chương 1 bao gồm các nội dung chù yếu sau đây: - Bàn chất và nhũng nội dung cơ bản của nghiên cứu kinh doanh - Nội dung chính cùa quá trình nghiên cứu kinh doanh - Vấn đề thường gặp trong nghiên cứu kinh doanh - Đạo đức trong nghiên cửu kinh doanh 1. NGHIÊN CỨU KINH DOANH 1. Phạm vi nghiên cứu kinh doanh Theo nhà nghiên cứu kinh doanh nồi tiếng William G.Zikmund, phạm vi nghiên cứu kinh doanh được giới hạn bởi định nghĩa về kinti doanh cùa từng tác giả. Trên góc độ khái niệm hẹp, nghiên cứu kinh doanh là những nghiên cứu trong lình vực sàn xuất, tài chính, marketing hoặc trong lĩnh vực quản lỹ cùa các tô chức hoạt động vi lợi nhuận.
Tuy nhiên, nêu mở rộng khái niệm này ra, nghiên cứu kinh doanh có thể được thực hiện cả trong những tồ chúc phi lợi nhuận bởi vì loại tồ chức này tồn tại cũng với mục đích là thoả mãn nhu câu xà hội và đều có nhu cầu hiếu biết về kỹ năng kinh doanh đề tạo ra và phân phôi đên người tiêu dùng những hàng hoá và dịch vụ mà khách hàng cằn. Nghiên cứu kinh doanh có phạm vi khá rộng. Đối với các nhà quản lý, mục đích nghiên cứu là thoà màn nhu cầu hiểu biết hơn về tổ chức, về thị 5 trường, về nền kinh tế hoặc các lĩnh vực khác lien quan. De tàng sự hiêu biết, nhiều câu hòi luôn được dặt ra đối với các nhà quản lý.
Chang hạn với nhà quàn lý tài chính có thê hôi, môi trường tài chính se tôt hon trong dài hạn?. Hay dưới góc độ nhà quản lý nhân sự, câu hỏi có thê này sinh là: Loại đào tạo nào cần thiết đối với công nhân sàn xuất? Trong khi dó nhà quàn lý marketing có thề đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để quàn lý tốt các hoạt động bán lẻ cùa công ty? Những câu hỏi trên đều yêu cằu các thông tin liên quan đến cách mà môi trường, công nhân, khách hàng hoặc nền kinh lé se phàn ứng đối với các quyết định của các nhà quàn lý. Nghiên cứu kinh doanh là một trong nhũng công cụ cơ bàn đối với việc trả lời nhùng câu hỏi thực té này. Trước khi nghiên cứu kinh doanh trờ thành công cụ phổ biến, các nhà quản lý thường ra quyết định dựa trên kinh nghiệm có được.
Không ít quyết định như thế vẫn đưa đến những thành công nhất định. Tuy nhiên, trong bôi cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển và thay đổi lớn, sự cạnh tranh cùng gay gẳt hơn thì việc ra quyết định dựa trên kinh nghiệm dã trờ nên mạo hiềm lớn đối với các nhà quản lý. Đo vậy nhu cầu nghiên cứu kinh doanh ngày càng phát triển và được chú trọng. Với nhừng phương pháp nghiên cửu thành công, các nhà quàn lý có thể giâm rủi ro trong việc ra quyết dịnh bùng cách chuyền hình thức ra quyết định dựa trên kinh nghiêm sang quyết định dựa vào những thông tin có hệ thống được thu thập khoa học.
Khái niệm nghiên cứu kinh doanh Có nhiều khái niệm về phương pháp nghiên cứu kinh doanh do nhiêu tác già đưa ra. Dưới đây là một số khái niệm cơ bản cùa các tác giả nôi tiêng về lĩnh vực này: Theo William G. Zikmund, nghiên cứu kinh doanh là một quá trình thu thập, tập hợp và phân tích dừ liệu với mục đích cung cấp những thông tin khách quan và có hệ thống nhằm hồ trợ cho việc ra quyết định. Định nghĩa này cho ràng: Thứ nhất, thông tin thu thập được từ nghiên cứu không đồng nghĩa với với việc tập hợp do ngẫu nhicn hay do trực giác.
