Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 9.13) với đề tài "Kinh tế huyện Cẩm Khê (tỉnh Phú Thọ) giai đoạn 1995 - 2015" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hương Loan thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Tuyết và TS. Nguyễn Thị Thu Thủy, bảo vệ năm 2021.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng công cuộc Đổi mới tại Việt Nam trải qua hơn ba thập kỷ đã ghi nhận nhiều chuyển biến trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Ở cấp độ địa phương, kết quả phát triển kinh tế là một trong những thước đo cơ bản phản ánh hiệu quả vận dụng đường lối đổi mới vào thực tế. Huyện Cẩm Khê là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Phú Thọ, được tái lập từ tháng 10 năm 1995 trên cơ sở chia tách huyện Sông Thao (tách 10 xã phía hữu ngạn sông Thao trả về huyện Hạ Hòa). Bước vào chặng đường 20 năm đầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1995 - 2015), kinh tế Cẩm Khê ghi nhận một số kết quả phục vụ ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhìn chung còn chậm, quy mô nhỏ bé, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, lao động của một huyện bán sơn địa, xuất phát điểm thấp. Cho đến thời điểm tác giả triển khai đề tài, chưa có công trình khoa học nào phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống toàn bộ tiến trình vận động kinh tế của huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015. Do đó, việc nghiên cứu đề tài vừa có ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung cứ liệu lịch sử kinh tế địa phương thời kỳ Đổi mới, vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quy hoạch, quản lý kinh tế của địa phương.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ thực trạng kinh tế huyện Cẩm Khê từ năm 1995 đến năm 2015, chỉ ra những thành tựu đạt được, các hạn chế và thách thức còn tồn tại; qua đó cung cấp bức tranh cụ thể về việc thực hiện đường lối Đổi mới ở một địa bàn cấp huyện miền núi phía Bắc.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Phân tích những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015, bao gồm: điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, hệ thống hạ tầng kinh tế, tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê trước năm 1995 và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước và địa phương giai đoạn 1995 - 2015.
  2. Trình bày một cách hệ thống về tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015, bao gồm tình hình phát triển cụ thể của các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ.
  3. Trên cơ sở những thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu cụ thể về tình hình phát triển của các ngành kinh tế, luận án nêu lên một số nhận xét về những chuyển biến và tác động của kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn 1995 - 2015 đối với các lĩnh vực xã hội, văn hóa, môi trường.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát tình hình kinh tế ở huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015, cụ thể là thực trạng phát triển của ba nhóm ngành chính: nông - lâm nghiệp - thủy sản; công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, bao gồm 30 xã và 1 thị trấn (thị trấn Sông Thao). Trong giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 4 năm 2002, huyện mang tên là huyện Sông Thao; từ ngày 08 tháng 4 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 39/2002/NĐ-CP đổi tên huyện Sông Thao trở lại tên gọi huyện Cẩm Khê.
  • Phạm vi thời gian: Luận án xác định mốc mở đầu là năm 1995 (thời điểm tái lập huyện) và mốc kết thúc là năm 2015 (thời điểm tròn 20 năm tái lập huyện và triển khai nghiên cứu). Một số nội dung kinh tế trước năm 1995 và giai đoạn sau năm 2015 được đề cập khái quát nhằm phục vụ việc so sánh, đối chiếu lịch sử.
  • Phạm vi nội dung: Tiến trình phát triển và diện mạo kinh tế ở cả ba nhóm ngành theo các khía cạnh: chủ trương, chính sách của địa phương; thực trạng phát triển ngành; kết quả đạt được và các tác động kinh tế - xã hội liên quan.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:

Nhóm thứ nhất: Những công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Nhóm này tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn vĩ mô:

