Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh cúm 1. Khái niệm về bệnh cúm Cúm là bệnh của cơ quan hô hấp có tính chất cấp tính do vi rút (influenza) gây ra. Bệnh có tính lây nhiễm cao nên có nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng, dễ bùng phát thành dịch lớn và có thể gây ra các biến chứng nặng như viêm phổi bội nhiễm.
Cúm gia cầm là bệnh cúm xảy ra ở gia cầm, có khả năng lây sang người với tỷ lệ tử vong cao. Bệnh có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, ho, đau họng, có thể dẫn đến viêm phổi nặng và tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời [1], [26]. Khái niệm về dịch cúm Dịch cúm là sự xuất hiện bệnh với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định. Vi rút cúm lây lan do tiếp xúc giữa người bệnh với người lành ở khoảng cách gần (dưới 1m).
Bệnh lây qua đường hô hấp, hơi thở, sổ mũi, qua những hạt nước li ti chứa vi rút cúm. Dịch cúm xuất hiện đột ngột và có thể bùng nổ ở nhiều khu vực khác nhau [14]. Đại dịch cúm hiểu theo nghĩa thông thường là dịch bệnh lan truyền ở qui mô xuyên quốc gia và toàn cầu, và gây ra nhiều tử vong. Đại dịch lan tràn nhanh, xảy ra khi xuất hiện sự thay đổi cơ bản về gien tạo nên một phân týp vi rút cúm mới (thường xuất hiện sau một chu kỳ 10-15 năm).
Kháng nguyên bề mặt được thay bằng một kháng nguyên mới hoàn toàn khác biệt. Chính vì vậy cộng đồng chưa có miễn dịch đối với phân týp vi rút cúm mới này [25].Lịch sử các đại dịch cúm. Trong lịch sử, bệnh giống như cúm lần đầu tiên được Hipporates mô tả vào năm 412 trước công nguyên. Các ổ dịch giống như dịch cúm từ năm 1173 trước công nguyên cũng đã được Hirsch tổng hợp.
Đại dịch đầu tiên với chứng bệnh giống như cúm xuất hiện năm 1580, đây được coi là trận dịch cúm đầu tiên mà con người biết tới. Trong thế kỷ 20 đã chứng kiến 3 đại dịch cúm làm tử vong hàng chục triệu người. Lần 1: Đại dịch cúm 1918-1919 là một thảm họa, người ta ước tính khoảng 20% đến 40% dân số thế giới đã mắc bệnh và 50 triệu người đã chết. Cái chết xảy đến rất nhanh, một số người buổi sáng vẫn còn khỏe nhưng đến đêm đã chết.
Những người không chống cự được với căn bệnh trong vòng một vài ngày đầu thường chết do biến chứng cúm (như viêm phổi) do vi khuẩn gây ra. Tỷ lệ tử vong cao ở nhóm người lớn khỏe mạnh cũng như nhóm có nguy cơ cao. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao nhất ở người lớn từ 20 đến 50 tuổi [27]. Lần 2: Năm 1957 - 1958 “cúm châu Á - Asian “flu” do đại dịch vi rút cúm A (H2N2) gây nên.
Tháng hai năm 1957, một đại dịch cúm được phát hiện đầu tiên tại Viễn Đông. Dịch bắt đầu từ Hồng Kông làm chết từ 2 - 4 triệu người. Đại dịch cũng có 2 làn sóng, lần 2 nặng hơn lần 1 rất nhiều [27]. Lần 3: 1968 - 1969: Đầu năm 1968, đại dịch cúm được phát hiện đầu tiên tại Hồng Kông kéo dài hơn 1 năm, do vi rút cúm A (H3N2) gây ra.
