Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sức khỏe tâm thần là một trong những thách thức y tế công cộng lớn trên quy mô toàn cầu. Theo số liệu của Liên Hợp Quốc, ước tính khoảng 25% dân số thế giới đang phải chịu gánh nặng về các rối loạn tâm thần, trở thành một trong ba nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng gánh nặng kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, kết quả điều tra dịch tễ học quốc gia giai đoạn 1999–2000 ghi nhận tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổ biến là 15%, trong đó lo âu và trầm cảm chiếm tỷ trọng đáng kể; các nghiên cứu quy mô nhỏ hơn sau đó ghi nhận tỷ lệ rối loạn tâm thần dao động trong khoảng 20% đến 30%. Nghiên cứu của Trường Đại học Y tế công cộng năm 2008 về gánh nặng bệnh tật và chấn thương cũng xác định các bệnh lý chấn thương, tâm thần kinh và tim mạch là những nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam.
Song hành với gánh nặng tâm thần kinh, bệnh trào ngược dạ dày thực quản (Gastroesophageal Reflux Disease - GERD) là một rối loạn tiêu hóa mạn tính phổ biến, xảy ra khi dịch và thức ăn từ dạ dày trào ngược lên thực quản gây ra các triệu chứng khó chịu hoặc dẫn tới các biến chứng thực thể như viêm loét, hẹp thực quản và Barrett thực quản. Tỷ lệ lưu hành GERD có xu hướng gia tăng nhanh chóng tại nhiều khu vực; tại Việt Nam, số liệu của Lê Văn Dũng tại Bệnh viện Bạch Mai ghi nhận tỷ lệ viêm thực quản trào ngược là 7,8%. Bệnh lý này tác động sâu sắc đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, làm suy giảm năng suất lao động và gây rối loạn giấc ngủ kéo dài do các triệu chứng như nóng rát sau xương ức, ợ chua, nuốt nghẹn, đau ngực và khó thở về đêm.
Nhiều bằng chứng y văn quốc tế như công trình của Saleh Mohammad Channa và cộng sự (2019) hay Zhi Xiang On và cộng sự đã chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa GERD với các rối loạn lo âu và trầm cảm thông qua cơ chế tương tác hai chiều của trục ruột - não (gut-brain axis). Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu lâm sàng đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố liên quan đến lo âu và trầm cảm trên nhóm bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn lâm sàng đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa của tác giả Ngô Minh Tùng tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội (2022) được triển khai nhằm thực hiện hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tỉ lệ lo âu và trầm cảm ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện E năm 2021.
- Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện E năm 2021.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các bệnh nhân được chẩn đoán mắc trào ngược dạ dày thực quản đến khám và điều trị tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện E, có hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ thông tin nghiên cứu trong khung thời gian từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết y học lâm sàng và tiêu chuẩn chẩn đoán chuyên ngành Tiêu hóa và Tâm thần:
- Định nghĩa và phân loại tổn thương thực quản: Khóa luận sử dụng định nghĩa GERD theo các đồng thuận tiêu hóa quốc tế và tiêu chuẩn lâm sàng Rome III (triệu chứng kéo dài ít nhất 12 tuần trong 6 tháng, tối thiểu 1 lần mỗi tuần). Khảo sát tổn thương niêm mạc thực quản trên nội soi đường tiêu hóa trên dựa trên Hệ thống phân loại Los Angeles (phân chia 4 mức độ: LA độ A với tổn thương niêm mạc ≤ 5 mm không nối giữa hai nếp; LA độ B với tổn thương > 5 mm; LA độ C tổn thương nối liền giữa hai hay nhiều nếp nhưng < 75% chu vi; LA độ D tổn thương lan rộng ≥ 75% chu vi ống thực quản) và đối chiếu với thang phân loại Savary - Miller.
