Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt

Luận án tiến sĩ phân tích lâm sàng, xét nghiệm và điều trị lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt, cung cấp cái nhìn sâu sắc về bệnh lý.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2015

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát chung về bệnh LXMKDH

1.2. Cơ chế bệnh sinh của bệnh máu ác tính

1.3. Biểu hiện lâm sàng của LXM cấp chuyển từ LXMKDH

1.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán LXMKDH

1.5. Xếp loại LXM cấp

1.6. Điều trị LXMKDH

1.7. Tình hình nghiên cứu về lơ xê mi cấp chuyển từ LXMKDH tại Việt Nam

1.8. Tình hình nghiên cứu LXM cấp chuyển từ LXMKDH trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Nội dung và biến số nghiên cứu

2.2.3. Các kỹ thuật xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu

2.2.4. Quy trình nghiên cứu

2.2.5. Các tiêu chuẩn đánh giá

2.3. Vật liệu nghiên cứu

2.4. Phương tiện dụng cụ

2.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.6. Đạo đức y học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

3.1.1. Số bệnh nhân nghiên cứu

3.1.2. Phân bố theo tuổi

3.1.3. Phân bố theo giới

3.2. Kết quả về đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm huyết học và xếp loại thể bệnh

3.3. Kết quả điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh nhân lơxêmi cấp chuyển từ LXMKDH

3.3.1. Đặc điểm tuổi và giới nhóm bệnh nhân điều trị hóa chất tấn công

3.3.2. Phân bố thể bệnh nhóm bệnh nhân điều trị

3.3.3. Kết quả điều trị tấn công LXM cấp dòng tủy chuyển từ LXMKDH

3.3.4. Kết quả điều trị tấn công lơ xê mi cấp dòng lympho chuyển từ lơ xê mi kinh dòng hạt

3.3.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị tấn công của bệnh nhân lơ xê mi cấp chuyển từ LXMKDH

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm về giới tính

4.1.2. Đặc điểm về tuổi

4.2. Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm huyết học và xếp loại thể bệnh

4.2.1. Đặc điểm lâm sàng khi vào viện

4.2.2. Đặc điểm xét nghiệm huyết học bệnh nhân giai đoạn lơ xê mi cấp

4.2.3. Đặc điểm bất thường nhiễm sắc thể và gen

4.2.4. Xếp loại lơxêmi cấp sau lơxêmi kinh dòng hạt bằng phương pháp hình thái, hóa học tế bào và miễn dịch

4.3. Kết quả điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh nhân lơxêmi cấp chuyển từ LXMKDH

4.3.1. Kết quả điều trị về lâm sàng bệnh nhân LXM cấp chuyển từ LXMKDH

4.3.2. Đặc điểm một số chỉ số xét nghiệm huyết học trước và sau điều trị hóa chất tấn công

4.3.3. Đáp ứng điều trị hoá chất tấn công bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy chuyển từ LXMKDH

4.3.4. Đáp ứng điều trị hoá chất tấn công bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng lympho chuyển từ LXMKDH

4.3.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị tấn công bệnh nhân LXM cấp chuyển từ LXMKDH

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt

Lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt (LXMKDH) là một trong những bệnh lý ác tính của hệ tạo máu. Bệnh này thường diễn ra qua ba giai đoạn: mạn tính, tăng tốc và chuyển cấp. Giai đoạn chuyển cấp là giai đoạn cuối cùng, khi bệnh nhân có thể gặp nhiều triệu chứng nghiêm trọng hơn. Việc hiểu rõ về bệnh lý này là rất quan trọng để có thể chẩn đoán và điều trị kịp thời.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của lơxêmi cấp

Lơxêmi cấp thường có các triệu chứng như thiếu máu, xuất huyết, nhiễm trùng và các biểu hiện khác. Các triệu chứng này có thể nặng hơn so với giai đoạn trước, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

1.2. Cơ chế bệnh sinh của lơxêmi cấp chuyển từ LXMKDH

Cơ chế bệnh sinh chủ yếu liên quan đến sự xuất hiện của nhiễm sắc thể Philadelphia (NST Ph1) và gen bcr-abl. Sự hoạt hóa của gen này dẫn đến sự tăng sinh không kiểm soát của tế bào máu, gây ra các triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị lơxêmi cấp

Điều trị lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt gặp nhiều thách thức. Các phương pháp điều trị hiện tại chủ yếu là hóa trị liệu, nhưng hiệu quả không cao. Bệnh nhân thường có tiên lượng xấu, với thời gian sống thêm ngắn.