Theo thống kê số liệu từ website Pandemicflu, trận dịch đã làm chết 1 - 4 triệu người. Dịch có 2 làn sóng nhưng lần 2 không thay đổi nhiều so với lần 1 [28]. Năm 2009, thế giới chứng kiến đại dịch cúm A (H1N1) lan rộng quy mô toàn cầu với trên 25.000 ca bệnh, trong đó có 139 người tử vong [19], [24]. Lịch sử các vụ đại dịch cúm trước đây và mối đe dọa hiện nay cho thấy các týp mới của cúm A không xuất hiện trong các khoảng thời gian xác định như người ta nghĩ và không phải tất cả các trường hợp người bị nhiễm vi rút cúm týp A mới đều trở thành đại dịch.
Khi đại dịch mới xuất hiện, có thể một vài làn sóng dịch xuất hiện với khoảng cách thời gian từ 6 - 9 tháng trước khi hậu quả nặng nề do vi rút 6 cúm xảy ra. Điều này gợi ý rằng các chương trình phòng bệnh kèm theo việc dùng vắc xin với các thuốc kháng vi rút có thể nên được sử dụng mạnh hơn ở đợt dịch thứ hai so với đợt dịch thứ nhất. Việc xây dựng kế hoạch khống chế đại dịch nên tính đến khả năng lây lan cực nhanh của vi rút gây đại dịch. Các giai đoạn của một đại dịch cúm Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới về các giai đoạn của đại dịch cúm ở người năm 1999 và sửa đổi (năm 2005) thì một đại dịch cúm bao gồm các giai đoạn sau [18].
Giai đoạn 1: chưa xuất hiện phân týp vi rút cúm ở động vật có khả năng gây bệnh ở người Giai đoạn 2: Vi rút cúm ở động vật có khả năng gây bệnh cho người và được coi là vi rút có khả năng gây thành đại dịch. Giai đoạn 3: Vi rút cúm ở động vật hoặc vi rút cúm ở động vật và người tái tổ hợp gây ra một số trường hợp mắc bệnh trên người hoặc xuất hiện chùm ca bệnh nhưng chưa đủ bằng chứng về khả năng lây truyền từ người sang người trong cộng đồng. Giai đoạn 4: Đã có bằng chứng về sự lây truyền từ người sang người của vi rút có nguồn gốc từ động vật, nhưng không đủ khả năng lây truyền kéo dài trong cộng đồng, khả năng xảy ra đại dịch ở mức trung bình tới mức cao. Giai đoạn 5: Vi rút có khả năng lây truyền dễ dàng từ người sang người và gây dịch tại cộng đồng ở ít nhất hai quốc gia trong cùng một khu vực của WHO.
Giai đoạn 6: Vi rút đã gây thành dịch ở cộng đồng ở ít nhất một nước khác ngoài khu vực ban đầu của WHO. 7 Lây truyền trong cộng đồng Chủ yếu lây truyền Thoái lui trên động vật; Lây truyền hạn chế 5-6 Sau đại trên người. 4 Lây truyền từ người dịch sang người 1-3 Thời gian Hình 1. Các giai đoạn của một đại dịch cúm 1.
Tình hình dịch cúm A (H7N9) 1. Tình hình dịch cúm A (H7N9) trên thế giới Cúm A (H7N9) là chủng cúm gia cầm mới bùng phát tại Trung Quốc vào tháng 3 năm 2013. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới, từ ngày 29/3/2013 đến ngày 31/12/2014, trên thế giới đã ghi nhận tổng cộng 470 trường hợp nhiễm cúm A(H7N9), trong đó có 180 trường hợp tử vong tại Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Malaysia. Theo đánh giá của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh châu Âu (ECDC), dịch bệnh cúm A(H7N9) tại Trung Quốc diễn biến thành 02 giai đoạn (02 đỉnh dịch): Giai đoạn 1 có 135 trường hợp nhiễm, giai đoạn 2 tính đến ngày 18/2/2014 có 220 trường hợp nhiễm.