  • Về đổi mới quản lý kinh tế: Cuốn Đổi mới kinh tế và phát triển do Vũ Tuấn Anh chủ biên (1994); công trình nghiên cứu của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX02 với ấn phẩm Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế (1997); sách của Nguyễn Văn Chỉnh, Vũ Quang Việt, Trần Vân với nhan đề Kinh tế Việt Nam đổi mới: Những phân tích và đánh giá quan trọng (2002); cuốn Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Lương Xuân Quý (2006); tác phẩm Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới tư duy ở Việt Nam của Nguyễn Duy Quý (2009).
  • Về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Công trình của Ngô Đình Giao (1994), Đỗ Hoài Nam (1996), Bùi Tất Thắng (1997, 2006), Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999), Lương Xuân Quý (2001), Nguyễn Trần Quế (2004), Phan Công Nghĩa (2007), Trương Thị Minh Sâm (2007), Phạm Thị Khanh (2010).
  • Về các thành phần kinh tế: Các nghiên cứu của Trần Hoàng Kim (1992), Đỗ Hoài Nam (1993), Vũ Đình Bách (2001), Lê Hữu Nghĩa và Đinh Văn Ân (2004), Nguyễn Thanh Tuyền (2004), Nguyễn Minh Phong (2004), Chử Văn Lâm (2006), Phạm Văn Sơn (2011), Lê Xuân Bá (2013), và tập thể tác giả cuốn Phát triển kinh tế tập thể trong 30 năm đổi mới ở Việt Nam (2016).
  • Về phát triển kinh tế vùng: Các công trình của Lâm Quang Huyên (2002), Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003), Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006), Lê Thu Hoa (2007), Nguyễn Trọng Xuân (2013), Đỗ Thị Thanh Loan (2016).
  • Về quy mô và tăng trưởng kinh tế: Cuốn Tăng trưởng kinh tế thời kì Đổi mới ở Việt Nam do Trần Thọ Đạt chủ biên (2010), sách của Lương Minh Cừ, Đào Duy Huân, Phạm Đức Hải (2012), các bài viết của Phan Thanh Phố (1995), Nguyễn Sinh Cúc (2003), Lê Văn Sang (2014), cùng công trình tổng kết 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam (2015).