2.1. Những khó khăn trong chẩn đoán sớm

Chẩn đoán sớm lơxêmi cấp là rất quan trọng nhưng thường gặp khó khăn do triệu chứng không rõ ràng. Việc phát hiện NST Ph1 và các bất thường khác là cần thiết để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

2.2. Tiên lượng điều trị và các yếu tố ảnh hưởng

Tiên lượng điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân. Các yếu tố này có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị và khả năng hồi phục.

III. Phương pháp điều trị lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt

Phương pháp điều trị lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt bao gồm hóa trị liệu và ghép tế bào gốc. Các phác đồ điều trị thường được áp dụng nhằm mục tiêu đạt được lui bệnh hoàn toàn.

3.1. Hóa trị liệu tấn công

Hóa trị liệu tấn công là phương pháp chính trong điều trị lơxêmi cấp. Các thuốc như daunorubicin và cytarabin thường được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư và cải thiện tình trạng bệnh nhân.

3.2. Ghép tế bào gốc

Ghép tế bào gốc là một phương pháp điều trị tiềm năng cho bệnh nhân lơxêmi cấp. Phương pháp này giúp tái tạo lại hệ thống tạo máu và có thể cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt đã chỉ ra nhiều kết quả quan trọng. Việc áp dụng các phương pháp điều trị mới có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị cho bệnh nhân.

4.1. Kết quả điều trị hóa chất

Kết quả điều trị hóa chất cho thấy tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn ở bệnh nhân lơxêmi cấp chuyển từ LXMKDH có thể đạt được nếu được điều trị kịp thời và đúng phương pháp.

4.2. Ứng dụng các phương pháp mới

Việc nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp điều trị mới như thuốc ức chế tyrosin kinase đã mang lại hy vọng cho bệnh nhân lơxêmi cấp, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu lơxêmi cấp

Nghiên cứu lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt cần được tiếp tục để tìm ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều tiến bộ trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo sẽ giúp làm rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và tìm ra các phương pháp điều trị mới, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị lơxêmi cấp

Các nghiên cứu mới về gen và liệu pháp điều trị nhắm mục tiêu có thể mở ra hướng đi mới trong điều trị lơxêmi cấp, mang lại hy vọng cho bệnh nhân.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng xét nghiệm phân loại và kết quả điều trị tấn công lơxêmi cấp chuyển từ lơxêmi kinh dòng hạt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỆNH LXMKDH LXMKDH (Chronic Myeloid Leukemia - CML) là bệnh ác tính hệ tạo máu, đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức dòng bạch cầu hạt đã biệt hoá, hậu quả là số lượng bạch cầu hạt tăng cao ở máu ngoại vi với đủ các lứa tuổi dòng bạch cầu hạt. Đây là một trong bốn bệnh thuộc hội chứng tăng sinh tủy, bao gồm: (1) LXMKDH; (2) Đa hồng cầu tiên phát (Bệnh Vaquez); (3) Lách to sinh tuỷ (Xơ tuỷ vô căn); (4) Tăng tiểu cầu tiên phát. Các bệnh tăng sinh tuỷ mạn có biểu hiện bệnh lý khác nhau nhưng chúng đều do tổn thương tế bào gốc.

Trong quá trình bệnh lý, các bệnh trong hội chứng tăng sinh tuỷ có mối liên quan rất chặt chẽ với nhau, có sự chuyển đổi qua lại và đều có thể kết thúc bằng một LXM cấp [1]. LXMKDH được mô tả lần đầu tiên năm 1845 bởi Bennett và Virchow dựa trên những bệnh nhân lách to, thiếu máu và tăng cao bạch cầu trong máu. Năm 1960 ghi nhận một sự kiện rất quan trọng là Nowel và Hunggerfort phát hiện ra sự bất thường của nhiễm sắc thể nhóm G trên các bệnh nhân LXMKDH, đặt tên là NST Philadelphia (tên thành phố nơi hai ông tìm ra), viết tắt là NST Ph1. Năm 1973, bằng kỹ thuật nhuộm băng NST dùng Quinacrine và Giemsa, Rowley khám phá ra NST Ph1 là kết quả của chuyển đoạn nhánh dài giữa NST số 9 và NST số 22.

Năm 1985 người ta đã chứng minh được kết quả của sự chuyển đoạn tạo nên NST Ph1 làm hình thành gen hỗn hợp bcr-abl và sản phẩm mã hoá của gen này là protein P210 bcr-abl có hoạt tính tyrosine kinase cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 LXMKDH là một bệnh lý nhiều giai đoạn, thường diễn biến qua ba giai đoạn [2], [3], [4]. Giai đoạn mạn tính Giai đoạn tăng tốc Giai đoạn LXM cấp (1) (2) (3) LXM kinh điển hình Những cơn blast LXM cấp thực sự Sơ đồ 1. Các giai đoạn LXMKDH (1) giai đoạn mạn tính (chronic phase): Đặc trưng của giai đoạn này là có các triệu chứng của một LXM kinh điển hình (2) giai đoạn tăng tốc (accelerated phase): Đặc trưng là trên nền của LXM kinh xuất hiện những cơn blast (blastic crisis) (3) giai đoạn LXM cấp thực sự (overt acute leukemia): Đặc trưng là thể hiện thành một LXM cấp.

CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA BỆNH MÁU ÁC TÍNH 1. Sinh tế bào máu bình thường và bệnh máu ác tính Các tế bào máu gồm hồng cầu, các loại bạch cầu và tiểu cầu được cơ quan tạo máu sinh ra hàng ngày để thực hiện chức năng nuôi dưỡng, bảo vệ cơ thể. Cơ quan tạo máu ở người trưởng thành chủ yếu là tủy xương; ngoài ra hệ thống hạch bạch huyết, tuyến ức cùng tham gia vào quá trình tạo máu. Cấu tạo của cơ quan tạo máu là tổ chức tạo máu còn gọi là vi môi trường sinh máu và tế bào gốc tạo máu.

Quá trình sinh tế bào máu là quá trình tăng sinh tức là nhân lên của tế bào gốc kèm theo hiện tượng biệt hóa và trưởng thành để hình thành nên các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tế bào chức năng. Các tế bào máu thực hiện chức năng là những tế bào đã biệt hóa và trưởng thành thông qua nhiều gian đoạn. Mỗi gian đoạn trong quá trình sinh tế bào máu có những sự trưởng thành nhất định, thể hiện bằng các protein đặc trưng. Quá trình sinh tế bào máu được kiểm soát chặt chẽ, thông qua cơ chế điều hòa sinh máu.

Cơ chế điều hòa sinh máu hết sức phức tạp nhằm đảm bảo sinh vừa đủ số lượng tế bào theo yêu cầu của cơ thể. Một sự bất thường trong tạo máu do các nguồn gốc khác nhau làm cho tế bào nhân lên quá mức mất sự kiểm soát bình thường của cơ thể hay nhân lên mà không biệt hóa, trưởng thành được đó là hiện tượng ác tính và hậu quả là bệnh máu ác tính. Sự tăng sinh mất kiểm soát kèm theo có hay không ức chế biệt hóa, trưởng thành có thể xảy ra ở các tế bào dòng tủy hay dòng lympho - vì vậy người ta chia bệnh máu ác tính thành các bệnh ác tính tủy sinh máu và bệnh ác tính lympho. Bệnh máu ác tính là do tăng sinh các tế bào máu không kiểm soát được có thể kèm theo ức chế biệt hóa, trưởng thành.

Những tế bào này ở trong tủy, máu hay tổ chức lympho. Như vậy, ở đây có hiện tượng mất kiểm soát sự nhân lên của tế bào và có thể kèm theo rối loạn biệt hóa của quá trình sinh máu. Khi phân tích vật chất di truyền (ADN và nhiễm sắc thể) các tế bào sinh máu ở những bệnh nhân này người ta phát hiện các bất thường và những bất thường đó có liên quan tới bệnh và thể bệnh. Thực chất quá trình nhân lên, biệt hóa và trưởng thành của tế bào được thể hiện bởi sự nhân lên của AND, sự tổng hợp các protein đặc trưng.

Tất cả các hiện tượng này là do hoạt động của gen chi phối. Nghiên cứu các gen và sự hoạt động của gen chi phối phân chia và trưởng thành tế bào này cho thấy cơ chế phát sinh bệnh [5]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự liên quan giữa ung thư với hệ thống gen trong tế bào Boveri cho rằng trong tế bào có 2 hệ thống gen hoạt động bình thường: - Hệ thống gen kích thích tế bào phân chia.

- Hệ thống gen ức chế sự phân chia của tế bào. Ung thư có thể xảy ra khi mất cân bằng giữa hai hệ thống này (hoạt hóa quá mức gen kích thích phân bào hoặc mất chức năng gen ức chế phân bào). Hiện nay, gen kích thích phân bào có thể gây ung thư được gọi là gen ung thư (oncogen) và ức chế phân bào được gọi là gen ức chế u (tumor suppressor gene ). Ngoài ra, cơ thể còn có hệ thống các gen sửa chữa AND xảy ra khi tế bào phân chia.

Nếu hoạt động này giảm hoặc mất do di truyền hay do đột biến mắc phải sẽ làm cho các sai sót không được sửa chữa, khi các sai sót làm cho gen ung thư bị hoạt hóa hay gen ức chế u bị bất hoạt sẽ phát sinh ung thư [5]. Gen ung thư: (oncogen) Lichman, Hoffbrand cho rằng các oncogen bình thường mã hóa các protein tham gia biệt hóa, điều hòa tăng sinh. Khi những gen này đột biến, tạo ra các protein có hoạt tính mạnh hơn, hoặc thể hiện ở những giai đoạn không thích hợp cho sự phát triển tế bào sẽ gây bệnh ác tính [6], [7]. Các oncogen chia thành 4 nhóm: - Oncogen mã hóa protein là yếu tố kích thich tăng sinh.

