Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành vận tải biển với gdp và dân số việt nam

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành vận tải biển với gdp và dân số việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2023

204
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa lao động ngành vận tải biển, GDP Việt Nam, và dân số Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến mối quan hệ giữa lao động và các chỉ tiêu kinh tế, dân số, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào mối quan hệ giữa lao động ngành vận tải biển với GDP và dân số. Điều này tạo ra một khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thống kê và mô hình lượng hóa để xác định mối quan hệ này.

1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra mối quan hệ giữa lao động và GDP, dân số, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế phát triển, ít đề cập đến các nước đang phát triển như Việt Nam.

1.2. Nghiên cứu ở trong nước

Trong nước, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lao động và các chỉ tiêu kinh tế, dân số còn hạn chế, đặc biệt là trong ngành vận tải biển. Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp và dịch vụ khác, chưa có nghiên cứu toàn diện về lao động ngành vận tải biển.

II. Cơ sở lý luận về GDP dân số và lao động ngành vận tải biển

Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, dân số, và lao động ngành vận tải biển. GDP là chỉ số quan trọng đo lường sự tăng trưởng kinh tế, trong khi dân số và lao động là yếu tố cốt lõi thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Lao động ngành vận tải biển đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế biểnngành logistics.

2.1. Tăng trưởng kinh tế và GDP

GDP là chỉ số quan trọng đo lường sự tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng GDP có tác động trực tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế, bao gồm ngành vận tải biển.

2.2. Dân số và lao động

Dân số, đặc biệt là dân số trong độ tuổi lao động, là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Lao động ngành vận tải biển phụ thuộc vào sự tăng trưởng dân số và cơ cấu dân số.

III. Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của GDP và dân số đến lao động ngành vận tải biển

Nghiên cứu đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của GDPdân số đến lao động ngành vận tải biển tại Việt Nam giai đoạn 1990–2020. Kết quả cho thấy sự tăng trưởng GDP và dân số có tác động đáng kể đến sự phát triển của lao động ngành vận tải biển. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lao động ngành này đang có xu hướng chậm lại trong những năm gần đây.

3.1. Thực trạng tăng trưởng GDP Việt Nam

GDP Việt Nam tăng trưởng nhanh từ năm 1990 đến 2020, đạt mức tăng trưởng trung bình 6–7% mỗi năm. Sự tăng trưởng này có tác động tích cực đến sự phát triển của ngành vận tải biển.

3.2. Thực trạng dân số và lao động

Dân số Việt Nam tăng trưởng ổn định, đặc biệt là dân số trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, sự phân bổ lao động trong ngành vận tải biển chưa đồng đều, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động có tay nghề cao.

IV. Đề xuất giải pháp phát triển lao động ngành vận tải biển

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển lao động ngành vận tải biển trong mối quan hệ với GDPdân số. Các giải pháp bao gồm tăng cường đầu tư vào đào tạo lao động, cải thiện chính sách lao động, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành vận tải biển.

4.1. Giải pháp tăng trưởng GDP

Tăng trưởng GDP là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành vận tải biển. Cần có các chính sách hỗ trợ tăng trưởng GDP, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp và dịch vụ liên quan đến vận tải biển.

4.2. Giải pháp phát triển dân số và lao động

Cần có các chính sách nhằm tăng cường chất lượng lao động trong ngành vận tải biển, bao gồm đào tạo nâng cao tay nghề và cải thiện điều kiện làm việc.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành vận tải biển với gdp và dân số việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Về mối quan hệ giữa lao động và GDP, dân số Nghiên cứu mối quan hệ của các yếu tố trong một nền kinh tế là hoạt động đã diễn ra từ thế kỷ thứ XVII trên thế giới, nhằm tìm hiểu các khía cạnh tác động qua lại của các yếu tố với sự GDP, GDP bình quân, từ đó chỉ xây dựng các biện pháp thúc đẩy phục vụ sự tăng trưởng của GDP, GDP bình quân.

