Phần mở đầu, các kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm được đề cập trong luận án là kỹ thuật phỏng vấn. Kỹ thuật này được thực hiện thông qua các bảng câu hỏi được xây dựng sẵn gồm các câu hỏi với các trình tự câu hỏi đã được sắp xếp cố định, các phương án trả lời, các ký hiệu và hướng dẫn trả lời trong bảng câu hỏi,. Với mỗi kỹ thuật thu thập thập thông tin được sử dụng, cần xây dựng các bảng câu hỏi điều tra phù hợp với cách thức thu thập thông tin, nội dung thông tin và đối tượng thu thập thông tin. Kỹ thuật thu thập thông tin điều tra trong nhiều trường hợp còn được gọi là phương pháp thu thập thông tin trong điều tra thống kê (Trần Thị Kim Thu, 2012), thuật ngữ tiếng Anh là Data collection method (Bradburn, N., 1979; Statistics Canada, 2010… ) hoặc Data collection technique (Kenneth, K.,1989…) hoặc Data collection mode (Biemer, P.
Kỹ thuật thu thập thông tin điều tra là một phạm vi hẹp hơn của phương pháp điều tra, trong đó nhấn mạnh đến các hình thức tương tác giữa ĐTV với đối tượng điều tra để thu thập các thông tin nghiên cứu. Tương ứng với mỗi kỹ thuật thông tin điều tra được sử dụng cần đảm bảo các yêu cầu có liên quan khác trong đó thiết kế bảng câu hỏi điều tra. Trong nghiên cứu này, một kỹ thuật thu thập thông tin điều tra chủ đề nhạy cảm mới sẽ được nghiên cứu thử nghiệm đó là “Kỹ thuật trả lời ngẫu nhiên” viết tắt là RRT. Do vậy, để phân biệt với phương pháp điều tra nói chung và thống nhất cách sử dụng thuật ngữ với RRT và các cách thức thu thập thông tin khác sẽ sử dụng trong nghiên cứu, luận án này sử dụng thuật ngữ chung về cách thức thu thập thông tin điều tra là kỹ thuật thu thập thông tin điều tra.
11 Kỹ thuật thu thập thông tin điều tra là cách thức sử dụng bảng câu hỏi để ĐTV và đối tượng điều tra “giao tiếp” và “trao đổi” thông tin về vấn đề nghiên cứu được đề cập trong một “cuộc phỏng vấn”. Trong điều tra, kỹ thuật thu thập thông tin đóng vai trò quan trọng tới hiệu lực và hiệu quả của một cuộc điều tra: kỹ thuật thu thập thông tin phù hợp giúp việc thu thập thông tin có tính khả thi và chất lượng thông tin thu thập được tốt hơn. Mặc dù kỹ thuật thu thập thập thông tin điều tra đề cập đến một nội dung hẹp hơn phương pháp điều tra nhưng có mối liên kết chặt chẽ đến các nội dung khác của phương pháp điều tra như: lựa chọn đối tượng cung cấp thông tin, thiết kế bảng câu hỏi, xây dựng cách thức tổ chức điều tra thu thập thông tin,. Bảng hỏi câu hỏi điều tra (hay còn được gọi là bảng hỏi, phiếu điều tra, phiếu hỏi, phiếu phỏng vấn) là một tập hợp các câu hỏi được sắp xếp theo một trật tự khoa học, lôgic để thu thập thông tin về đối tượng điều tra trên cơ sở các mục đích nghiên cứu đã đề ra (Statistics Canada, 2010).
Theo giáo trình điều tra xã hội học, “Bảng hỏi là tổ hợp các câu hỏi- chỉ báo đã được vạch ra nhằm cung cấp dữ liệu cho việc kiểm định các giả thuyết hoặc các vấn đề cần tìm kiếm” (Trần Thị Kim Thu, 2011). Bảng câu hỏi điều tra là công cụ “giao tiếp” giữa người nghiên cứu và đối tượng điều tra, đồng thời là cầu nối giữa người dùng tin với cơ sở dữ liệu điều tra thu được (Biemer, P. Việc quyết định sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin điều tra sẽ tác động đến thiết kế bảng câu hỏi phù hợp nhằm đảm bảo đối tượng điều tra không những trả lời được các câu hỏi trong bảng câu hỏi mà còn giúp họ cung cấp được các thông tin trung thực. Do vậy, bảng câu hỏi điều tra được thiết kế sau khi đã xác định được kỹ thuật thu thập thông tin sử dụng trong điều tra.
Bảng câu hỏi điều tra ngày nay được thiết kế dưới dạng bảng câu hỏi giấy (bản in) hoặc bảng câu hỏi điện tử (bảng câu hỏi được thiết kế để sử dụng trên máy tính, hoặc các dạng như E-form, Web- form. Trong phạm vi luận án này, bảng câu hỏi điều tra được thiết kế và sử dụng thu thập thông tin là bảng câu hỏi được in sẵn (Bảng câu hỏi giấy in sẵn để phỏng vấn thu thập thập thông tin, viết tắt là PAPI) để ĐTV sử dụng ghi chép hoặc hướng dẫn ghi chép các thông tin thu được. Thu thập thông tin điều tra là quá trình ghi nhận, thu nhận, tập hợp các thông tin theo mục đích nghiên cứu từ các đơn vị được chọn điều tra (Statistics Canada, 2010). Để thu thập thông tin, trước tiên cần xác định kỹ thuật thu thập thông tin sẽ được sử dụng trong điều tra, thiết kế bảng câu hỏi sử dụng cho việc thu thập thông tin, chuẩn bị tổ chức triển khai thu thập thông tin gồm các bước như: xác định đối tượng điều tra (trong hầu hết các điều tra chủ đề nhạy cảm cần có ý kiến đồng ý tham gia điều tra trước khi tiến hành phỏng vấn thu thập thông tin), xác định thời gian và địa 12 điểm diễn ra cuộc phỏng vấn, đảm bảo các ĐTV đã được tập huấn về nghiệp vụ điều tra, và các yêu cầu khác để cuộc phỏng vấn có thể diễn ra.
Trong luận án này, thu thập thông tin điều tra chính là quá trình phỏng vấn giữa ĐTV với đối tượng điều tra bằng các câu hỏi đã được liệt kê trong bảng câu hỏi. Chủ đề nhạy cảm trong điều tra thống kê đề cập đến là những vấn đề mang tính riêng tư, điều cấm kỵ hoặc những điều không phù hợp trong giao tiếp hoặc trao đổi hàng ngày mà người có thông tin không muốn nói ra. Đó là những điều mà mọi người thường muốn giữ bí mật hoặc lo sợ thông tin cung cấp sẽ bị tiết lộ cho người khác (Tourangeau. Một số nội dung điều tra thống kê được coi là chủ đề nhạy cảm như bạo lực gia đình, hành vi tình dục, sử dụng ma túy, nạo phá thai, thu nhập, trốn thuế, tham nhũng, bầu cử, … (Tourangeau., Van der Heijden, P, G.
Tuy nhiên, trong từng bối cảnh cụ thể và đối với những cá nhân cụ thể thì tính “nhạy cảm” trong điều tra thống kê cũng khác nhau: một vấn đề là nhạy cảm đối với một số cá nhân nhưng không phải là vấn đề nhạy cảm đối với những cá nhân khác. Do vậy, chủ đề nhạy cảm trong điều tra thống kê thường được đánh giá dựa trên các khía cạnh về nội dung thông tin, đối tượng trả lời và mục tiêu về hành vi của người trả lời; nói cách khác chủ đề nhạy cảm trong điều tra thống kê được xác định khi xem xét vấn đề nào là nhạy cảm và nhạy cảm với ai. Trong điều tra thống kê về chủ đề nhạy cảm, các câu hỏi và câu trả lời liên quan đến chủ đề nhạy cảm được coi là những thông tin nhạy cảm. Có quan điểm cho rằng thông tin nhạy cảm là những thông tin mà tỷ lệ không trả lời cao hơn so với các câu hỏi điều tra thông thường khác (Peter S.