- Oncogen mã hóa protein là vị trí tiếp nhận trên bề mặt tế bào - Oncogen mã hóa protein là các chất truyền tin từ màng qua bào tương vào nhân tế bào. - Oncogen nhân: là các gen mã hóa protein nằm ở trong nhân tế bào, các protein này tác động lên các gen chi phối sự phân chia tế bào. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Ngoài ra, theo Hoffbrand một số gen gây ung thư là do bình thường tham gia vào chưng trình chết của tế bào, khi bị rối loạn, tế bào sẽ tồn tại lâu, tích tự dẫn đến ung thư [7]. Gen ức chế u Ngoài vai trò của bốn nhóm oncogen trên, người ta cũng chứng minh rằng trong tế bào bình thường có những gen kiểm soát hiện tượng tăng sinh, đó là gen ức chế u.

Khi những gen này mất hay bất hoạt, dẫn tới không kiểm soát, không kìm chế được sự phân chia, sẽ gây ra u. Theo Naeim, gen ức chế u hoạt đọng theo cơ chế điều khiển ngược. Các gen muốn hoạt động thì phải có yếu tố phiên mã. Khi tế bào phân chia mạnh do có nhiều yếu tố phiên mã, thì yếu tố phiên mã náy sẽ kích thích gen ức chế u tạo ra một yếu tố để ức chế yếu tố phiên mã.

Trong trường hợp gen ức chế u bị mất vai trò, yếu tố phiên mã sẽ tự tác động làm tế bào phân chia quá mức gây bệnh. Gen ức chế u p53 trên NST 17 được nghiên cứu nhiều. Có khoảng 230 đột biến gây bất thường gen p53 và đó là nguyên nhân của nhiều bệnh ác tính khác nhau (lơ xê mi cấp dòng tủy và dòng lympho, lơ xê mi kinh dòng lympho, LXMKDBCH…) [8], [9]. Hoạt hóa oncogen ở bệnh máu ác tính.

* Chuyển đoạn và cấu trúc lại NST: Chuyển một đoạn của NST này tới NST khác tạo nên sự sắp xếp mới, chuyển phần khởi động của gen này nối với phần gen khác làm gen mới này được phiên mã, hay chuyển phần cấu trúc gen này đến với phần cấu trúc của gen khác tạo ra gen lai mới, mã hóa một protein mới có hoạt tính tăng sinh tế bào. Bệnh lơ xê mi kinh dòng bạch cầu do cơ chế này mà gây ra. * Đột biến điểm: Khi có sự thay đổi thành phần hoặc số lượng các nucleotid trên AND sẽ gây nên đột biến điểm. Đó là các dạng thêm bớt, thay thế hay đảo vị trí của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 một vài cặp nucleotid trên gen.

Ví dụ: protein sản phẩm của gen RAS có chức năng truyền tin trong tế bào bằng cách phân giải GTP thành GDP. Theo Hoffbrand thì oncogen RAS khi bị đột biến ở các bộ ba mã hóa 12, 13 hoặc 61 sẽ tạo ra protein mới. Protein này có khả năng phân giải cao làm tế bào phản ứng quá mạnh với chất kích thích và là nguyên nhân của nhiều bệnh ác tính [9], [10]. * Nhân gen: Có nhiều nghiên cứu cho thấy thừa NST 8 sẽ thừa gen MYC và gây lơ xê mi [11] 1.

Bất hoạt gen ức chế u Khác với cơ chế sinh bệnh do hoạt hóa oncogen đa số do gen trội quy định, ung thư do gen ức chế u đa số do gen lặn quy định nên chỉ xảy ra ung thư khi cả 2 alen đều bị bất hoạt. Những trường hợp dị hợp tử bất hoạt gen ức chế u dễ bị mắc bệnh là do alen lành còn lại bị mất hoặc bị đột biến. Mất gen có thể do mất đoạn NST. Nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng đây cũng là nguyên nhân gây ra bệnh lơ xê mi [12].

CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA LƠ XÊ MI KINH DÒNG HẠT 1. Nhiễm sắc thể Philadelphia (NST Ph1) NST Philadelphia là một NST đột biến gặp ở trên 90% bệnh nhân LXMKDH. Đây là một NST thuộc nhóm G được tạo ra do sự chuyển đoạn giữa nhánh dài của NST số 9 và NST số 22.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