Nhóm thứ hai: Những công trình nghiên cứu về kinh tế ở các địa phương trong thời kỳ Đổi mới. Tác giả điểm lại hàng loạt luận án tiến sĩ nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc sự lãnh đạo của Đảng bộ các địa phương: luận án của Vũ Ngọc Kỳ về tỉnh Yên Bái (1996), Đào Thị Bích Hồng về tỉnh Bạc Liêu (2011), Trần Thị Thái về tỉnh Nam Định (2015), Vũ Trọng Hùng về tỉnh Vĩnh Phúc (2017), Bùi Thị Nguyệt Quỳnh về tỉnh Hòa Bình (2017), Nguyễn Thị Nguyền về tỉnh Lào Cai (2012), Hoàng Thị Mỹ Hạnh về tỉnh Thái Nguyên (2010), Lê Hồng Sơn về huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Nhóm thứ ba: Những công trình nghiên cứu về huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ trong thời kỳ Đổi mới. Các tài liệu gồm có cuốn Lịch sử văn hóa truyền thống huyện Cẩm Khê (2020); luận án tiến sĩ kinh tế của Phùng Quang Mạc về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện Sông Thao giai đoạn 1986 - 1995 (1996); luận án tiến sĩ của Tống Thị Nga về Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (2014); luận án tiến sĩ của Bùi Thị Thanh Tâm về phát triển kinh tế trang trại tỉnh Phú Thọ (2015); luận án của Chu Thanh Hải về quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong thương mại tỉnh Phú Thọ (2017); luận văn thạc sĩ của Trần Văn Hùng về làng nghề Phú Thọ (2010); luận văn của Cao Kim Oanh về phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Cẩm Khê (2013); các luận văn của Lưu Thế Vinh (2008), Nguyễn Thị Tâm (2013), Hoàng Trí Thức (2018).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên đã cung cấp bức tranh rộng lớn về kinh tế Đổi mới hoặc tiếp cận huyện Cẩm Khê ở một giai đoạn trước năm 1995 (như công trình của Phùng Quang Mạc dừng ở năm 1995), hoặc chỉ khảo sát từng ngành hẹp (nông nghiệp, kinh tế trang trại, giải quyết việc làm). Chưa có công trình nào nghiên cứu lịch sử kinh tế huyện Cẩm Khê xuyên suốt trọn vẹn 20 năm (1995 - 2015) trên toàn bộ ba nhóm ngành kinh tế, phân tích đầy đủ các yếu tố tác động tự nhiên, xã hội, hạ tầng, sự chuyển dịch cơ cấu và tác động xã hội của kinh tế địa phương. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phát triển kinh tế - xã hội, các quan điểm, chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả kết hợp chặt chẽ giữa hai phương pháp chuyên ngành lịch sử và các phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Trình bày, mô tả các sự kiện kinh tế diễn ra trên địa bàn Cẩm Khê theo đúng trình tự thời gian từ năm 1995 đến năm 2015, gắn với bối cảnh phát triển chung của tỉnh Phú Thọ và cả nước.
  • Phương pháp logic: Nghiên cứu bản chất các hiện tượng kinh tế trong mối quan hệ nhân quả, phân tích sự tác động qua lại giữa các yếu tố tự nhiên, xã hội, hạ tầng đối với sản xuất; đánh giá các bước chuyển dịch cơ cấu và tác động của kinh tế đối với văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, môi trường.
  • Phương pháp kinh tế học và thống kê định lượng: Tiến hành thu thập chuỗi số liệu từ các báo cáo thường niên và niên giám thống kê, xử lý số liệu dưới dạng bảng biểu, đồ thị cơ cấu nhằm đo lường sự thay đổi qua các mốc thời gian 1995, 2000, 2005, 2010, 2015.
  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế và phỏng vấn nhân chứng: Tác giả khảo sát thực địa tại các xã trong huyện, phỏng vấn cán bộ quản lý và người dân địa phương để kiểm chứng, so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu thành văn.

Nguồn tài liệu, dữ liệu sử dụng trong luận án bao gồm:

  • Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Khê.
  • Nguồn tư liệu thống kê gốc: Niên giám thống kê huyện Cẩm Khê và Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ qua các năm (nguồn tài liệu nòng cốt).
  • Nguồn tài liệu hành chính lưu trữ tại các phòng ban chuyên môn của huyện Cẩm Khê (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Công thương...).
  • Tư liệu báo chí địa phương tỉnh Phú Thọ, sách chuyên khảo, bài báo khoa học đã công bố và dữ liệu thu thập qua điều tra điền dã thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước về kinh tế thời kỳ Đổi mới theo các nhóm nội dung: thể chế quản lý, chuyển dịch cơ cấu ngành và vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế, tăng trưởng kinh tế, kinh tế các tỉnh miền núi phía Bắc và các đề tài về tỉnh Phú Thọ, huyện Cẩm Khê. Tác giả xác định các kết quả khoa học kế thừa và chỉ rõ luận án tập trung giải quyết bức tranh kinh tế Cẩm Khê từ năm 1995 đến năm 2015 chưa được công trình nào nghiên cứu hệ thống trước đó.

Chương 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015

Chương 2 làm rõ các yếu tố tiền đề tác động đến kinh tế Cẩm Khê:

  • Sự thay đổi địa danh, địa giới hành chính: Huyện Cẩm Khê thuộc vùng đất cổ Sơn Vi. Ngày 05/7/1977, Nghị định 178/CP hợp nhất Cẩm Khê, Yên Lập và 10 xã của Hạ Hòa thành huyện Sông Thao. Năm 1980, 17 xã của Yên Lập tách ra. Ngày 07/10/1995, 10 xã của Hạ Hòa được tách trả lại; huyện Sông Thao còn lại 30 xã và 1 thị trấn. Ngày 08/4/2002, Nghị định số 39/2002/NĐ-CP đổi tên huyện Sông Thao trở lại tên gọi huyện Cẩm Khê.
  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Huyện nằm ở tọa độ 21°15' - 21°29'B, 104°57' - 105°13'Đ, dài 40 km, rộng trung bình 10 km. Tổng diện tích tự nhiên tính đến năm 2015 là 23.392,4 ha (bảng 2.1 ghi nhận tổng tích kiểm kê là 23.932,4 ha). Địa hình gồm 3 dạng: vùng núi phía tây dốc trên 25° chiếm 10% diện tích (Tiên Lương, Phượng Vỹ, Tam Sơn...); trung du đồi thấp lượn sóng chiếm 15,4% (Tuy Lộc, Ngô Xá, Thụy Liễu...); đồng bằng và trũng ven sông Thao chiếm 74,6% diện tích (Đồng Cam, Phương Xá, Hiền Đa, Cát Trù...).
  • Thổ nhưỡng và khí hậu: Đất đai gồm 5 nhóm: đất phù sa ven sông (chiếm 24,9% diện tích tự nhiên với 4.817,18 ha), đất glây, đất xám, đất xám feralit và đất dốc tụ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa trung du, nhiệt độ cao nhất 38,5°C, thấp nhất 10°C; lượng mưa trung bình năm đạt 1.874 mm. Sông Thao chảy qua huyện dài 21,5 km (lưu lượng mùa mưa 1.647 m³/s, mùa khô 520 m³/s); sông Bứa dài 5 km; hệ thống hồ đầm lớn như đầm Đào, đầm Meo, đầm Đung, hồ Dục Gạo, hồ Dục Bò, Ba Vực. Khoáng sản có 19 mỏ và điểm quặng nhỏ: than nâu (Tiên Lương), sắt, quarzit (Tam Sơn 900.000 m³, Hương Lung 12 triệu m³), kaolin (Tiên Lương 103.000 tấn, Ngô Xá 202,3 nghìn tấn), sét gạch ngói (Tiên Lương 20 triệu m³, Cấp Dẫn 10 triệu m³, Văn Khúc 5,4 triệu m³), sét gốm (Tuy Lộc 258.000 tấn), cát sỏi (Sơn Nga 2,5 triệu m³).
STT Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
1 Đất phù sa 4.817,18 24,9
2 Các loại đất khác (đất glây, đất xám, xám feralit...) 19.115,22 75,1
Tổng Tổng diện tích đất tự nhiên 23.932,4 100,0

(Nguồn: Số liệu Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Khê năm 2015, trích từ Bảng 2.1 của luận án)

  • Dân cư và nguồn nhân lực: Năm 1995 dân số huyện là 124.610 người; năm 2015 tăng lên 131.003 người. Mật độ dân số năm 2015 đạt 544 người/km² (xã Ngô Xá đạt 1.242,7 người/km²; Tuy Lộc đạt 825,3 người/km²). Dân số nông thôn chiếm tỷ lệ áp đảo (95,7% năm 1995 và 95,6% năm 2015). Người Kinh chiếm đa số, đồng bào dân tộc thiểu số có 864 người (Mường, Dao, Tày, Nùng). Giáo dân Thiên chúa giáo có khoảng 3.000 người (chiếm 12,8% dân số huyện theo ghi nhận của tác giả). Lao động qua đào tạo tăng từ 5,6% (năm 1995) lên 18,85% (năm 2015).
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015
I Tổng dân số người 124.610 126.115 128.450 129.800 131.003
1 Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động người 61.017 64.200 70.150 76.400 80.020
2 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế người 59.426 62.150 67.890 73.500 78.995
2.1 Lao động nông, lâm, thủy sản người 59.087 60.100 62.150 54.300 48.700
2.2 Lao động công nghiệp - xây dựng người 157 205 542 5.200 10.895
2.3 Lao động dịch vụ người 182 459 1.198 8.000 19.400