Dahlhamer và John R. Pleis, 2006), hay thông tin được cung cấp theo mong đợi của xã hội hoặc chuẩn mực của xã hội (Tourangeau, Rips và Rasinski, 2000) hoặc thông tin có thể tác động gây ra những hậu quả cho xã hội hoặc cho cá nhân người trả lời (Sieber & Stanley, 1988). Theo tổng quan nghiên cứu của Tourangeau và các công sự (2000), khái niệm “nhạy cảm” được xem xét theo ba nghĩa: (1) Sự làm phiền và lo ngại thông tin bị tiết lộ; (2) Trả lời theo mong đợi của xã hội và (3) Đánh giá về tính nhạy cảm của câu hỏi điều tra. Cụ thể: Theo nghĩa thứ nhất, các câu hỏi nhạy cảm bản thân nó đề cập tới những chủ đề cấm kỵ và mang tính riêng tư hơn là các yếu tố tình huống như câu hỏi đó được hỏi ở đâu (trong ngữ cảnh nào) và hỏi ai, những câu hỏi này ảnh hưởng đến tất cả những người tham gia điều tra bất kể vị thế xã hội hay nhãn quan của họ như thế nào ví dụ như vấn đề tôn giáo.
Bên cạnh đó, các câu hỏi được coi là nhạy cảm khi người cung cấp thông tin lo sợ thông tin trả lời bị tiết lộ cho người khác biết như tình trạng sử 13 dụng cần sa của trẻ vị thành niên là câu hỏi nhạy cảm nếu được hỏi trong ngữ cảnh có sự “hiện diện” của bố hoặc mẹ của trẻ (có mặt hay nghe lén) song nó lại không phải là câu hỏi nhạy cảm nếu được hỏi theo hình thức tổ chức nhóm gồm những người bạn của trẻ (Tourangeau và các công sự, 2000). Do vậy, xác định chủ đề nhạy cảm trong điều tra thống kê cần xem xét cả về nội dung thông tin và đối tượng cung cấp các thông tin đó là từ ai. Theo nghĩa thứ hai, trả lời theo mong đợi của xã hội, tức là đã có chuẩn mực xã hội trong câu trả lời dành cho câu hỏi được đặt ra. Do vậy, câu hỏi mà thu được thông tin trả lời theo chuẩn mực xã hội được xem là câu hỏi nhạy cảm.
Đây có thể coi là một trường hợp đặc biệt của nghĩa thứ nhất “lo sợ thông tin bị lộ”. Một ví dụ về trường hợp đặc biệt này do Tourangeau và các cộng sự (2000) nêu ra là bỏ phiếu bầu tổng thống. Với một xã hội văn minh, người ta mong đợi các công dân đủ năng lực hành vi phải tham gia bỏ phiếu do vậy trường hợp không bỏ phiếu là vi phạm chuẩn mực xã hội. Với những người đã tham gia bỏ phiếu, câu hỏi đã tham gia bỏ phiếu chưa không phải là câu hỏi nhạy cảm nhưng đối với những người không tham gia bỏ phiếu, đây lại là câu hỏi nhạy cảm vì họ lo sợ người khác biết được họ đã không thực hiện nghĩa vụ công dân nếu trả lời không, họ thường có xu thế không trả lời hoặc trả lời là có.
Theo nghĩa thứ ba, đánh giá về độ nhạy cảm của câu hỏi điều tra thông qua tỷ lệ trả lời: nếu tỷ lệ không trả lời các câu hỏi cao thì chủ đề đó được coi là nhạy cảm; và nếu đối tượng điều tra cần nhiều thời gian hơn để trả lời so với các câu hỏi khác thì câu hỏi đó cũng được coi là câu hỏi nhạy cảm. Do vậy, trong điều tra thống kê, chủ đề nhạy cảm và thông tin nhạy cảm sẽ được nhìn nhận khác nhau đối với từng chủ đề khác nhau (Lyberg, L.