- Thang điểm GERD-Q (Gastroesophageal Reflux Disease Questionnaire): Bộ công cụ gồm 6 câu hỏi đánh giá triệu chứng trong 7 ngày gần nhất (4 câu về triệu chứng dương tính/âm tính và 2 câu đánh giá mức độ ảnh hưởng đến giấc ngủ và nhu cầu sử dụng thuốc hỗ trợ), được công ty AstraZeneca Việt hóa thông qua quy trình dịch ngược. Thang đo đạt độ nhạy 65% và độ đặc hiệu 71% trong chẩn đoán GERD; phân loại mức độ bệnh dựa trên tổng điểm và điểm tác động (điểm cắt ≥ 8 và điểm tác động ≥ 3 chỉ điểm GERD mức độ nặng).
- Thang đánh giá Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS - Hospital Anxiety and Depression Scale): Công cụ do Zigmond và Snaith xây dựng năm 1983 gồm 14 câu hỏi (7 câu đánh giá lo âu - HADS-A và 7 câu đánh giá trầm cảm - HADS-D), mỗi câu chấm từ 0 đến 3 điểm. Thang đo tập trung vào các biểu hiện tâm lý phi thể chất để tránh nhầm lẫn với triệu chứng cơ thể của bệnh lý nền. Điểm số của từng phân thang được phân định theo 3 mức độ: 0–7 điểm: bình thường; 8–10 điểm: có triệu chứng nghi ngờ; 11–21 điểm: có biểu hiện lo âu hoặc trầm cảm thực sự. Phiên bản tiếng Việt do Khoa Nghiên cứu Y học Hành vi thuộc Đại học New South Wales (Úc) chuyển ngữ và chuẩn hóa.
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu không xác suất theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu thập được 57 bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ.
- Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu: Thu thập số liệu qua bộ câu hỏi cấu trúc phát cho người bệnh tự điền dưới sự hướng dẫn của nghiên cứu viên kết hợp trích xuất bệnh án nội soi. Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Thống kê mô tả sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm đối với biến định tính; giá trị trung bình, độ lệch chuẩn (SD), khoảng giá trị (nhỏ nhất - lớn nhất) đối với biến định lượng. Thống kê suy luận xác định mối liên quan giữa các biến số thông qua tỷ suất chênh hiện mắc (Prevalence Odds Ratio - POR) kèm khoảng tin cậy 95% (95% CI) và kiểm định thống kê với mức ý nghĩa p < 0,05.
- Kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu: Hạn chế sai số điều tra và sai số nhớ lại bằng cách xin ý kiến chuyên gia, chuẩn hóa câu hỏi, hướng dẫn trực tiếp người bệnh; khắc phục sai số nhập liệu bằng cách nhập lại ngẫu nhiên 10% số phiếu để đối soát. Đề tài được Hội đồng Y đức Bệnh viện E và Hội đồng Khoa học Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt; bảo đảm sự tự nguyện và bảo mật thông tin cá nhân của người bệnh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 cung cấp tổng quan y văn toàn diện về bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản và các rối loạn tâm thần phổ biến (lo âu, trầm cảm):
- Trình bày định nghĩa, cơ chế bệnh sinh của lo âu sinh lý và lo âu bệnh lý; tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm theo Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) với các triệu chứng ức chế cảm xúc, tư duy và vận động.
- Tổng kết dịch tễ học GERD tại các khu vực trên thế giới (Bắc Mỹ 10–20%, Châu Âu 27%, Đông Á 5,2–8,5%, Việt Nam khoảng 7,8% viêm thực quản trào ngược) và phân tích các yếu tố nguy cơ như tuổi, giới tính, béo phì, lối sống (hút thuốc lá, uống rượu, cà phê, thuốc chống viêm non-steroid).
- Hệ thống hóa các phương pháp chẩn đoán GERD: triệu chứng lâm sàng điển hình (nóng rát sau xương ức, ợ chua), triệu chứng không điển hình (nuốt khó, nuốt đau, đau ngực không do tim), triệu chứng ngoài thực quản (ho kéo dài, khó thở đêm, khàn tiếng); thăm dò cận lâm sàng gồm nội soi thực quản, đo pH và trở kháng thực quản 24 giờ, đo áp lực nhu động thực quản độ phân giải cao (HRM) và chụp xạ hình thực quản.
- Phân tích cơ chế trục ruột - não giải thích sự xuất hiện của rối loạn cảm xúc ở người bệnh tiêu hóa mạn tính: tình trạng căng thẳng làm thay đổi ngưỡng cảm nhận đau nội tạng, đồng thời triệu chứng khó chịu kéo dài làm suy thoái sức khỏe tâm lý.
- Đánh giá các công cụ đo lường tâm lý học (PSS-10, GHQ-12, SAS, BAI, BDI, DASS-21/42, HADS) và tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu như nghiên cứu của Saleh Mohammad Channa (2019) tại Pakistan trên 258 bệnh nhân và nghiên cứu của Zhi Xiang On trên 1.612 nam giới tại Úc.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức và phương pháp luận của nghiên cứu:
- Nêu rõ địa điểm tiến hành tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện E và thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 9/2021 đến tháng 12/2021.
- Xây dựng danh mục các biến số nghiên cứu bao gồm: nhóm đặc điểm nhân khẩu - xã hội (tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi ở, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, mức thu nhập hàng tháng, việc sử dụng thẻ BHYT, tần suất tập luyện thể thao, bệnh lý nền); nhóm đặc điểm bệnh GERD (triệu chứng lâm sàng, kết quả nội soi theo phân loại LA, thời gian mắc bệnh, điểm phân loại GERD-Q); nhóm biến số đánh giá mức độ lo âu và trầm cảm theo thang điểm HADS.
- Mô tả quy trình thu thập số liệu lâm sàng bằng bảng tự điền và trích xuất hồ sơ bệnh án; quy trình quản lý chất lượng dữ liệu và các biện pháp kiểm soát sai lệch thông tin.
- Trình bày các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học và chỉ rõ các hạn chế nội tại của đề tài về mặt thiết kế cắt ngang và kinh nghiệm của nghiên cứu viên.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ 57 đối tượng nghiên cứu qua 25 bảng số liệu và 7 biểu đồ minh họa:
- Đặc điểm cá nhân: Tuổi trung bình của người bệnh là 41,9 ± 13,7 tuổi (nhỏ nhất 22 tuổi, lớn nhất 78 tuổi); phân bố tương đối đồng đều qua các nhóm tuổi (≤ 30 tuổi chiếm 28,1%; 31–40 tuổi chiếm 21,0%; 41–50 tuổi chiếm 24,6%; > 50 tuổi chiếm 26,3%). Tỷ lệ nam giới chiếm 56,1% (32 bệnh nhân) và nữ giới chiếm 43,9% (25 bệnh nhân). Đa số là người dân tộc Kinh (89,5%), không theo tôn giáo (93,0%), sinh sống tại khu vực thành phố (52,6%) và đã kết hôn (80,7%). Về nghề nghiệp, cán bộ công nhân viên chức chiếm 35,1%, công nhân/nông dân chiếm 31,6%, nghề tự do chiếm 19,3% và hưu trí chiếm 14,0%. Tỷ lệ người có thu nhập > 6 triệu đồng/tháng là 66,7%; 89,5% có bảo hiểm y tế; 50,9% thỉnh thoảng luyện tập thể thao và 12,3% có bệnh lý nền kèm theo.
- Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh GERD: Hai triệu chứng thường gặp nhất là nóng rát sau xương ức (77,2%) và ợ chua (71,9%); kế tiếp là đau ngực (19,3%), nuốt khó (5,3%), nuốt đau (3,5%) và nôn (1,8%). Điểm GERD-Q trung bình đạt 7,71 ± 1,92 điểm; trong đó 45,6% bệnh nhân có điểm từ 3–7 điểm (khả năng GERD thấp), 45,6% có điểm từ 8–10 điểm kết hợp điểm tác động < 3 (GERD nhẹ) và 8,8% có điểm từ 11–18 điểm. Về kết quả nội soi tổn thương thực quản theo phân loại LA, 96,5% (55 bệnh nhân) ở mức độ LA độ A và 3,5% (2 bệnh nhân) ở mức độ LA độ B; không ghi nhận trường hợp nào tổn thương độ C, D hay biến chứng loét, hẹp, Barrett thực quản. Thời gian mắc bệnh > 12 tháng chiếm đa số với 64,9% (37 bệnh nhân).