Trong một nghiên cứu khoa học về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và dân số được công bố của Viện Martin Prosperity - Đại học Toronto đã tổng hợp dữ liệu về dân số và tốc độ tăng trưởng GDP ở tất cả các khu vực đô thị của Hoa Kỳ từ năm 2001 đến 2011. Trong nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng dân số và sự thành công của tăng trưởng kinh tế. Khi dân số tăng lên, nền kinh tế và thuế cũng sẽ tăng trưởng. Ngoài ra, người ta tin rằng sự gia tăng GDP khuyến khích sự xuất hiện của những người định cư khác.

Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy không có mối tương quan trực tiếp giữa tăng trưởng dân số và GDP ở đô thị của Mỹ. [61] Cũng trong một nghiên cứu khoa học khác về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và dân số của Viện Nghiên cứu Kinh tế Chính trị Sheffield (SPERI) – Vương quốc Anh năm 2014 đã chỉ ra rằng trong quá trình 200 năm phát triển của nền kinh tế tây Âu có sự gắn kết chặt chẽ của gia tăng dân số. Tuy nhiên khi dân số tăng nhanh hơn GDP sẽ trở thành gánh nặng của sự tăng trưởng kinh tế do GDP bình quân đầu người giảm xuống ảnh hưởng xấu tới đời sống xã hội. Mặt khác, khi nền kinh tế tăng trưởng lại cần dân số tăng từ đó dẫn đến tăng nguồn cung lao động và tăng số lượng người tiêu dùng.

[62] Một nghiên cứu khoa học “Thay đổi nhân khẩu học và tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng thực nghiệm từ Châu Á” của Sijia Song, Đại học Đông 10 Illinois đã phân tích thực nghiệm tác động của các khía cạnh khác nhau của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người.[76] Với mục đích này, dữ liệu chung từ một mẫu của bốn mươi ba nền kinh tế đang phát triển đã được sử dụng. Trong số các kết quả của nghiên cứu nổi bật lên, một là “ảnh hưởng của tăng trưởng dân số đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người là tuyến tính và trong mọi trường hợp là tiêu cực”; hai là “không có tác động thống kê đáng kể nào đối với tăng trưởng kinh tế khi cả tỷ lệ phụ thuộc của thanh niên và người cao tuổi đều được đưa vào mô hình”. Theo giáo sư kinh tế Thomas Piketty người Pháp sự tăng lên của GDP bình quân đầu người sẽ làm phúc lợi kinh tế tăng theo. Mặt khác, nếu tăng trưởng dân số ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người thì tại các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao sẽ làm tăng GDP bình quân đầu người, điều này chưa chắc đã đúng mà còn phải phụ thuộc vào bản chất tác động lên GDP bình quân đầu người [54, Tr36-37].

Xét trên góc độ toàn thế giới giai đoạn 1995 – 2018, dựa vào số liệu được thống kê bởi ngân hàng thế giới WB cho thấy hai biến này không tương quan với nhau, trong khi biến dân số tăng nhanh một cách đều đặn thì biến tổng GDP lại tăng trưởng chậm làm cho biến GDP bình quân có hiện tượng suy giảm. Điều đương nhiên vấn đề ở đây là xét hai biến độc lập và trên góc độ vĩ mô và nếu xem xét vấn đề ngược lại thì rõ ràng tăng trưởng kinh tế có tác động tới tăng trưởng dân số. Thomas Malthus (1766 – 1834) nhà kinh tế học người Anh đã viết: “Nếu mọi người sinh sản với mức tối đa, sản xuất lương thực và nông nghiệp sẽ không theo kịp, dẫn đến tình trạng chết đói hàng loạt. Nhưng khi dân số tăng lên, các công nghệ hiện đại sẽ ra đời hỗ trợ phát triển sản xuất lương thực thực phẩm và các nhu cầu cơ bản khác”.