Cả 02 giai đoạn đều xảy ra vào mùa rét tại Trung Quốc. Phân bố về tuổi, giới không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 giai đoạn [21], [22]. Tình hình bệnh cúm A (H7N9) ở Việt Nam Đến thời điểm hiện tại, ngày 15/1/2015, Việt Nam vẫn chưa ghi nhận ca mắc cúm A (H7N9) trên người và trên gia cầm, mặc dù vậy nguy cơ dịch bệnh cúm A (H7N9) xâm nhập vào Việt Nam là rất lớn. Hiện vi rút này đã được phát hiện tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc có chung biên giới với 04 tỉnh của Việt Nam gồm: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.
Nếu gia cầm bị nhiễm vi rút từ Trung Quốc được vận chuyển vào Việt Nam, thì cả gia cầm và người ở Việt Nam cũng có nguy cơ bị lây nhiễm. Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực kiểm soát các chợ buôn bán gia cầm sống và lập kế hoạch khẩn cấp để ngăn chặn sự lây lan của vi rút này. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh cúm A (H7N9) 1. Tác nhân gây bệnh.
Vi rút cúm A(H7N9) là những vi rút thuộc týp A, chủng H7N9, thường gây bệnh cúm ở các loại gia cầm và các loài chim. Mặc dù một số loại vi rút cúm chủng H7(như H7N2, H7N3 và H7N7) lây nhiễm ở người đã được ghi nhận, nhưng chưa có ca lây nhiễm nào được báo cáo cho đến thang 3 năm 2013 khi có các trường hợp được báo cáo từ Trung Quốc. Đường lây truyền. Bệnh cúm A (H7N9) do nhiễm chủng vi rút cúm A (H7N9) có nguồn gốc từ gia cầm và một số loài chim.
Đặc tính của vi rút H7N9 là thường xuyên biến đổi thành chủng mới dễ dàng lây truyền sang người. Tuy nhiên đường lây truyền của vi rút cúm A (H7N9) hiện tại chưa được hiểu rõ và chưa có bằng chứng về sự lây truyền của vi rút từ người sang người [3]. Hầu hết các trường hợp lây nhiễm ở người đã ghi nhận là do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với gia cầm bị nhiễm hay môi trường bị nhiễm bệnh (như các khu chợ bán gia cầm sống, nơi nhốt hoặc nơi giết mổ gia cầm). Do vi rút cúm A(H7N9) không gây các bệnh nghiêm trọng ở gia cầm khi bị nhiễm, nên sự lây nhiễm có thể rất âm thầm, vi rút lan rộng trong gia cầm và các động vật.
Triệu chứng lâm sàng Bệnh diễn biến cấp tính và có một số biểu hiện như: Sốt đột ngột, ho, khó thở, đau ngực, viêm phổi nặng và suy hô hấp. Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm loại vi rút này đều bị viêm phổi nặng, có thể dẫn tới tử vong. Chỉ có một số ít người có các biểu hiện của triệu chứng cúm nhẹ và sau đó bình phục mà không cần điều trị y tế. Khối cảm thụ [12].
Tất cả mọi người đều có thể nhiễm cúm A (H7N9). Để dễ dàng cho việc giám sát dịch bệnh tại CK, Bộ Y tế đã đưa ra một số định nghĩa để phân loại ca bệnh như sau: + Ca bệnh nghi ngờ: Là ca bệnh có biểu hiện sốt (thường trên 38oC) và một trong các triệu chứng về hô hấp như: viêm long đường hô hấp, đau họng, ho và có yếu tố dịch tễ liên quan: khởi bệnh trong vòng 7 ngày có tiếp xúc gần với trường hợp bệnh xác định, hoặc đến hoặc sống tại vùng có một hay nhiều trường hợp bệnh được xác định nhiễm vi rút cúm A (H7N9). Tiếp xúc gần là sống cùng hoặc tiếp xúc trực tiếp với các trường hợp có thể nhiễm hoặc đã được xác định cúm A (H7N9) trong thời kỳ lây truyền.