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Cẩm Khê qua các năm, tổng hợp theo Bảng 2.2 của luận án)

  • Hạ tầng kinh tế: Trước năm 1995, toàn huyện chỉ có 1 km đường nhựa cấp 5 miền núi tại khu vực trung tâm. Đến năm 2015, hệ thống giao thông có bước phát triển với Quốc lộ 32C dài 31 km; đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thông tuyến tháng 9/2014 chạy qua 5 xã (Tuy Lộc, Phương Xá, Phùng Xá, Sơn Nga, Sai Nga) dài 10,75 km với nút giao IC10 tại xã Sai Nga; 4 tuyến tỉnh lộ dài 60 km; đường huyện 9 tuyến dài 68,8 km được nhựa hóa; đường liên thôn dài 624,2 km (bê tông hóa 455 km). Lưới điện quốc gia mở rộng từ 8 xã (năm 1995) lên 100% số xã có điện vào năm 2003; tỷ lệ hộ dùng điện năm 2008 đạt 97,27%. Năm 2015, huyện có 1 trạm 110 kV, 179 máy biến áp (37.740 kVA). Thủy lợi có 147 công trình (73 hồ đập lớn nhỏ, 26 trạm bơm điện phục vụ tưới 1.620 ha, 80 trạm bơm dã chiến), kiên cố hóa được 98,2 km trên tổng số 446,6 km kênh mương.
  • Tình hình trước năm 1995: Thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW (Khoán 100), sản xuất nông nghiệp từng bước thoát khỏi bế tắc, năm 1982 sản lượng thóc tăng 7,5% so với năm 1981. Tuy vậy, trước năm 1995 kinh tế Cẩm Khê nhìn chung vẫn trong tình trạng tự cấp tự túc, thiếu lương thực giáp hạt, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ kém phát triển.

Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015

Chương 3 trình bày các chủ trương, biện pháp cụ thể của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Khê trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ và tình hình sản xuất thực tế:

  • Ngành nông nghiệp: Đẩy mạnh thâm canh lúa, chuyển từ giống lúa cũ sang các giống lúa lai, lúa chất lượng cao; phát triển cây ngô đông trên đất hai vụ lúa; mở rộng diện tích cây ăn quả (nhãn, vải, chuối) và cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu tương). Chăn nuôi chuyển dịch dần từ phân tán, nhỏ lẻ sang mô hình trang trại, gia trại chăn nuôi lợn, bò lai sin và gia cầm (như gà ri, gà tiến vua Sai Nga).
  • Ngành lâm nghiệp: Đẩy mạnh việc giao đất giao rừng, thực hiện các dự án trồng rừng nguyên liệu (keo, bạch đàn), bảo vệ rừng đầu nguồn, khai thác và chế biến gỗ rừng trồng kết hợp khôi phục diện tích cây cọ truyền thống.
  • Ngành thủy sản: Tận dụng diện tích mặt nước hồ, đầm trũng và ven sông để phát triển nuôi thả cá truyền thống (trắm, trôi, mè, chép) và cá chép đỏ giống, từng bước hình thành vùng nuôi thủy sản hàng hóa, đưa nuôi trồng thủy sản trở thành mũi nhọn trong nông nghiệp.

Chương 4: Kinh tế tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và xây dựng huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015

Chương 4 khảo sát tiến trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:

  • Khôi phục và duy trì các làng nghề truyền thống: nghề mộc, đan lát, chế biến nông lâm sản, sản xuất gạch ngói nung thủ công.
  • Từng bước quy hoạch các cụm, khu công nghiệp địa phương; thu hút các cơ sở may mặc, chế biến gỗ bóc, vật liệu xây dựng (khai thác cát sỏi ven sông Thao, sản xuất gạch tuynel).
  • Hoạt động xây dựng phát triển gắn với đầu tư công: kiên cố hóa trường lớp học, trạm y tế xã, hệ thống đường giao thông nông thôn và các công trình thủy lợi, trạm bơm điện.