11 Về cơ bản, lý thuyết của Thomas Malthus đã được chứng minh trong hơn 200 năm chiều dài lịch sử kinh tế thế giới đến nay, trước khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra tại Anh, tăng trưởng dân số trung bình ở Anh là khoảng 0,29% trong khi GDP bình quân đầu người tăng trưởng 0,12%, GDP tăng 0,41%.[46] Cần lưu ý trong giai đoạn này yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào sức lao động thủ công của con người, chưa có sự hỗ trợ của máy móc công nghệ. Khi cách mạng công nghiệp bùng nổ, cả GDP bình quân lẫn dân số tăng nhanh cùng với các nguồn cung cấp lương thực. Tăng trưởng sản lượng lương thực toàn cầu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dân số của cả 2 thế kỷ trước đó, GDP bình quân đầu người ở Anh tăng gấp 11 lần trước cách mạng công nghiệp trong khi lượng lao động thực tế huy động vào sản xuất không tăng cho dù dân số tăng. Như vậy trong trường hợp này, sự đổi mới công nghệ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng dân số.

Nghiên cứu khoa học của Tổ chức Lao động quốc tế - ILO năm 2019 được công bố trên website của mình về “Triển vọng việc làm và xã hội thế giới” do Stefan Kühn, Santo Milasi, Damian Grimshaw thực hiện nghiên cứu để chỉ ra xu hướng lao động năm 2019 đã thực hiện việc phân tích tổng quan tất cả các yếu tố liên quan đến lao động thế giới bao gồm số lượng, trình độ, giới tính, thu nhập, năng suất cùng với sự tăng trưởng kinh tế thế giới mà chỉ số kinh tế được sử dụng chính là GDP. [15][63] Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thống kê, cho thấy GDP toàn cầu có sự tăng trưởng đều đặn qua các năm, lượng lao động mặc dù phân bổ không đều khi phân theo giới tính, và tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ. Tuy nhiên khi đánh giá về tăng trưởng kinh tế, dân số và lao động theo từng khu vực địa lý thì kết quả nghiên cứu thống kê cho thấy tại những khu vực kinh tế tăng trưởng chậm, đời sống nghèo nàn thì có tỷ lệ tăng dân số cao, trình độ lao 12 động lạc hậu, năng suất lao động, thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao. Tại khu vực châu Á - Thái bình dương, quy mô nền kinh tế có xu hướng sẽ mở rộng mặc dù tăng trưởng kinh tế giảm tốc, khu vực Đông Nam Á có mức giảm tốc kinh tế lớn nhất.

Dân số khu vực này tiếp tục có sự tăng trưởng đều đặn, lao động nông nghiệp giảm xuống, lao động trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tăng lên, các chỉ số xấu về lao động đều ở mức cao như thất nghiệp, cân bằng giới tính hay thu nhập… Tóm lại nghiên cứu đã chỉ ra mức độ tăng trưởng kinh tế tại khu vực Đông Nam Á còn thấp, chưa phù hợp với lượng tài nguyên lao động sẵn có, trình độ lao động thấp, thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, khoảng cách phân biệt giới trong lao động lớn, vì vậy cần có những chính sách tăng trưởng kinh tế và lao động phù hợp. Về mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành VTB với các yếu tố kinh tế xã hội Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Alexandra Fratila (Adam), Ioana Andrada Gavril, Sorin Cristian Nita và Andrei Hrebenciuc thuộc trường đại học Nghiên cứu Kinh tế Bucharest với nhan đề “Tầm quan trọng của Vận tải Hàng hải đối với Tăng trưởng Kinh tế trong Liên minh châu Âu: Phân tích dữ liệu chủ đạo” tháng 7 năm 2021 đã phân tích và chỉ ra được mối quan hệ quan trọng giữa tăng trưởng vận tải biển với tăng trưởng kinh tế của 20 nước Châu Âu bằng mô hình hồi quy. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vận tải biển tăng trưởng 10% sẽ làm cho GDP bình quân tăng bình quân 1,591% [56]. Nhóm nghiên cứu chưa chỉ ra được yếu tố lao động vận tải biển đóng góp cho sự phát triển của vận tải biển và cũng chưa chỉ ra điều ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng sẽ ảnh hưởng tới vận tải biển như thế nào.

