Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kinh doanh dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu Chương 2: Thực trạng kinh doanh dịch vụ Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Công ty Bảo Hiểm MIC Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh kinh doanh vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Công ty Bảo hiểm MIC Hà Nội. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái quát chung về dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu 1.
Khái niệm dịch vụ bảo hiểm Trong cuộc sống cũng như trong sản xuất, con người luôn có nguy cơ gặp phải các rủi ro vì những nguyên nhân khác nhau như: bão lụt, hạn hán, bệnh tật, tai nạn… Mỗi khi gặp phải rủi thường gây nên hậu quả khó lường làm ảnh hưởng đến cuộc sống, sản xuất và sức khỏe của con người. Bởi vậy, ngay từ khi loài người xuất hiện thì nhu cầu an toàn của con người cũng xuất hiện. Ban đầu chỉ là những biện pháp đơn giản như: cầu xin các đấng thần linh và chúa trời phù hộ hay tự bảo vệ cho mình bằng cách phân chia rủi ro và tiết kiệm tài chính phòng tránh những lúc gặp rủi ro. Khi cuộc sống và xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu an toàn đối với con người trước những rủi ro ngày càng được quan tâm nhiều hơn.
Đặc biệt khi sản xuất và khao học kỹ thuật phát triển, các rủi ro cũng trở nên phức tạp và khó lường hơn trước thì nhu cầu an toàn của con người về cuộc sống và tài sản của họ được quan tâm hơn bao giờ. Xuất phát từ nhu cầu trên, các công ty bảo hiểm đã ra đời và phát triển các dịch vụ bảo hiểm nhằm chia sẻ rủi ro với mọi người. Vậy dịch vụ bảo hiểm được hiểu như thế nào? Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam ( 2000) thì “ Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bội thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Như vậy, Luật này chỉ đề cập đến hoạt động thương mại dịch vụ mà đối tượng ở đây là dịch vụ bảo hiểm.
5 Theo phân loại của GATS ( Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO) thì dịch vụ bảo hiểm là một phân ngành dịch vụ thuộc ngành thứ 7 ( dịch vụ tài chính) trong tổng số 12 ngành và 155 phân ngành dịch vụ. Theo GATS, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chnhs của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác ( trừ bảo hiểm). Như vậy, trong phần phụ lục , GATS cũng chỉ mới đưa ra khái niệm vê dịch vụ tài chính và nêu tên dịch vụ bảo hiểm như một phân ngành của dịch vụ tài chính mà chưa đưa ra được định nghĩa cụ thể về dịch vụ bảo hiểm.
Còn theo “ Bản giải thích về các loại dịch vụ liệt kê trong hệ thống phân loại sản phẩm chủ yếu của Liên Hợp quốc CPC ” thì dịch vụ bảo hiểm nằm trong nhóm dịch vụ có mã 812 “ dịch vụ bảo hiểm ( gồm cả tái bảo hiểm) và dịch vụ quỹ hưu trí ngoại trừ dịch vụ an sinh xã hội băt buộc “. Nhóm này được định nghĩa là dịch vụ phát hành bảo hiểm, bao gồm thanh toán khi người ký hợp đồng bảo hiểm chết hoặc vào cuối thời hạn thỏa thuận, dù có yếu tố tiết kiệm hay không. Tất cả những quan điểm trên chỉ mới đưa ra được cái nhìn tổng quát và phân loại dịch vụ bảo hiểm như một phân ngành của dịch vụ tài chính, chưa đưa ra được khái niệm cụ thể về dịch vụ bảo hiểm. Theo quan điểm của tác giả thì: “Dịch vụ bảo hiểm là sự cam kết của công ty bảo hiểm bồi thường cho những tổn thất của người được bảo hiểm khi họ gặp rủi ro được cụ thể hóa thông các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
Người được bảo hiểm phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để mua sự cam kết đó”. Như đã nói ở trên, dịch vụ bảo hiểm hàng hóa là một bộ phận của dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ - một phân ngành của dịch vụ bảo hiểm. Đây là loại dịch vụ bảo hiểm có phạm vi bảo hiểm bao gồm những thiệt hại hoặc tổn thất đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Vì vậy có thể hiểu rằng: “ Dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu là một loại hình dịch vụ bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là hàng hóa trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng bằng đường thủy, đường sắt, đường bộ và đường hàng không giữa các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới”.
Đối 6 với loại hình dịch vụ bảo hiểm này, các công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho những thiệt hại hoặc tổn thất toàn của hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng hoá là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên hoặc những mối đe doạ nguy hại, khi xảy ra sẽ gây lên tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Ví dụ như: tàu đắm, hàng mất, hàng bị đổ vỡ, hư hỏng. Rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển có nhiều loại, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể phân rủi ro thành những loại sau: * Thiên tai: Thiên tai là những hiện tượng tự nhiên mà con người không thểchi phối được như: biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần.
* Tai hoạ của biển: là những tai hoạ xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển như: tàu bị mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, tàu bị lật úp, mất tích. những rủi ro này được gọi là những rủi ro chính. * Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do các tác động ngẫu nhiên bên ngoài, không thuộc những tai hoạ của biển nói trên. Tai nạn bất ngờ khác có thể xảy ra trên biển nhưng nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển, có thể xảy ra trên bộ, trên không trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá, giao nhận, lưu kho, bảo quản hàng như: hàng hoá bị vỡ, lát, hấp hơi, thiếu hụt, mất trộm, mất cắp, không giao hàng.
những rủi ro này được gọi là những rủi ro phụ. * Rủi ro do bản chất hoặc do tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm hoặc những thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm chễ. Theo nghiệp vụ bảo hiểm thì những rủi ro của hàng hoá xuất nhập khẩu có thể được chia thành các loại sau đây: * Rủi ro thông thường được bảo hiểm: là những rủi ro được bảo hiểm một cách bình thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc. Đây là những rủi ro mang tính bất ngờ ngẫu nhiên xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm như: thiên tai, tai hoạ của biển, tai nạn bất ngờ khác tức là bao gồm cả rủi ro chính và rủi ro phụ.
* Rủi ro bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì phải thoả thuận riêng, thoả thuận thêm chứ không được bồi thường theo các điều kiện bảo 7 hiểm gốc. Loại rủi ro này gồm: rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố được bảo hiểm theo điều kiện riêng. * Rủi ro loại trừ: là những rủi ro không được người bảo hiểm nhận bảo hiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trường hợp. Đó là các rủi ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra hoặc các thiệt hại do nội tỳ, bản chất của hàng hoá, do lỗi của người được bảo hiểm, thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, rủi ro có tính chất thảm hoạ mà con người không lường trước được, quy mô, mức độ và hậu quả của nó.
Tóm lại, các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất. Việc phân nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan trọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay không. Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây ra mới được bồi thường. Tổn thất trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là những hư hỏng, thiệt hại của hàng hoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra.
Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có hai loại tổn thất là tổn thất bộ phận và tổn thất toàn bộ: * Tổn thất bộ phận là tổn thất mà một phần của đối tượng được bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại. Tổn thất bộ phận có thể là tổn thất về số lượng, trọng lượng, thể tích hoặc giá trị. * Tổn thất toàn bộ tức là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới bảo hiểm nữa. Một tổn thất toàn bộ có thể là tổn thất toàn bộ thực tế hay tổn thất toàn bộ ước tính: - Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng hay bị phá huỷ toàn bộ, không lấy lại được như lúc mới bảo hiểm nữa.
Trong trường hợp này, người bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm. 8 - Tổn thất toàn bộ ước tính tức là thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm chưa tới mức tổn thất toàn bộ nhưng đối tượng bảo hiểm bị từ bỏ một cách hợp lý vì tổn thất toàn bộ thực tế xét ra là không thể tránh khỏi hoặc những chi phí đề phòng, phục hồi tổn thất lớn hơn giá trị của hàng hoá được bảo hiểm. Khi đối tượng là hàng hoá bị từ bỏ, sở hữu về hàng hoá sẽ chuyển sang người bảo hiểm và người bảo hiểm có quyền định đoạt về hàng hoá đó. Khi đó, người được bảo hiểm có quyền khiếu nại đòi bồi thường tổn thất toàn bộ.