Chương 1 đã giới thiệu tổng quan các vấn đề sẽ được đề cập trong luận văn này và đưa ra câu hỏi nghiên cứu liên quan đến lý do chọn đề tài. Chương này, mục 2.2, điểm qua các công trình ghiên cứu trước đây có liên quan đến mối quan hệ lẫn nhau giữa các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và ảnh hưởng của quan hệ ngân hàng và khách hàng lên các điều khoản đó. Phần phát triển giả thuyết nghiên cứu được trình bày ở mục 2.3 và cuối cùng là tóm tắt chương ở mục 2.2 ĐIỂM QUA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Phần này sẽ khái lược các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng tín dụng (mục 2.1) và ảnh hưởng quan hệ của ngân hàng và khách hàng lên các điều khoản trong hợp đồng tín dụng (mục 2.1 Mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng Các điều khoản trong hợp đồng tín dụng ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia, thoả mãn mục đích cũng như hài hoà đặc điểm của ngân hàng và khách hàng. Vì vậy ở mỗi hợp đồng khác nhau thì nội dung các điều khoản có thể khác nhau.
Bên cạnh đó, các điều khoản này có thể có một số vay trò như giúp chuyển tải thông tin của người đi vay ra thị trường (Bester, 1985), giúp ngân hàng quản lý người vay (Diamond, 1984) và giúp người đi vay bộc lộ thông tin bản thân họ thông qua việc lựa chọn các điều khoản trong hợp đồng (Bester, 1985), ví dụ như đánh đổi giữa các điều khoản vay để có được lợi ích tối ưu (Melnik & Plaut, 1986). Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy chưa thống nhất với nhau. Năm 1985, Bester đã nghiên cứu về sự đánh đổi giữa lãi suất vay và tài sản đảm bảo, khách hàng chủ động cung cấp thêm tài sản đảm bảo để được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hưởng lãi suất vay thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu này không chỉ ra được cách mà người cho vay và người đi vay thương lượng để đạt được hai điều khoản này.
Năm 1986, Melnik và Plaut lại cho rằng các điều khoản trong hợp đồng vay được thiết kế chung với nhau và không thể thương lượng một cách riêng biệt. Về sau, có những tác giả đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng vay bằng phương trình đơn biến (Guedes & Opler, 1996); (Leeth & Scott, 1989); (Petersen & Rajan, 1994). Tuy nhiên, cách nghiên cứu này sẽ gặp vấn đề, vì những điều khoản còn lại cũng cần được xác định đồng thời (Dennis et al. Và để giải quyết vấn đề này, Dennis và ctg (2000) đã thực hiện ước lượng bằng mô hình hồi quy hai giai đoạn.
Tác giả ước lượng mối quan hệ giữa lãi suất vay, kỳ hạn vay và tài sản đảm bảo bằng hệ phương trình đồng thời, sau đó mang kết quả này so sánh với những nghiên cứu trước sử dụng mô hình hồi quy đơn biến. Tác giả này phát hiện ra kết quả sẽ bị sai lệch nếu chỉ sử dụng phương pháp đơn biến mà không sử dụng phương pháp ước lượng bằng hệ phương trình đồng thời. Mô hình hệ phương trình đồng thời sau này được sử dụng khá rộng rãi, ví dụ như trong các nghiên cứu của Bharath, Dahiya, Saunders, and Srinivasan (2011); Brav, Michaely, Roberts, and Zarutskie (2009); Brick and Palia (2007); Lensink and Pham (2006). Các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng tín dụng được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu nào xác định mối quan hệ đồng thời giữa cả bốn điều khoản lãi suất vay, kỳ hạn vay, tỷ lệ tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay ở Việt Nam. Hiện chỉ có nghiên cứu của Lensink and Pham (2006) tìm hiểu về mối quan hệ giữa ba điều khoản trong hợp đồng vay, đó là lãi suất vay, kỳ hạn vay và tài sản đảm bảo bằng phương pháp xây dựng hệ phương trình đồng thời. Nghiên cứu này chỉ xem xét yếu tố giá trị khoản vay như một biến độc lập tác động đến ba điều khoản lãi suất vay, kỳ hạn vay và tài sản đảm bảo chứ chưa xem xét được sự tác động trở lại của ba điều khoản đến giá trị khoản vay. Nghiên cứu của Lensink and Pham (2006) cũng như những nghiên cứu trước có liên quan chỉ sử dụng biến tài sản đảm bảo là biến giả, tức là chỉ xem xét khoản vay có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tài sản đảm bảo hay không chứ không xác định được tài sản đảm bảo là bao nhiêu.
Về mặt nào đó có thể nói đây là một hạn chế của những nghiên cứu trước. Vì không phải lúc nào và không phải với khách hàng nào, khoản vay nào thì ngân hàng cũng đòi hỏi tỷ lệ tài sản đảm bảo như nhau. Một khoản vay có tỷ lệ tài sản đảm bảo 30% sẽ rất khác với khoản vay đòi hỏi tỷ lệ tài sản đảm bảo là 90% - 100% hay cao hơn nữa. Mặc dù vậy, có thể nói rằng những nghiên cứu kể trên cho thấy mối quan hệ giữa bốn điều khoản chính trong hợp đồng tín dụng (lãi suất vay, kỳ hạn vay, tỷ lệ tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay) hoàn toàn có thể được xác định bằng phương pháp xây dựng hệ phương trình đồng thời.