Chương 5: Kinh tế thương mại và dịch vụ huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 - 2015

Chương 5 phân tích quá trình chuyển biến từ nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa:

  • Mạng lưới chợ nông thôn được đầu tư nâng cấp và xây mới (chợ huyện tại thị trấn Sông Thao, chợ các cụm xã), hình thành hệ thống các cửa hàng bán lẻ, đại lý thu mua nông sản, vật tư nông nghiệp.
  • Mở rộng các hoạt động dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách; các dịch vụ bưu chính, viễn thông được phổ cập rộng rãi đến các xã; hệ thống chi nhánh ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân mở rộng cho vay phát triển kinh tế hộ gia đình.
  • Hoạt động du lịch bắt đầu được định hình bước đầu thông qua việc kết nối các di tích lịch sử, văn hóa tâm linh và thắng cảnh đầm, hồ tự nhiên (hồ Ba Vực, đầm Đào).

Chương 6: Một số nhận xét về kinh tế huyện Cẩm Khê giai đoạn 1995 – 2015

Chương 6 tổng hợp các nhận xét, đánh giá khoa học về quá trình vận động kinh tế của huyện:

  • Những chuyển biến của nền kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức ổn định; quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn được nâng lên. Cơ cấu ngành kinh tế dịch chuyển đúng hướng: giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thủy sản, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tổ chức sản xuất có bước đổi mới, chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã, phát triển mô hình kinh tế trang trại và doanh nghiệp tư nhân.
  • Tác động của nền kinh tế: Kinh tế phát triển đã tạo nguồn lực thúc đẩy xã hội: tỷ lệ hộ nghèo giảm, thu nhập bình quân đầu người tăng; cơ sở vật chất trường học, trạm y tế được kiên cố hóa; đời sống văn hóa tinh thần nâng cao. Đồng thời, nền kinh tế phát triển cũng đặt ra các thách thức mới về giải quyết việc làm cho lao động mất đất nông nghiệp, giữ gìn an ninh trật tự nông thôn và áp lực ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt, khai thác tài nguyên và làng nghề.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử và thực tiễn:

  1. Về mặt học thuật: Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống lịch sử kinh tế huyện Cẩm Khê trong 20 năm đầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1995 - 2015). Luận án đã hệ thống hóa chuỗi cứ liệu lịch sử, số liệu thống kê địa phương đáng tin cậy, tái hiện khách quan các bước chuyển biến của từng ngành kinh tế.
  2. Về mặt thực tiễn: Luận án làm rõ những mặt tích cực đạt được cùng những hạn chế, bất cập (như kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng tiềm năng, công nghiệp quy mô nhỏ, giao thông nội huyện còn yếu); phân tích nguyên nhân của thành công và lực cản. Qua đó, công trình phản ánh thực tiễn quá trình quản lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một địa bàn miền núi có xuất phát điểm thấp.
  3. Về giải pháp, đề xuất: Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ lịch sử và luận cứ thực tế cho các cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ trong việc đánh giá tổng kết thực tiễn, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, định hướng phát triển hạ tầng và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong các giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2015, luận án chưa thể phản ánh những bước phát triển mới sau năm 2015, đặc biệt là giai đoạn khi tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai phát huy đầy đủ hiệu ứng kinh tế và các khu, cụm công nghiệp lớn của huyện Cẩm Khê đi vào hoạt động ổn định. Ngoài ra, nguồn dữ liệu về một số tài nguyên thiên nhiên (như trữ lượng nước ngầm chưa được đánh giá đầy đủ, các điểm mỏ khoáng sản mới dừng ở mức khảo sát dự báo) là hạn chế khách quan từ nguồn tư liệu địa phương tại thời điểm nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát kinh tế huyện Cẩm Khê trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay để so sánh, đối chiếu mức độ bứt phá kinh tế sau khi hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hoặc đi sâu phân tích chuyển dịch cơ cấu xã hội - nông dân dưới tác động của các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng và phương pháp tiếp cận lịch sử kinh tế địa phương trong thời kỳ Đổi mới; phục vụ giảng dạy, học tập các chuyên đề Lịch sử kinh tế Việt Nam, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và lịch sử địa phương.
  • Các nhà quản lý, hoạch định chính sách cấp huyện và tỉnh: Cung cấp các số liệu thực tế qua chuỗi 20 năm (1995 - 2015), giúp các cơ quan quản lý nhà nước tại huyện Cẩm Khê và tỉnh Phú Thọ có cái nhìn tổng thể về tiến trình phát triển, nhận thức rõ các thế mạnh và lực cản cơ cấu để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa danh và địa giới hành chính của huyện Cẩm Khê có sự thay đổi như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Từ ngày 07/10/1995, sau khi tách 10 xã thuộc huyện Hạ Hòa cũ ra khỏi huyện Sông Thao, huyện Sông Thao trở lại phạm vi địa giới của huyện Cẩm Khê trước đây với 30 xã và 1 thị trấn. Ngày 08/4/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 39/2002/NĐ-CP đổi tên huyện Sông Thao thành huyện Cẩm Khê; địa giới hành chính gồm 30 xã và 1 thị trấn tiếp tục được giữ ổn định cho đến hết năm 2015.

