Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VA CƠ SỞ THỰC TIEN DE TÀI 1. TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VE MÔ HÌNH DẠY HỌC 7E 1. Trên thé giới Trên thé giới mô hình 7E được đưa vào giảng day rat phô biển, được áp dụng ở nhiều môn học và trong đó cũng có nhiều dé tài nghiên cứu ứng dụng ở các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa li,.
Các tác giả dé tài “Hiéu quả của Mô hình 7E đối với kết quả học tập ở bộ môn địa lí của học sinh đa sắc tộc” đã nghiên cứu đựa trên 96 HS được chia làm hai nhóm. Trong đó, nhóm 1 học theo mô hình 7E và nhóm 2 học theo mô hình thông thường về các chủ dé ở môn địa lí. Kết quả nhóm tác gia thu được kết quả điểm trung bình ở hai nhóm có sự chênh lệch khá rõ ở kết quả nhóm học theo mô hình 7E lả 53,40; 75,60; 21,60, trong khi nhóm học sinh đa sắc tộc nhóm 2 học theo mô hình thông thường là 50,95; 67,67; 16,64. Kết cho thấy mô hình 7E ảnh hưởng đáng kê đến kết quả học tập ở môn địa lí đa sắc tộc của học sinh nhóm 2 so với mô hình thông thường.
Kết qua học tập môn địa lí không bị anh hưởng bởi dân tộc của học sinh mà bị ảnh hưởng bởi mô hình và phương pháp day học. (lya 'Setyasih , Mei Vita Romadhon N. Fatchan , Sugeng Utaya, 2016). Theo nghiên cứu của đẻ tài “Hiệu qua của mô hình 7E trong day học chủ dé Công và Năng lượng” trong bộ môn Vật lí.
Nhóm tác giả đã đánh giá kết quả kì thi theo từng năm từ 2015 — 2017 dé nhận thay rang việc ứng dụng mô hình 7E cho thấy nhiều kết quả khả quan khi điểm trung bình hằng năm được tang dan đều, và thay đôi rõ rệt với năm 2014 khi chưa ap dụng mô hình day học nảy. Đối với bộ môn Sinh học có đẻ tài thuộc nội dung “Hệ sinh thái và môi trường” cũng sứ dụng mô hình 7E trong quá trình tỏ chức day học. Nhóm tác giả cho biết thái độ HS sôi nồi, chủ động trong việc khám phá kiến thức, ngoài ra không chỉ ghi nhớ được kiến thức mà còn liên hệ vận dụng kiến thức đó và đời sống. Mô hình đạy học theo các pha khiến cho việc tiếp cận kiến thức được kết nỗi với nhau, tránh nhàm chán khi GV tô chức day học.
(Mafilinda et al,. Tại Việt Nam Việc vận dụng mô hình dạy học 7E ở các môn khoa học rất phát triển ở các nước trên thé giới, tuy nhiên ở Việt Nam các dé tài về chủ dé này còn khá ít, chỉ mới được quan tâm vào những năm gần đây. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hảo và cộng sự (2021) có nhắc đến mô hình 7E trong việc vận dụng mô hình SE, 6E, 7E để đánh giá NL KHTN của HS THCS, tuy nhiên đi sâu vào việc mô tả va áp dụng mô hình 7E trong trién khai tô chức day học thì chưa được nếu rõ cụ thể. Còn đối với cấp tiêu học, việc vận dụng mô hình 7E trong dạy hoc STEM được Trương Thị Minh Châu (2021) áp dụng cho học sinh lớp 4 ở một số trường Quận 1 thì có thực nghiệm rút ra được kết quả tốt.
Việc đánh giá NL của học sinh sau khi tô chức day học gặp nhiều van dé tuy nhiên kết quả đạt được như mong đợi. Gan đây nhất là báo cáo khoá luận tốt nghiệp của Võ Thành Kim Ngân (2022) về sử dụng mô hình 7E trong dạy học chủ dé “Anh sang” Khoa học tự nhiên 7 cũng chỉ ra được những kết quả tích cực khi thực hiện dé tài này. Tác giả cho biết HS tham gia tiết học với thái độ tự tin, trao đôi làm việc nhóm sôi nỗi. Về nội dung tác gia gặp nhiều khó khăn trong việc chốt kiến thức ở các pha, cũng chỉ ra được nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục nhưng nhìn chung mô hình 7E mang lại hiệu quả trong việc tô chức dạy học.
Chương trình giáo dục phô thông môn Khoa học tự nhiên 2018 1. Đặc điểm chương trình môn Khoa học tự nhién 2018 Trong chương trình giáo dục phô thông tông thê 2018, môn Khoa học tự nhiên là môn học bắt buộc, được day ở cấp trung học cơ sở. Môn Khoa học tự nhiên được xây dựng vả phát triển trên nên tảng các khoa học vật lí, hoá học, sinh học vả khoa học Trái Đất. Đôi tượng nghiên cứu của môn Khoa học tự nhiên gần gũi với đời sông hằng ngày của học sinh, cụ thể là các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tôn tại, vận động của thê giới tự nhiên (Bộ Giáo dục và Dao tao, 201 8b).
Bản chất môn khoa học tự nhiên là khoa học thực nghiệm. Vi vậy, thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành và phòng học bộ môn, ở thực địa và cơ sở sản xuất có vai trò, ý nghĩa quan trọng va là hình thức dạy học đặc trưng của môn học nay. Thông qua các hoạt động thực hành, thí nghiệm, môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh khám phá thé giới tự nhiên, phát triển nhận thức, tư duy logic và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn (Bộ Giáo dục và Dao tạo, 2018b), Môn Khoa học tự nhiên có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triên toàn diện của học sinh, có vai trỏ làm nên tảng bình thành và phát triển thé giới quan khoa học của học sinh cấp trung học cơ sở. Cùng với các môn Toán, Công nghệ và Tin học góp phan thúc day giáo dục STEM - một trong những xu hướng giáo đục đang được quan tâm vả phát triển trên thé giới cũng như Việt Nam (Bộ Giáo duc và Dao tạo, 201 8b).
Quan điểm xây dựng chương trình môn Khoa học tự nhiên Chương trình môn Khoa học tự nhiên cụ thé hóa những mục tiêu và yêu cầu của Chương trình tông thé, đồng thời nhắn mạnh các quan điểm sau: a) Dạy học tích hợp: Chương trình môn Khoa học tự nhiên được xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp. Khoa học tự nhiên là một lĩnh vực thống nhất về đối tượng, phương pháp nhận thức, những khái niệm và nguyên lí chung nên việc dạy học môn Khoa học tự nhiên cần tạo cho học sinh nhận thức được sự thông nhất đó. Mat khác, định hướng phát triên năng lực, gan với các tình hudng thực tiễn đòi hỏi thực hiện đạy học tích hợp. Chương trình môn Khoa học tự nhiên tích hợp, lồng ghép một số nội dung giáo dục như: giáo dục kĩ thuật, giáo dục sức khoẻ, giáo dục bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,.
b) Kế thừa và phát triển: Chương trình môn Khoa học tự nhiên bảo đảm kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình môn học đã có của Việt Nam, đông thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Khoa học tự nhiên của những nên giáo dục tiên tiễn trên thé giới; bao đảm kết nói chặt chẽ giữa các lớp học với nhau và liên thông với chương trình các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học ở cấp tiêu học, Vật lí, Hoá học, Sinh học ở cấp trung học phô thông và chương trình giáo dục nghè nghiệp (Bộ Giáo dục và Dao tạo, 201§b). 9 €) Giáo duc toàn điện: Chương trình môn Khoa học tự nhiên góp phan hình thành và phát triên phâm chất và năng lực học sinh thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, thé biện tính toàn điện, hiện đại và cập nhật; chú trọng thực hành. van dụng kiến thức, kĩ năng dé giải quyết van đề trong học tập và đời sống; thông qua các phương pháp, hình thức tô chức giáo dục phát huy tinh chú động và tiềm năng của mỗi học sinh; các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục. Chương trình bảo đảm sự phát triển năng lực của học sinh qua các cấp học, lớp học: tạo thuận lợi cho việc chuyền đổi giữa các giai đoạn trong giáo dục; tạo cơ sở cho học tập suốt đời (Bộ Giáo dục và Đào tao, 2018b).
d) Kết hợp lí thuyết với thực hành và phù hợp với thực tiên Việt Nam: Thông qua hoạt động thực hành trong phòng thực hành và trong thực tế, chương trình môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh nắm vững lí thuyết, đồng thời có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng khoa học tự nhiên vao thực tiễn đời song (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b). Môn Khoa học tự nhiên quan tâm tới những nội dung kiến thức gan gũi với cuộc sông hằng ngày của học sinh, tăng cường vận dụng kiến thức, kĩ năng khoa học vào các tình huống thực tế; góp phan phát triển ở học sinh khả năng thích ứng trong một thế giới biến đôi không ngừng (Bộ Giáo dục và Dao tao, 2018b). Chương trình môn Khoa học tự nhiên bảo đảm tính khả thi, phù hợp với các nguôn lực đẻ thực hiện chương trình như giáo viên, thời lượng, cơ sở vật chất,. Mue tiêu chương trình Khoa học tự nhiên Môn Khoa học tự nhiên hình thành.
phát triển ở học sinh NL khoa học tự nhiên, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học tự nhiên, tìm hiểu tự nhiên, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: đồng thời củng với các môn học va hoạt động giáo dục khác góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình yêu thiên nhiên, thế giới quan khoa học, sự tự tin, trung thực, khách quan, thai độ ứng xử với thé giới tự nhiên phù hợp với yêu cau phát triển bên vững dé trở thành người công dan có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng 10 tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới. Năng lực đặc thù môn Khoa học tự nhiên 1. Nang lực Khoa học tự nhiên Theo chương trình giáo dục phố thông 2018 đã định nghĩa năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tap, rèn luyện, cho phép con người huy động tông hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chi,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thê (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a).