- Thực trạng lo âu và trầm cảm theo thang HADS:
- Về lo âu: Tỷ lệ người bệnh bình thường là 57,9% (33 bệnh nhân); có triệu chứng nghi ngờ là 24,6% (14 bệnh nhân); lo âu thực sự là 17,5% (10 bệnh nhân). Tổng tỷ lệ có biểu hiện lo âu (điểm ≥ 8) là 42,1% (24 bệnh nhân).
- Về trầm cảm: Tỷ lệ bình thường là 54,4% (31 bệnh nhân); có triệu chứng nghi ngờ là 24,5% (14 bệnh nhân); trầm cảm thực sự là 21,1% (12 bệnh nhân). Tổng tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm (điểm ≥ 8) là 45,6% (26 bệnh nhân).
- Phối hợp rối loạn: Tỷ lệ người bệnh có ít nhất một biểu hiện rối loạn tâm thần là 47,4% (27 bệnh nhân); trong đó chỉ có duy nhất một biểu hiện lo âu hoặc trầm cảm là 7,0% (4 bệnh nhân) và có đồng thời cả hai rối loạn là 40,4% (23 bệnh nhân).
- Các yếu tố liên quan đến lo âu và trầm cảm:
- Nhóm yếu tố cá nhân (giới tính, BHYT, bệnh nền, thu nhập): Tỷ lệ lo âu và trầm cảm ở nam giới cao hơn nữ giới (lo âu 53,1% so với 28,0%, POR = 2,91; trầm cảm 53,1% so với 36,0%, POR = 2,02); nhóm có bệnh nền có tỷ lệ rối loạn cao hơn nhóm không có bệnh nền (57,1% so với 40,0% và 44,0%); nhóm thu nhập ≤ 6 triệu đồng/tháng có tỷ lệ cao hơn nhóm > 6 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, toàn bộ các khác biệt về đặc điểm cá nhân đều chưa đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
- Nhóm yếu tố đặc điểm bệnh GERD: Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa triệu chứng đau ngực và mức điểm GERD-Q với tình trạng lo âu và trầm cảm:
- Triệu chứng đau ngực: Tỷ lệ lo âu ở nhóm có đau ngực là 72,7% cao hơn rõ rệt nhóm không đau ngực (34,8%), POR = 5,0 (95%CI: 1,16–21,51), p = 0,039. Tương tự, tỷ lệ trầm cảm ở nhóm có đau ngực là 72,7% cao hơn nhóm không đau ngực (39,1%), POR = 4,15 (95%CI: 0,97–17,74), p = 0,044.
- Điểm GERD-Q: Nhóm có điểm GERD-Q < 9 có tỷ lệ lo âu là 23,7%, thấp hơn đáng kể so với nhóm có điểm ≥ 9 là 78,9%, POR = 0,083 (95%CI: 0,02–0,31), p = 0,000. Tỷ lệ trầm cảm ở nhóm điểm < 9 là 26,3%, thấp hơn nhóm điểm ≥ 9 là 84,2%, POR = 0,067 (95%CI: 0,016–0,28), p = 0,000.
- Thời gian mắc bệnh và kết quả nội soi phân loại LA không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với lo âu và trầm cảm (p > 0,05).
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện giải các phát hiện nghiên cứu và đối chiếu với các công trình công bố trong nước và quốc tế:
- So sánh đặc điểm dịch tễ: Tuổi trung bình (41,9) và sự chiếm ưu thế của nam giới (56,1%) phù hợp với các nghiên cứu trong nước của Đoàn Thị Hoài, Nguyễn Cảnh Bình, Trần Việt Hùng; nhưng trẻ hơn so với các nghiên cứu phương Tây của M. Dewit (48 tuổi), Scholten (52,6 tuổi), El-Serag (60–69 tuổi). Tác giả lý giải sự khác biệt này xuất phát từ lối sống, điều kiện kinh tế và xu hướng trẻ hóa của bệnh lý GERD tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Bàn luận về đặc điểm lâm sàng: Tỷ lệ triệu chứng nóng rát sau xương ức (77,2%) và ợ chua (71,9%) phản ánh đúng hai triệu chứng kinh điển có giá trị chẩn đoán lâm sàng cao. Điểm GERD-Q trung bình 7,71 phù hợp với các báo cáo trong khu vực Châu Á (như nghiên cứu của Gong năm 2019 tại Hàn Quốc đạt điểm trung bình 8,0). 100% bệnh nhân nội soi ở mức độ tổn thương nhẹ (LA độ A chiếm 96,5%, LA độ B chiếm 3,5%), không phát hiện biến chứng nặng, điều này củng cố quan điểm của Đồng thuận Lyon rằng tổn thương viêm thực quản độ A rất phổ biến nhưng ít đặc hiệu.
- Phân tích thực trạng lo âu và trầm cảm: Tỷ lệ biểu hiện lo âu (42,1%) và trầm cảm (45,6%) trong nghiên cứu cao hơn so với kết quả của Saleh Mohammad Channa (lo âu 34,8%, trầm cảm 41,8%) và Zhi Xiang On (lo âu 20,7%, trầm cảm 37,2%). Sự khác biệt được phân tích dựa trên sự khác nhau về đặc điểm mẫu, điều kiện kinh tế - xã hội và công cụ sàng lọc.
- Biện giải mối liên quan: Triệu chứng đau ngực gây tâm lý hoang mang, sợ hãi các biến cố tim mạch nguy hiểm, dẫn đến gia tăng nguy cơ lo âu gấp 5 lần và trầm cảm gấp 4,15 lần. Điểm GERD-Q cao phản ánh gánh nặng triệu chứng nặng nề và sự xáo trộn giấc ngủ, tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương thông qua trục ruột - não, giải thích mối liên quan có ý nghĩa thống kê cao (p = 0,000). Ngược lại, tổn thương trên nội soi không tương quan tuyến tính với mức độ lo âu và trầm cảm, ủng hộ giả thuyết cho rằng mức độ khó chịu của triệu chứng GERD chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố nhận thức và tâm lý hơn là tổn thương thực thể tại niêm mạc.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các chỉ số dịch tễ lâm sàng và mối liên quan thống kê then chốt về sức khỏe tâm thần ở người bệnh GERD:
| Chỉ số / Mối liên quan |
Giá trị / Tỷ lệ trong nghiên cứu |
Ý nghĩa thống kê (p) và POR (95% CI) |
| Tổng số đối tượng nghiên cứu (n) |
57 người bệnh (Nam: 56,1%; Nữ: 43,9%) |
— |
| Tuổi trung bình |
41,9 ± 13,7 tuổi (Dao động 22 - 78 tuổi) |
— |
| Tỷ lệ có biểu hiện lo âu (HADS ≥ 8) |
42,1% (Lo âu thực sự: 17,5%; Triệu chứng: 24,6%) |
— |
| Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm (HADS ≥ 8) |
45,6% (Trầm cảm thực sự: 21,1%; Triệu chứng: 24,5%) |
— |
| Tỷ lệ mắc đồng thời cả lo âu và trầm cảm |
40,4% (Có ít nhất một rối loạn: 47,4%) |
— |
| Đau ngực với nguy cơ Lo âu |
Có đau ngực: 72,7% vs Không đau ngực: 34,8% |
POR = 5,00 (1,16 - 21,51); p = 0,039 |
| Đau ngực với nguy cơ Trầm cảm |
Có đau ngực: 72,7% vs Không đau ngực: 39,1% |
POR = 4,15 (0,97 - 17,74); p = 0,044 |
| Điểm GERD-Q với nguy cơ Lo âu |
Điểm < 9: 23,7% vs Điểm ≥ 9: 78,9% |
POR = 0,083 (0,02 - 0,31); p = 0,000 |
| Điểm GERD-Q với nguy cơ Trầm cảm |
Điểm < 9: 26,3% vs Điểm ≥ 9: 84,2% |
POR = 0,067 (0,016 - 0,28); p = 0,000 |
| Giới tính với nguy cơ Lo âu |
Nam: 53,1% vs Nữ: 28,0% |
POR = 2,91 (0,96 - 8,89); p = 0,057 |
| Giới tính với nguy cơ Trầm cảm |
Nam: 53,1% vs Nữ: 36,0% |
POR = 2,02 (0,69 - 5,89); p = 0,198 |
| Kết quả nội soi với Lo âu / Trầm cảm |
LA độ A (40,0% / 43,6%) vs LA độ B (100% / 100%) |
p = 0,173 / p = 0,204 |
Kiến nghị và giải pháp của tác giả:
- Các bác sĩ lâm sàng Tiêu hóa cần chú trọng tầm soát sớm các rối loạn tâm lý cho người bệnh GERD, đặc biệt là những đối tượng xuất hiện triệu chứng đau ngực hoặc có điểm GERD-Q cao (≥ 9 điểm).
- Thiết lập quy trình phối hợp liên chuyên khoa giữa Tiêu hóa và Sức khỏe tâm thần nhằm đưa ra phác đồ điều trị toàn diện, kết hợp thuốc ức chế acid dạ dày với liệu pháp hỗ trợ tâm lý, giải thích rõ cơ chế đau ngực lành tính để giải tỏa lo lắng cho người bệnh.
Đóng góp của khóa luận:
- Đây là một trong những công trình nghiên cứu lâm sàng đầu tiên tại Việt Nam khảo sát đồng thời thực trạng lo âu và trầm cảm trên nhóm người bệnh trào ngược dạ dày thực quản bằng thang đo chuẩn hóa HADS.
- Cung cấp dẫn chứng thực nghiệm tại Bệnh viện E chứng minh rằng mức độ nặng về triệu chứng cơ năng (điểm GERD-Q và đau ngực) có mối liên hệ mật thiết với các rối loạn tâm thần hơn là mức độ tổn thương thực thể quan sát được trên nội soi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định một số hạn chế nội tại đúng như văn bản đã trình bày:
- Hạn chế về thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang nên chỉ phản ánh thực trạng lo âu, trầm cảm tại một thời điểm nhất định, không thiết lập được mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa bệnh trào ngược dạ dày thực quản và các rối loạn tâm thần.
- Hạn chế về công cụ: Kết quả thu được từ thang đo HADS đóng vai trò sàng lọc phát hiện ban đầu các đối tượng có nguy cơ, không có giá trị chẩn đoán xác định bệnh lý tâm thần chuyên khoa thay thế cho khám lâm sàng tâm thần học.
- Hạn chế về mẫu nghiên cứu: Cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ (n = 57 bệnh nhân) và áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện tại một cơ sở y tế duy nhất (Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện E), do đó tính đại diện cho toàn bộ quần thể người bệnh GERD còn hạn chế.
- Hạn chế từ nghiên cứu viên: Nghiên cứu viên là sinh viên thực hiện khóa luận tốt nghiệp, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế trong kỹ năng thu thập và phân tích các chỉ số tâm lý học lâm sàng phức tạp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi ý cần triển khai các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal studies) với cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều trung tâm y tế, đồng thời thực hiện các thử nghiệm can thiệp tâm lý phối hợp trong phác đồ điều trị nội khoa GERD để đánh giá hiệu quả cải thiện lâm sàng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Sinh viên y khoa và học viên sau đại học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về cách xây dựng đề cương, thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp hai chuyên khoa Tiêu hóa và Tâm thần kinh, phương pháp quản lý số liệu y sinh học bằng phần mềm SPSS và cách tính toán các chỉ số thống kê dịch tễ (POR, 95% CI, p-value).