Trong nghiên cứu Chính sách Hàng hải Nhật Bản của Keiji Habara, đại học Kobe năm 2017 đã chỉ ra ngành hàng hải Nhật Bản được xây dựng dựa trên mối quan hệ của 3 nhóm: Chủ tàu và người vận chuyển, công ty đóng 13 tàu, và chủ hàng. Đây được cho là mối quan hệ khép kín khi các công ty đóng tàu cung cấp phương tiện vận tải cho chủ tàu phục vụ hoạt động VTB trong và ngoài nước [59]. Các chủ hàng Nhật Bản trong đó phần lớn là các công ty điện tử đặt hàng đối với các chủ tàu Nhật Bản với các đơn hàng vận chuyển nguyên liệu từ nước ngoài vào Nhật và thành phẩm từ Nhật Bản đi nước ngoài. Chính sự khép kín của quá trình này đã giúp cho ngành Hàng hải Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XX.

Thông qua mối quan hệ chặt chẽ của các nhóm chủ đạo trong nước đã thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng hải, giúp lượng hàng hóa vận chuyển hầu hết do đội tàu quốc gia hoặc các tàu treo cờ Nhật thúc đẩy thị phần VTB tăng lên. Để có kết quả như vậy do một số nguyên nhân chính: sự khép kín của 3 nhóm trực tiếp liên quan đến VTB, năng lực kinh tế quốc nội Nhật Bản, có những đồng minh lớn trong đó đặc biệt là Mỹ. Tuy nhiên do sự thiếu hụt lao động chung của quốc gia nên ngoài việc thuê lao động nước ngoài thì hoạt động áp dụng khoa học kỹ thuật cao vào ngành hàng hải rất được quan tâm, nhờ đó làm giảm lượng lao động trong ngành VTB như đóng và sửa chữa tàu, cảng biển, thủy thủ. Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thống kê và nghiên cứu lịch sử.

Giải thích sự thành công trong ngành hàng hải của Nhật Bản, trong nghiên cứu: “Chiến lược hàng hải của Nhật Bản: Nếu không phải cường quốc thì ai?” của Toshi Yoshihara và James R.S Naval War College (USNWC) cũng đã nghiên cứu và chỉ ra sự phụ thuộc của Nhật Bản vào Mỹ trong bảo đảm an toàn Hàng Hải thế kỷ XX. Nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố cơ bản giúp ngành hàng hải của Nhật Bản phát triển chính là năng lực kinh tế và khoa học công nghệ của Nhật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu mối quan hệ giữa lao động ngành vận tải biển, GDP và dân số Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương tác giữa ba yếu tố quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích vai trò của lao động trong ngành vận tải biển mà còn chỉ ra cách mà ngành này ảnh hưởng đến GDP và dân số. Qua đó, tài liệu giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của vận tải biển trong phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời mở ra những cơ hội nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học quản lý cư trú của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nơi nghiên cứu về quản lý cư trú có thể liên quan đến di chuyển và lao động trong ngành vận tải. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ chính trị học vấn đề giảng dạy môn giáo dục công dân cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn quận 7 thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng có thể cung cấp cái nhìn về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, một yếu tố quan trọng trong ngành vận tải. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ sạp thái ở Tây Bắc xưa và nay nghiên cứu địa bàn huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên 02 có thể giúp bạn hiểu thêm về các mô hình phát triển kinh tế khu vực, từ đó liên hệ đến sự phát triển của ngành vận tải biển. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan.