Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CHOLESTEATOMA 1. Trên thế giới Cholesteatoma được phát hiện và mô tả lần đầu tiên năm 1828 bởi nhà bệnh học người Pháp Cruveihier, với tên gọi là “U lóng lánh” [1]. Đến 1838 nhà sinh lý học người Đức Johannes Muller đã đặt tên cho chúng là cholesteatoma.
Năm 1855, Virchow coi cholesteatoma là một khối u phát sinh từ việc dị sản của các tế bào trung mô để thành tế bào biểu mô dạng biểu bì phát triển trong ống tai. Năm 1868 Von Trolsch cho rằng cholesteatoma là dạng cô đặc của dịch dỉ viêm của niêm mạc tai giữa viêm mạn tính, mủ cô đặc được bao quanh bởi phản ứng bong vảy của niêm mạc tai giữa. Năm 1889 Habermann đã mô tả hiện tượng viêm thượng nhĩ trong viêm tai xương chũm mạn tính, sau đó ông nghiên cứu nguyên nhân viêm tai xương chũm mạn tính có cholesteatoma. Năm 1890 Bezold cho là biểu bì vảy có thể lọt vào tai giữa qua lỗ thủng và phát triển thành cholesteatoma.
Năm 1933 Wittmack đã đưa ra giả thuyết về sự hình thành cholesteatoma thượng nhĩ trong viêm tai xương chũm mạn tính, mặc dù ông chưa chỉ rõ vai trò của vòi nhĩ làm giảm sự thông khí [1]. Năm 2014 của Armentano và CS cho biết đã có bằng chứng về cholesteatoma của vùng tai ngay từ thời tiền sử (900-800 năm trước công nguyên) được tìm thấy ở bộ xương phụ nữ hóa thạch trong di tích khảo cổ của La Cova des Pas nằm trên đảo Minorca, ở phía tây Địa Trung Hải [20]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, các cholesteatoma chỉ được chẩn đoán khi đã có biểu hiện ra bên ngoài, các phẫu thuật được tiến hành bằng mở xương chũm và quan sát tổn thương bằng mắt thường [21]. Ở Việt Nam Năm 1957, Nguyễn Năng Kỳ đã nhận xét về những dấu hiệu điện quang của cholesteatoma ở bệnh tai người Việt Nam chụp kiểu Schuller [22].
Năm 1996, Nguyễn Thu Hương bước đầu tìm hiểu về cholesteatoma trong viêm tai xương chũm mạn tính [23]. Năm 2000, Nguyễn Tấn Phong đã đưa ra một giả thuyết về sự hình thành cholesteatoma thượng nhĩ [1]. Năm 2003, Lê Hồng Ánh đã nghiên cứu về hình thái lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm thượng nhĩ [24]. Năm 2005, Nguyễn Xuân Nam đã nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và hình ảnh CLVT cholesteatoma tai [25].
Năm 2006, Lê Văn Khảng đã nghiên cứu về đặc điểm cắt lớp vi tính của viêm tai cholesteatoma [26]. Năm 2011, Nguyễn Anh Quỳnh đã nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị viêm tai cholesteatoma trẻ em [27]. GIẢI PHẪU XƯƠNG CHŨM 1. Tai giữa Tai giữa nằm giữa tai ngoài và tai trong, gồm có hòm nhĩ và vòi nhĩ 1.
Hòm nhĩ Hòm nhĩ là một khoảng trống chứa không khí, nằm trong xương thái dương. Hòm nhĩ giống như một thấu kính 2 mặt lõm có 6 thành nằm theo mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phẳng dọc đứng chếch từ trước ra sau. Hòm nhĩ được chia làm ba phần: Thượng nhĩ, trung nhĩ và hạ nhĩ [28]. - Thành trên: Còn gọi là trần hòm tai, là lớp xương mỏng ngăn cách tai giữa với não.
Trong một số ít trường hợp, lớp xương này bị hở dọc theo đường khớp đá tai trong và khi đó niêm mạc tai giữa liên hệ trực tiếp với màng não. Nhiễm trùng của tai giữa có thể lan truyền đến màng não qua trần hòm tai. - Thành dưới: (Thành tĩnh mạch cảnh) còn gọi là sàn hòm tai, là một mảnh xương hẹp, mỏng ngăn cách hòm tai với hố tĩnh mạch cảnh. Sàn thấp hơn thành dưới ống tai ngoài độ 3-4 mm tạo thành hố lõm gọi là ngách hạ nhĩ.
Dây thần kinh nhĩ (Jacobson) nhánh của dây thần kinh số IX chui qua thành này vào hòm tai. Thành trong hòm nhĩ [29] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Thành trong (Thành mê đạo) liên quan trực tiếp cấu trúc của tai trong, ở thành này có: + Ụ nhô: Là một lồi tròn do vòng thứ nhất của ốc tai tạo nên. Trên mặt ụ nhô có những rãnh nhỏ (rãnh ụ nhô), có các nhánh của đám rối nhĩ thuộc thần kinh nhĩ, nhánh của thần kinh lưỡi hầu. + Cửa sổ ốc tai (cửa sổ tròn): ở phía sau ụ nhô được đậy bởi màng nhĩ phụ.
+ Cửa sổ tiền đình hay cửa sổ bầu dục: ở phía sau trên ụ nhô, có đế xương bàn đạp gắn vào. + Hõm nằm giữa cửa sổ tròn và cửa sổ bầu dục gọi là xoang nhĩ liên quan đoạn bóng của ống bán khuyên sau. + Lồi thần kinh mặt: Do đoạn II của ống thần kinh mặt tạo nên, chạy từ trước ra sau, ở phía trên cửa sổ tiền đình rồi uốn cong xuống thành chũm hòm tai, lớp xương bọc thần kinh mặt ở đây rất mỏng nên khi viêm tai giữa thần kinh mặt có thể bị tổn thương. + Lồi ống bán khuyên ngoài: Nằm phía trên lồi thần kinh mặt.
+ Mỏm hình ốc: Nằm phía trên ụ nhô, có gân cơ căng màng tai (cơ búa) thoát ra đỉnh mỏm. - Thành ngoài (Thành màng): Gồm có hai phần: + Phần trên xương tường thượng nhĩ. + Phần dưới là màng tai, bờ của màng tai gắn vào rãnh nhĩ bởi vòng sụn xơ. Giữa thành màng và thành động mạch cảnh có ống dây thừng nhĩ để thần kinh nhĩ hòm tai thoát ra.
+ Màng nhĩ: Hình bầu dục lõm ở giữa ngả phía trước, phía ngoài màng nhĩ có ba lớp, lớp ngoài biểu mô, giữa là lớp xơ và trong là lớp niêm mạc. Đường kẻ dọc theo cán búa và đường kẻ vuông góc với đường trên ở rốn nhĩ chia màng nhĩ thành 4 phần không đều nhau. Góc sau dưới là nơi chích rạch màng nhĩ tháo mủ khi VTG có mủ (nhất là VTG cấp mủ). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Thành trước (Thành động mạch cảnh): Rộng phía trên hơn ở dưới.
Thành này có ống cơ căng màng tai (ống cơ búa) ở trên, lỗ hòm tai của vòi tai ở dưới. Dưới lỗ hòm tai của vòi tai là vách xương mỏng ngăn cách hòm tai với động mạch cảnh trong, vì vậy khi viêm tai giữa (VTG) có thể bị đau tai theo nhịp mạch đập. Thành ngoài của hòm nhĩ [29] - Thành sau hay hang chũm: + Ở trên có sào đạo thông với sào bào. + Phía dưới ngách thượng nhĩ là mỏm tháp có gân cơ bàn đạp chui ra tới bám vào cổ xương bàn đạp.
+ Phía sau hòm nhĩ của phần xương chũm có đoạn 2 và đoạn 3 của dây thần kinh mặt nằm trong ống Fallope. Giữa đoạn 2 và 3 có khuỷu dây VII hình vòng cung, đoạn 3 của dây thần kinh IV đi xuống dưới chếch ra ngoài. * Hòm tai được chia làm 3 phần: - Thượng nhĩ: là một phần của tai giữa, nằm phía trên mỏm ngắn xương búa, có hệ thống xương con (đầu xương búa, thân xương đe) và dây chằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 treo búa, đe chia thượng nhĩ thành 2 ngăn, ngăn ngoài và ngăn trong, chỉ có ngăn trong thông xuống hạ nhĩ. + Thượng nhĩ ngoài: có dây chằng cổ xương búa chia làm 2 ngăn, ngăn trên Kretschaman, ngăn dưới là Prussack.
+ Thượng nhĩ trong: liên quan với sào đạo ở phía sau và tầng dưới của hòm nhĩ ở phía truớc. + Thượng nhĩ rất kém thông khí, là nơi dễ hình thành túi co kéo, liên quan đến sự hình thành Cholesteatoma thượng nhĩ. - Trung nhĩ: Nằm giữa thượng nhĩ và hạ nhĩ, ngang mức cán xương búa ở trên và ngang mức bờ dưới ống tai ngoài ở dưới. - Hạ nhĩ: ở phía dưới trung nhĩ, là phần thấp nhất của hòm nhĩ, ít khi liên quan đến bệnh tích Cholesteatoma.
Vòi nhĩ (Eustachi) Là một ống sụn xương nối liền hòm nhĩ và vòm mũi họng. Vòi nhĩ có tác dụng làm cân bằng áp lực ở hai phía cả màng nhĩ đảm bảo cho sự hoạt động của hệ thống màng nhĩ xương con, đồng thời nhờ vòi nhĩ mà các chất dịch trong hòm nhĩ được dẫn lưu xuống họng. Điểm khác biệt giữa vòi nhĩ trẻ em và người lớn: - Độ dài vòi ở trẻ em bằng 1/2 vòi tai người lớn. - Lỗ vòi trẻ em rộng hơn, nằm ngang hơn và thấp hơn do đó vi khuẩn và dịch dễ trào ngược vào tai hơn gây ra bệnh tích VTG và VTXC.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Xương chũm Xương chũm là một phần của xương thái dương, có hình tháp cụt, đỉnh quay xuống dưới, đáy ở trên, xương chũm nằm sau ống tai ngoài, hòm nhĩ và mê đạo. Xương chũm gồm có 6 mặt [28]. - Mặt trước: Xương chũm liên quan với ống tai ngoài và dây thần kinh số VII (đoạn 3).
- Mặt sau: Xương chũm liên quan với tĩnh mạch bên ngoài tiểu não. - Mặt ngoài: Là mặt phẫu thuật vào xương chũm và được giới hạn bởi: + Phía trên là đường thái dương + Phía dưới là bờ tự do của xương chũm. + Phía trước là ống tai ngoài. + Phía sau là đường nối đá chẩm.
Mốc giải phẫu quan trọng để phẫu thuật vào xương chũm là gai Henlé, nằm sau trên ống tai xương, phía trước vùng sàng Chipault. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Phần sau dưới của mặt ngoài gồ ghề là chỗ bám của cơ ức đòn chũm, ở phía sau chỗ bám cơ ức đòn chũm có lỗ ngoài của ống chũm, ống này chứa tĩnh mạch liên lạc, nối liền tĩnh mạch trong sọ với hệ thống tĩnh mạch cổ bên ngoài. - Mặt trong: Nối tiếp với xương đá. - Mặt trên: Nền tháp liên hệ với tầng sọ giữa thuỳ thái dương.
- Mặt dưới: Nhìn thẳng xuống cổ gồm có hai phần hình tam giác. + Phần tam giác phía trong: Hướng từ sau ra trước theo bình diện đứng và được coi là bờ ngoài của rãnh cơ nhị thân. + Tam giác nhị thân Mouret: Nhìn thẳng xuống cổ, đỉnh của tam giác là lỗ trâm chũm, hai cạnh là rãnh cơ nhĩ thân ở bên ngoài và rãnh chẩm ở bên trong, đáy của tam giác là đường nối liền cực sau của rãnh nhị thân với cực sau rãnh chẩm ở phần sau của tam giác Mouret, có cơ nhị thân bám vào. Tam giác nhị thân Mouret có liên quan mật thiết với nhóm tế bào dưới sào bào sâu của xương chũm.
Vì vậy bệnh tích của xương chũm có thể gây xuất ngoại ở vùng này (VTXC xuất ngoại thể Mouret). Xương chũm hình thể ngoài giải phẫu liên quan [29] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.