2. Cơ cấu đất đai của huyện Cẩm Khê năm 2015 thể hiện đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2015, đất nông, lâm, thủy sản của huyện chiếm 78,2% tổng diện tích tự nhiên (đạt 18.290,3 ha). Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 65,2% (11.926,9 ha), đất lâm nghiệp chiếm 28,15% (5.149,3 ha), và đất nuôi trồng thủy sản chiếm 5,14% (1.214,1 ha). Nhóm đất phù sa chiếm 24,9% diện tích tự nhiên (4.817,18 ha), phân bố ven sông Thao, sông Bứa và ngòi Giành.

3. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của huyện Cẩm Khê biến chuyển ra sao từ năm 1995 đến năm 2015?
Năm 1995, lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản chiếm đa số tuyệt đối với 59.087 người (trong tổng số 59.426 lao động), công nghiệp - xây dựng chỉ có 157 lao động, dịch vụ có 182 lao động. Đến năm 2015, tổng lao động tăng lên 78.995 người; trong đó lao động nông, lâm, thủy sản giảm xuống còn 48.700 người, lao động công nghiệp - xây dựng tăng mạnh lên 10.895 người, và lao động dịch vụ đạt 19.400 người.

4. Hạ tầng giao thông và điện lực của huyện Cẩm Khê đã ghi nhận những mốc chuyển biến cơ bản nào?
Trước năm 1995, huyện chỉ có 1 km đường nhựa cấp 5 miền núi; đến năm 2015 đã hình thành mạng lưới gồm 31 km Quốc lộ 32C, 10,75 km đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai (thông xe tháng 9/2014 với nút giao Sai Nga), 60 km tỉnh lộ và 455 km đường bê tông xi măng liên thôn. Về điện lưới, năm 1995 toàn huyện chỉ có 8/31 xã có điện; đến năm 2003, 100% số xã đã có điện lưới quốc gia, với tỷ lệ hộ dùng điện đạt 97,27% vào năm 2008.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Hương Loan đã tái hiện chân thực và có hệ thống tiến trình vận động kinh tế của huyện Cẩm Khê trong 20 năm đầu tái lập (1995 - 2015). Công trình làm rõ các đặc điểm tự nhiên, xã hội, sự phát triển của ba nhóm ngành kinh tế cũng như bước chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất và hạ tầng cơ sở. Những nhận xét, đúc kết lịch sử trong luận án cung cấp căn cứ tư liệu xác thực cho nghiên cứu lịch sử địa phương và đóng góp luận cứ thực tiễn cho công tác điều hành kinh tế - xã hội tại địa bàn tỉnh Phú Thọ.