- Bác sĩ chuyên khoa Tiêu hóa và Bác sĩ Đa khoa: Tài liệu cung cấp góc nhìn lâm sàng về trục ruột - não; minh chứng thực tế cho thấy sự cần thiết của việc chủ động khai thác các dấu hiệu lo âu, trầm cảm ở bệnh nhân GERD kéo dài thất bại với điều trị nội khoa thông thường, đặc biệt là nhóm có triệu chứng đau ngực.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Quy trình ứng dụng đồng thời hai thang đo chuẩn hóa (GERD-Q và HADS) tại phòng khám ngoại trú; bảng phân tích các mối liên quan giữa điểm số tác động triệu chứng với tỷ lệ rối loạn tâm thần tại Bảng 3.18, 3.21, 3.22 và 3.25 của văn bản.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ người bệnh GERD đồng thời mắc cả hai rối loạn lo âu và trầm cảm trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Trong số 57 đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện E, có 23 người bệnh có biểu hiện của cả hai rối loạn lo âu và trầm cảm, chiếm tỷ lệ 40,4%. Tỷ lệ có ít nhất một rối loạn tâm thần (hoặc lo âu hoặc trầm cảm) là 47,4% (27 bệnh nhân) và chỉ có 7,0% (4 bệnh nhân) mắc đơn độc một rối loạn.
2. Triệu chứng lâm sàng nào của bệnh GERD có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng lo âu và trầm cảm?
Triệu chứng đau ngực là triệu chứng lâm sàng duy nhất có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với cả lo âu và trầm cảm:
- Đối với lo âu: Nhóm có đau ngực có tỷ lệ lo âu là 72,7% so với 34,8% ở nhóm không đau ngực (POR = 5,0; 95%CI: 1,16–21,51; p = 0,039).
- Đối với trầm cảm: Nhóm có đau ngực có tỷ lệ trầm cảm là 72,7% so với 39,1% ở nhóm không đau ngực (POR = 4,15; 95%CI: 0,97–17,74; p = 0,044).
3. Mức điểm GERD-Q liên hệ như thế nào với nguy cơ xuất hiện lo âu và trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu?
Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan rất chặt chẽ giữa điểm GERD-Q và các rối loạn tâm thần với mức ý nghĩa p = 0,000:
- Người bệnh có điểm GERD-Q < 9 có tỷ lệ lo âu là 23,7%, thấp hơn rõ rệt so với mức 78,9% ở nhóm có điểm GERD-Q ≥ 9 (POR = 0,083; 95%CI: 0,02–0,31).
- Tương tự, tỷ lệ trầm cảm ở nhóm điểm GERD-Q < 9 là 26,3%, thấp hơn rất nhiều so với mức 84,2% ở nhóm điểm GERD-Q ≥ 9 (POR = 0,067; 95%CI: 0,016–0,28).
4. Đặc điểm tổn thương niêm mạc thực quản qua nội soi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu phân bố ra sao?
Theo thang phân loại Los Angeles (LA), đa số người bệnh mắc GERD ở giai đoạn nhẹ: 96,5% (55 bệnh nhân) thuộc LA độ A và 3,5% (2 bệnh nhân) thuộc LA độ B. Nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào ở giai đoạn tổn thương nặng (LA độ C, độ D) hoặc có các biến chứng như loét thực quản, hẹp thực quản hay Barrett thực quản.
5. Thang đo HADS phân định các mức độ lo âu và trầm cảm dựa trên những ngưỡng điểm nào?
Thang đo HADS gồm 14 câu hỏi (7 câu cho lo âu, 7 câu cho trầm cảm), mỗi câu cho điểm từ 0 đến 3 (tối đa 21 điểm cho mỗi phân thang). Kết quả được phân loại theo 3 ngưỡng điểm: từ 0 đến 7 điểm là bình thường; từ 8 đến 10 điểm là có triệu chứng nghi ngờ lo âu hoặc trầm cảm; từ 11 đến 21 điểm là lo âu hoặc trầm cảm thực sự.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Minh Tùng đã xác định được thực trạng đáng lưu tâm về sức khỏe tâm thần ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Bệnh viện E năm 2021 với tỷ lệ có biểu hiện lo âu là 42,1% và trầm cảm là 45,6%. Phân tích thống kê chỉ ra rằng triệu chứng đau ngực và mức điểm GERD-Q cao (≥ 9 điểm) là các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm gia tăng nguy cơ lo âu và trầm cảm, trong khi các yếu tố nhân khẩu học và mức độ tổn thương thực quản trên nội soi không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học thực tiễn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá toàn diện các yếu tố tâm lý trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản tại các cơ sở y tế.