mở đầu là vào năm 982, vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) tiến đánh Champa, vua Indravarman IV phải bỏ chạy vào Nam. Lê Hoàn đã bất giữ nhiều binh sĩ cung nữ có đến trăm người, một nhà sư người Thiên Trúc (Ấn Ðộ), lấy các đổ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể đến hàng van [24 : 222]. Cuộc viễn chỉnh tương tự tuy ở mức độ nhỏ hơn nhưng diễn ra dài dài. Trong quan hệ ngoại giao với Champa đôi lúc là mối quan hệ giao hao, Chẳng hạn năm 992, vua Lê đã cho thả 360 tù binh người Chiêm đã bị bắt ở châu Địa Lý năm trước đem về châu Ô Lý (nay là Quảng Bình, Thừa Thiên) (24 : 227].
Để kiểm soát ranh giới giữa hai nước cũng như ngăn chặn sự cướp phá của Chiêm Thành, Lê Đại Hành đã sai phụ quốc là Ngô Tử An đem ba vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới (cửa Sót, ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay) đến châu Địa Lý (đất Chiêm miền Quảng Bình ngày nay) [24 : 227]. Đây là con đường bộ đầu tiên nước ta chánh thức khai thông để vào đất Chiêm Thành vào năm 992. Để tỏ rõ không yếu thế về quân sự, Champa có những hoạt động cướp phá. Chẳng han năm 997, Chiêm Thanh đem quân dòm ngó biên giới nước ta [24 : 229].
Chính vì con đường bộ được mở giữa Việt Nam và vương quốc Champa làm cho người Chăm lo ngại. Họ đã rời bỏ thủ đô Indrapura (Trà Kiệu ngày nay) vì nó đã ở trong tình trạng dễ dàng bị tấn công. Cuối thế kỷ X, Chiêm Thành dời đô về Trà Bàn (vij aya). Từ triểu Lý nền độc lập đã vững vàng, nên các triểu đại ta đều muốn mở rộng đất đai về phía Nam.
Còn Chiêm Thành, trong nhiều thế kỷ, nhiều người Chăm bị bất trong chiến tranh, vua bị giết, kinh đô bị tin phá nên họ có mối thâm thù đối lập. Mặt khác họ vốn là dân hải đảo nên bản tính hung bạo, hiếu chiến luôn tìm mọi cách cướp phá, xâm lãng Đại Việt. Muốn vậy họ phải dựa thế vào Trung Quốc bằng cách thần phục và triểu cống. Điều đó khiến hai quốc gia Chiêm - Việt luôn diễn ra tranh chấp.
Năm 1043, Chiêm Thành sang cướp bóc ven biển. Năm 1044, vua Lý Thái Tông thân chỉnh đi đánh Chiêm Thành tiến quân vào thành Phật Thệ, bắt hậu, phi của Sa Dau (jaja Simhavarman Il) và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên. Diéu đó chứng tỏ quân đội Chiêm Thành tỏ ra yếu thế. vua Lý Thánh Tông thân chính đánh Chiêm Thành bắt được vua nước này là Chế Củ (Rudravarman IV).
Sau đó Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý (nay là đất huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình), Ma Linh (nay là đất huyện Bến Hải, tinh Quảng Trị), Bố Chính (nay là đất các huyén Quảng Trach, Bố Trach, Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Binh) để chuộc tội. Vua bằng lòng, tha cho Chế Củ về nước [24 : 274). Như vậy là sau cuộc tiến công của người Việt, ba châu của người Chăm bị sáp nhập vào Việt Nam, sẽ trở thành tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay. Năm 1075, vua Lý cho đổi -12- Luận vấn tối nghwẻ p› GOD : Le Haguh Hoa châu Địa Lý làm chau Lam Bình, chau Ma Linh làm chau Minh Linh, chiều mô dan chúng đến ở [24 : 78}.
Cũng từ đó chiếu chiêu mộ di dan được ban hành. Đáp ứng chiếu ấy. nhiều người đã từ Bắc, đa số ho là người Nghé An bat đầu di dân đến đất này khai khẩn làm ăn, những người cùng một họ (tộc) thường tu tập một nơi rồi lập thành một làng (xã). Người ta thấy có những làng mà tiếng Nôm gọi là “nhà Phan” và tên chữ là xã Phan Xá.
Nôm gọi là “nhà vàng” và tên chữ là xã Hoàng Xá, các làng ấy đã được thành lập ở châu Lâm Bình, châu Minh Linh. Còn ở châu Bố Chính thì không có những làng lấy tên họ mà đặt như thế. Cadière một học giả người Pháp đã dày công tìm tòi vé địa lý, lịch sử trong tỉnh Quảng Bình thì đáp ứng tờ chiếu di dân lập ấp của vua Lý Nhân Tông, nhiều người đã di cư vào Nam lập nghiệp, nhưng ho không đừng ở châu Bố chính mà đi thẳng vào Lâm Bình là nơi đất thấp và phì nhiêu hơn. Vì vậy Lâm Bình được khai khẩn sớm hơn Bố Chính.
Châu này đến đời Lê Thánh Tông mới chiêu dân đến ở [35 : 47-48]. Tóm lại đến đời nhà Lý, lãnh thé được mở rộng đến nửa tỉnh Quảng Trị ngày nay và Chiêm Thành đã mất phẩn đất cực Bắc nơi có vị trí quan trọng trong việc phòng thủ. Đến đời nhà Trần, Chiêm Thành cũng sai sứ sang cống nhưng thỉnh thoảng sang quấy phá ven biển và đòi lại ba châu đã cất nhượng. Năm 1252, vua Trấn Thái Tông đem quân tiến đánh Chiêm Thành bất được vợ của vua Chiêm Thành là Bố dala, nhiều than thiếp và nhân dan rồi vé [25 : 24].
Vào nam 1306, 2 châu O và Lý được vua Chăm là Chế Mân dâng cho Việt Nam làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân [25 : 91]. Đến năm 1307 vua Anh Tông cho đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận và Hóa. Vùng này, trong một thời gian dài trở thành vùng tranh chấp, diễn ra các cuộc chiến giữa hai vương quốc để giành ưu thế. Người Chiêm đã mất cánh đồng Bình Trị Thiên và mất thêm hai cửa biển là cửa Tư Dung (nay là Tư Hiển) và cửa biển của miễn Amaravati (Indrapura).
Từ đó, Chiêm Thành liên tục cướp phá nước ta. Năm 1368 Chiêm Thành sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất biên giới Hóa Châu [25 : 145]. Dưới triểu vua Chiêm Thành là Chế Béng Nga, nước Champa trở nên hùng mạnh, Vào thời này, người Cham trở thành mối de dọa thực sự đối với sự tổn tại của triểu đại Hậu Trần của Đại Việt. Chẳng hạn năm 1371, Chế Bồng Nga đem quân cướp phá Thăng Long, vua Nghệ Tông phải đi thuyển sang Đông Ngàn tránh [25 ; 154).
Để chuẩn bị cho việc phản công lại, vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377) đã xuống chiếu cho Thanh Hóa, Nghệ An đào con kênh từ đó đến cửa biển Hà Hoa (nay là huyện Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh tới phía bắc dãy Hoành Sơn, biên giới truyền thống giữa Champa và Việt Nam [25 : 159]. Nhưng cuộc tiến công của vua Trần Duệ Tông thất bại vào năm 1377, Champa lai một lan nữa cướp phá Thăng Long vào năm 1377. Trước sự tấn công của Chế Bồng Nga, nhiều nhà vua Việt Nam đã phải chạy trốn và nhiều tướng lĩnh cẩm quân kể cả Hồ Quý Ly đã liên tiếp lui quân khi quân giáp trận với họ. Người dân thường nơm nớp lo sợ và nắm 1383 người Chiêm còn tới chiếm giữ ˆ ~-lÄ- Luân van tắt nghiép GORD : Lé Haguh Hoa trấn Quảng Oai (nay là huyện BaVi, Hà Nội) trọn sáu tháng trời.
thương hoàng Tran Nghệ Tông phải lánh sang sông Đông Ngàn. Vùng tranh chấp lúc này giữa hai quốc gia là hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An của Dai Việt. Đây là các biến cổ đe dọa một cách trầm trọng sự tổn tại của nước Đại Việt. Đến năm 1390, do tướng Trần Khát Chân đại thắng quân Chiêm Thành ở Hải Triéu giết được Chế Bong Nga [25 : 180].
Từ đó Chiêm Thành không còn hùng cường nữa, lịch sử bang giao giữa hai nước lật sang trang mới. Để có thể thiết lập quyển bính thực sự cũng như tránh mối de dọa từ phía người Chăm và kinh nghiệm năng né từ cuối thế kỷ XIV, Hỗ Quý Ly thấy cần phải có sự kiểm soát chặt chẻ. Vì thế ông đã thiết lap một hệ thống hành chính xuống tận cấp huyện trên các vùng đất mới giành được. Nhà Hồ nghĩ rằng chỉ có cách đẩy lui ranh giới Việt - Chăm xuống phía Nam mới tránh được cuộc tiến công của người Chăm vào kinh đô thăng Long, ông đã cho đặt lực lượng quân sự ở Thanh Hóa và Nghệ An, đây là biện pháp có tính chiến lược.
Từ năm 1400 đến 1404 các chiến dịch quân sự đã đẩy ranh giới Việt - Chăm tới tận tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Để chuẩn bị một cuộc tiến công quy mô lớn vào Chiêm Thành, vào năm 1402, Hồ Hán Thương đã sai sửa đường sá từ thành Tây Đô đến Hóa Châu, gọi là Thiên Lý Cù, dọc đường đặt phố xá và trạm truyền thư. Hồ Hán Thương đem đại quân đi đánh Chiêm Thành. Chúa Chiêm Ba Dich lại sợ dâng đất Chiêm Đông(là đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Qué Sơn, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam- Đà Nắng ngày nay) ; động Cổ Lũy (là đất các huyện Binh Son, Son Tỉnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).
Họ Hồ chia đất Chiêm Động và Cổ Liy Đông làm bốn châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghia. Dat An phủ sứ và An phủ phó sứ lộ Thãng Hoa để cai trị, còn ở đầu nguồn đất ấy thì đặt trấn Tân Ninh (là vùng các con sông Thu Bồn, Vu Da ở miễn Tây tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay). Sau khi nhường đất cho ta, Chiêm Thành lấy những dân phụ cận đưa về nước. Người ở lại thì bổ làm quân đóng ở biên giới [25 : 203].
Để bảo đảm quyển cai trị của Việt Nam, chính quyển nhà Hé đã hạ lệnh cho dân Việt giàu có mà không có ruộng đất ở Nghệ An, Thuận Hóa đem vợ con vào để khai khẩn. Để ngăn chặn sự quay trở lại của các di dân người Việt, nhà Hồ đã ra lệnh các thường dân phải thích hai chữ tên châu mình trên cánh tay, điểu này trước đây chỉ áp dụng với các phạm nhân. Nhà Hồ lại mộ người có trâu đem nạp thì cấp cho phẩm tước, để lấy trâu cấp phát cho dân cày. Vào thời nhà Minh xâm lược, các vùng Quảng Nam - Quảng Ngãi mà Hỏ Quý Ly giành được bị mất vào tay người Chăm.
Dù là triểu đại ngắn ngũi nhất trong lịch sử nước nhà, nhưng triểu đại Hồ Quý Ly (1400 - 1407) có đóng góp to lớn, mở đường cho công cuộc Nam tiến sau này. Dưới triểu Lê. Chiêm Thành môt mặt than phuc, triều cống nhưng cũng tiến hành các cuộc viễn chính, ruồng bố cướp phá nước ta. Năm 1434, nhân dip vua Lê Thái Tông mới lên ngôi còn nhỏ, vua Chiêm Thành là Bổ Để đem quân cướp bắt người ở Hóa =.
Luân vin tốt ngluép› GOVWD : Đà Waujnh Hoa Châu, sai thuyển vào cửa Việt (tỉnh Quảng Tri) chực mưu vào cướp phá [25 : 314], Đến tháng 4 nam 1445, Chiêm Thành lại vào cướp thành An Dung của Châu Hóa [25 : 355|.