Nghiên cứu kinh doanh là những nghiên cứu công phu và điều tra khoa học. Các nhà nghiên cứu luôn 6 xcm xét các dữ liệu mộ: cách cần thận đê khám phá tất cà nhùng điều có the biết về doi lượng nghiên cửu. Thứ hai, đê có nhừng thông tin hay dữ liệu chính xác, nhà nghiên cứu kinh doanh phải thực hiện công việc cùa họ một cách khách quan. Đo đó, vai trò của nhà nghiên cửu phải chí công vô tư.
Neu quá trình nghiên cửu không thoà màn điêu này thi kết quả nghiên cứu sè không có nhừng thông tin chính xác và khách quan. Thứ ba, nghiên cứu kinh doanh dược áp dụng trong mọi lĩnh vực của quàn lý như: sàn xuất, marketing, nhân sự. tài chính và các lĩnh vực khác. Nghiên cứu kinh doanh là một công cụ cần thiết, nó lạo ra và cung cấp những thông tin có chất lượng dối với quàn lý trong việc giải quyết vấn đề và ra quyết định.
Thông qua việc giảm được sự không chắc chắn của các quyết định, nghiên cửu kinh doanh se hạn chế việc ra quyết định sai. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ nên là một công cụ hỗ trợ quan trọng đối với quản lý, chứ không thê thay the quàn lý. Việc áp dụng nghiên cứu kinh doanh vần là mội nghệ thuật của quản lý. Cooper và Pamela s.
Schindler, nghiên cứu kinh doanh là một cuộc điều tra có tính hệ thông nhăm cung cấp những thông tin cơ bàn giúp cho nhà quàn lý có CƯ sờ đè ra quyêt dịnh kinh doanh. Theo Jill Hussey và Roger Hussey, nghiên cứu kinh doanh được định nghĩa dựa trên ba khía cạnh như sau: • Nghiên cứu kinh doanh là một quá trình diều tra và thu thập số liệu • Cỏ hệ thống và có phưímg pháp luận • Mục đích là nhằm làm tãng sự hiếu biết về dối tượng nghiên cứu Ngoài nhừng điêm khác biệt, hầu hết các khái niệm về nghiên cứu kinh doanh đều có những điềm chung cơ bàn như sau: - Nghiên cứu kinh doanh là một cuộc điều tra có tính hệ thống và phương pháp luận - Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm thu thập dữ liệu hỗ trợ cho việc ra qu}êt định quàn lý 7 - Nghiên cứu kinh doanh giúp chuyền quyết định dựa vào kinh nghiệm sang quyết định có cơ sở thông tin thu thập được. Bởi vậy, có thề hiểu nghiên cứu kinh doanh là một quá trình thu thập dữ liệu có hệ thống và phương pháp luận, nghiệp vụ xứ lý nhừng dừ liệu đó nhằm đưa ra những thông tin cần thiết hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc ra quyết định. Những chủ đề cơ bản của nghiên cứu kinh doanh Chủ đề nghiên cứu kinh doanh có phạm vi rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực kinh doanh và quàn trị doanh nghiệp.
Dưới đây là một số lĩnh vực chính yếu: 1. Nghiên cứu về kỉnh doanh chung của doanh nghiệp - Nghiên cứu về xu hướng thay đồi của môi trường toàn cầu và nền kinh tế cùa các quốc gia (giá cà và lạm phát.) - Nghiên cứu về xu hướng và dự báo sự phát triền cùa ngành - Nghiên cứu các vấn đề kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp (định vị nhà máy và kho hàng, thôn tính và sáp nhập, quàn lý chất lượng toàn diện, quản lý đổi mới công nghệ. Nghiên cứu về tài chính - Xu hướng thay đổi tỷ lệ lãi suất tài chính - Xu hướng thay đồi về cổ phiếu, trái phiếu và giá trị hàng hoá - Tồ hợp của các nguồn vốn khác nhau - Quan hệ đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro - Ảnh hưởng của thuế - Phân tích các giỏ đầu tư - Tỳ lệ lợi nhuận mong đợi - Các mô hình định giá tài sản - Rủi ro tín dụng - Phân tích chi phí ỉ. Nghiên cứu về hành vi tổ chức và quản trị nhân sự - Mức độ trung thành và thoả mãn công việc 8 - Kiểu lânh đạo - Năng suất lao động - Hiệu quả tổ chức - Các nghiên cứu cấu trúc - vẩng mặt và bỏ việc - Môi trường thuộc tồ chức - Giao tiếp trong tồ chức - Nghiên cứu về môi trường vật chất - Các xu hướng cùa liên đoàn lao động 1.
Nghiên cứu marketing và bản hàng - Các thước đo về tiềm năng thị trường - Phân tích thị phần - Xác định các đặc tính của thị trường - Phân tích doanh thu - Kênh phân phối - Kiểm tra khái niệm sàn phẩm mới - Kiểm định thị trường - Quàng cáo - Hành vi của người mua - Mức độ thoà màn của khách hàng 1. Nghiên cứu các hệ thống thông tin - Đánh giá nhu cầu thông tin và kiến thức - Sử dụng và đánh giá hệ thống thông tin máy tính - Mức dộ thoả màn cùa nhưng hỗ trợ kỹ thuật - Phân tích cơ sở dừ liệu - Khai thác dữ liệu - Xem xét các trang Web quốc tế 9 1. Nghiên cứu trách nhiệm xả hội díu doanh nghiệp - Nghiên cứu nhừng ành hưởng của mỏi truờng sông - Những giới hạn của luật pháp đối vời quàng cáo và khuyến mài - Nghiên cứu giá trị xà hội và đạo đức - Nghiên cứu sự khác biệt về giới tính, tuôi và chùng tộc 1. Thời điếm cần sử dụng nghiên cứu kinh doanh Nghiên cứu đe có những thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết đinh là cần thiêt.
Tuy nhiên, điêu này không phải khi nào cũng xảy ra. Trong nhiêu trường hợp nhà quàn lý phải xem xét các yếu tố cơ bàn dề quyết định liệu có nên thực hiện nghiên cứu hay không? Những yếu tố đó bao gồm: (1) giới hạn về thời gian; (2) sự sẵn có của dừ liệu; (3) lợi ích của thông tin dưa lại so vời chi phí bô ra. Giới hạn về thời gian Một nghiên cứu có hệ thống thường sử dụng rất nhiều thời gian. Trong nhiều trường hợp cần có nhũng quyết định ngay thì sẽ không đủ thời gian cho nghiên cứu.
Nhừng quyết định như vậy thông thường dược thực hiện trong các tình huống không có thông tin hay sự hiêu biết không đây đù vê đối tượng nghiên cứu. Mặc dù khà năng ra quyết định không dúng rất cao, nhung trong nhiều trường hợp khẩn cấp nhà quản lý phài ra quyết định không dựa vào nghiên cứu. Sự sẵn cỏ của dừ lieu Trong nhiều trường họp nhà quản lý ra quyết định mà không cân thực hiện điều tra vì những thông tin can thiết cho quyết định cùa họ đêu có sẵn. Ngược lại, nếu thông tin không sẵn cỏ thì nghiên cứu nen được thực hiện.
Tuy nhiên, đê tiêp tục quyết định liệu có nen thực hiện nghiên cứu tiếp hay không, nhà quản lý nên xem xét thêm các you tố khác. Lợi ích và chi phi của nghiên cứu Lợi ích của nghiên cứu đối với việc ra quyết định là khá rõ ràng, Tuy nhiên, quyết định thực hiện nghiên cứu hay không cũng giống như quyết định đầu tư, nghĩa là những lợi ích đem lại liệu có lớn hơn chi phí thực hiện nghiên cứu hay không.