nhỏ được đào thải qua ống thận và bài tiết qua mồ hôi. (2000) [16]: đường tiêu hóa là bộ phận quan trọng để hằng định lượng kẽm nội môi. Cơ chế điều chỉnh ở đây là thông qua việc tăng hoặc giảm đào thải kẽm qua phân. Tăng đào thải kẽm nội sinh qua đường tiêu hóa là cơ chế quan trọng để duy trì cân bằng lượng kẽm gần với mức cần thiết đưa vào cơ thể.

Tuy nhiên, cơ chế tăng đào thải khi lượng kẽm đưa vào cơ thể tăng cũng được hỗ trợ bằng cơ chế điều chỉnh lượng kẽm hấp thu. Ngoài ra, điều chỉnh đào thải kẽm qua nước tiểu cũng là một cơ chế điều chỉnh mặc dù nhỏ so với cơ chế điều chỉnh qua đường tiêu hóa [16]. Johnson et al. (1993) [17] đo sự thay đổi của lượng kẽm qua nước tiểu khi lượng kẽm đưa vào là 21,9; 37,5; 51,6 và 67,8, kết quả cho thấy lượng kẽm thải qua nước tiểu chỉ giảm xuống khi lượng kẽm đưa vào giảm ở mức 51,6mmol/ngày.

Mức độ giảm lượng kẽm thải qua nước tiểu xảy ra rất nhanh, sau 2 - 3 ngày khi lượng kẽm đưa vào ở mức rất thấp. Lượng kẽm thải qua nước tiểu thay đổi sớm trước khi có những thay đổi nồng độ kẽm trong huyết tương hay thay đổi trong chức năng hấp thu ở ruột. (1994) [18], nồng độ kẽm thải qua nước tiểu ở người khoảng từ 200 đến 600µg/ngày (trung bình 643 ± 198µg/ngày), thường chiếm khoảng 10% lượng kẽm đưa vào. Lượng kẽm đào thải qua nước tiểu biểu hiện nhạy với những thay đổi về lượng kẽm trong cơ thể.

Tăng gấp 11 lần lượng kẽm đưa vào qua đường tiêu hóa bằng việc cung cấp nSO 4 đã cho thấy, lượng kẽm trong huyết tương tăng 37%, trong khi lượng kẽm thải ra nước tiểu trong ngày tăng 188%. Kết quả này chỉ ra rằng, tăng thải của cầu thận để đáp ứng lại với mức độ tăng của kẽm trong huyết tương là do cơ chế tăng đào thải hoặc là giảm hấp thu.  Nồng độ kẽm trong máu: Cũng theo Carol T. (1994) [18] giá trị nồng độ kẽm trong máu ở người bình thường do các tác giả khác nhau đưa ra, vì sử dụng nhiều loại kỹ 7 thuật khác nhau nên khó so sánh và ít được sự chấp nhận.

Hiện nay, các phương pháp tốt hơn sẽ giúp tránh nhiễm bẩn mẫu, công cụ phân tích có độ chính xác tốt hơn sẽ giúp chúng ta có được số liệu kẽm huyết tương chính xác hơn. Nồng độ kẽm huyết thanh ở đối tượng bình thường trung bình khoảng 110,7 ± 14,8µg/dL. + Nghiên cứu tiến hành đo lượng kẽm trong máu toàn phần của cộng đồng dân cư ở Baajoz - Tây Ban Nha (khu vực có rất ít ô nhiễm) cho thấy: nồng độ kẽm trung bình trong huyết thanh là 6,95 ± 1,08μg/ml (Moreno et al. Nồng độ kẽm máu tăng theo tuổi với các nhóm tuổi < 30, 30 - 45, > 45, nồng độ kẽm tương ứng là 4,85; 6,85 và 7,32μg/mL.

+ Ebba Báránya et al. (2002) [20] đo lượng kẽm trong huyết thanh của 372 người ở hai thành phố Uppsala và Trollhättan của Thụy Sỹ cho thấy: nồng độ kẽm trung bình là 6,1 và 0,99mg/L. (1987) [21] nghiên cứu trên những người tình nguyện (26 nữ và 21 nam) sử dụng viên kẽm (chứa 220mg kẽm sulfat tương đương 50mg kẽm) trong vòng 12 tuần. Các đối tượng được xét nghiệm kẽm huyết tương trước khi sử dụng viên thuốc (nồng độ kẽm trung bình trong huyết thanh của nam là 15,1 ± 2,5μmol/L, nữ là 14,8 ± 2,5μmol/L), sau 6 tuần, lượng kẽm huyết tương tăng ở mức có ý nghĩa thống kê so với trước khi sử dụng (trung bình ở nam: 20,6 ± 4,6μmol/L, ở nữ: 23,2 ± 6,3μmol/L).

+ Theo Farré-Rovira, et al. (1985) [22]: nghiên cứu trên 239 nam và 217 nữ khỏe mạnh cho thấy, nồng độ kẽm trong máu toàn phần ở nam là 6,07 ± 1,05mg/L và nữ là 5,85 ± 1,23mg/L. + Theo Moreno et al. (1999) [19] nghiên cứu tiến hành đo lượng kẽm trong máu toàn phần của cộng đồng dân cư ở Baajoz - Tây Ban Nha (khu vực có rất ít ô nhiễm) cho thấy nồng độ kẽm trung bình là 6,95 ± 1,08μg/ml.

Nồng độ kẽm máu tăng theo tuổi với các nhóm tuổi < 30, 30 - 45, > 45, nồng độ kẽm tương ứng là 4,85; 6,85 và 7,32μg/ml. 8 + Theo Ebba Báránya et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu môi trường và sức khỏe người lao động tại nhà máy chế biến quặng kẽm: Giải pháp dự phòng là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tác động của môi trường làm việc đến sức khỏe của công nhân trong ngành chế biến quặng kẽm. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ô nhiễm tiềm ẩn mà còn đề xuất các giải pháp dự phòng nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng cuộc sống. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, chuyên gia môi trường và những người quan tâm đến an toàn lao động.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu hơn về tác động của ô nhiễm hóa chất đến sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến chất lượng nước và sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình cung cấp thêm thông tin về đánh giá môi trường nước, một yếu tố quan trọng trong bảo vệ sức khỏe con người.