Như đã đề cập ở phần trên, ngân hàng ở Việt Nam chưa chú trọng đến điều khoản các giao ước, vì thế các giao ước này không thấy thể hiện rõ trên hợp đồng. Do đó, tác giả không thể thu thập được dữ liệu về biến này. Nghiên cứu sẽ còn lại bốn biến: lãi suất vay, kỳ hạn vay, tỷ lệ tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến tài sản đảm bảo là biến liên tục chứ không phải là biến giả như các nghiên cứu kể trên.
Dựa vào những nghiên cứu trước, trong đó chủ yếu là nghiên cứu của Dennis and Mullineaux (2000), Lensink and Pham (2006), để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm tra. Các nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng tín dụng nhìn chung dựa trên hai lý thuyết chính, đó là thuyết thay thế (Trade-off) và thuyết bổ trợ (Sorting by observed risk). Thuyết thay thế đề cập đến việc người đi vay chấp nhận một điều khoản bất lợi để đổi lấy một điều khoản có lợi hơn cho họ. Ngược lại, thuyết bổ trợ lại yêu cầu đồng thời hai điều khoản bất lợi đối với người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao (Dennis & Mullineaux, 2000).1 tổng hợp mối quan hệ giữa mỗi điều khoản trong hợp đồng với các điều khoản còn lại theo quan điểm của hai lý thuyết: thuyết thay thế - Trade-off (T-O) và thuyết bổ trợ - Sorting by observed risk (S-O-R).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng Tỷ lệ tài sản Lãi suất vay Kỳ hạn vay Chỉ tiêu đảm bảo T-O S-O-R T-O S-O-R T-O S-O-R Kỳ hạn vay (+) (-) Tỷ lệ tài sản đảm bảo (-) (+) (+) (-) Giá trị khoản vay (+) (-) (-) (+) (+) (-) Nguồn: tác giả tự tổng hợp Phần sau sẽ thảo luận chi tiết các mối quan hệ lãi suất cho vay với các điều khoản khác (kỳ hạn vay, tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay) từ mục 2.3 và các điều khoản không phải lãi vay đó với nhau từ mục 2.1 Mối quan hệ giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay đã được nhiều công trình nghiên cứu thực hiện, tuy nhiên kết quả vẫn chưa đồng nhất và còn khá mơ hồ. Điều này thể hiện qua Bảng 2.1 giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay trong hợp đồng tín dụng.2 Tóm tắt kết quả các công trình nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay. Bảng sau thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay trong hợp đồng tín dụng: “ +” thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay, “ - ” thể hiện mối quan hệ nghịch biến giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay. Tác giả Kết quả mối quan hệ Gottesman and Roberts (2004) + Merton (1974) - Strahan (1999) - Dennis et al.
(2000) - Lensink and Pham (2006) + Goss and Roberts (2011) + Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục tài liệu tham khảo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Mối quan hệ giữa lãi suất cho vay và kỳ hạn vay theo thuyết thay thế9 là đồng biến (Goss & Roberts, 2011). Khoản vay càng dài, người cho vay càng phải đối mặt với nhiều rủi ro. Chính vì thế mà ngân hàng muốn cho vay những kỳ hạn ngắn để hạn chế rủi ro cho nguồn vốn của mình. Ngân hàng chỉ giải ngân những khoản vay kỳ hạn dài cho những khách hàng được đánh giá là ít rủi ro và sẽ tính lãi suất cao sao cho lãi suất vay đủ bù đắp rủi ro kỳ hạn của khoản vay (Lensink & Pham, 2006).
Nếu khách hàng muốn vay kỳ hạn ngắn, rủi ro cho ngân hàng thấp hơn nên sẽ tính lãi suất thấp hơn. Ngược lại, thuyết bổ trợ10 lại cho rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa kỳ hạn vay và lãi suất vay (Booth & Booth, 2006). Thuyết này phản biện rằng đối với những người đi vay có rủi ro cao thì ngân hàng chỉ cung cấp những khoản vay kỳ hạn ngắn, thu hồi vốn nhanh đồng thời tính lãi suất cao để bù đắp rủi ro của nhóm khách hàng này. Còn đối với những khách hàng ít rủi ro hơn, ngân hàng sẽ cho vay kỳ hạn dài hơn và người đi vay sẽ được ưu đãi lãi suất hơn (Gottesman, 2006).
Như vậy, người đi vay ít rủi ro hơn vừa được vay kỳ hạn dài hơn, vừa được hưởng lãi suất thấp hơn người đi vay có rủi ro cao. Những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa hai điều khoản này cũng chưa có sự thống nhất. Một vài tác giả ủng hộ quan điểm của thuyết thay thế như (Bharath et al., 2011); (Coleman, Esho, & Sharpe, 2002), số khác lại theo thuyết bổ trợ (Dennis et al. Nhưng cũng có nghiên cứu lại ủng hộ cả hai quan điểm, ví dụ như nghiên cứu của (Phạm Thị Thu Trà và Lensink , 2006).