Đặt vấn đề Ngành Chăn nuôi - Thú y là một ngành rất phát triển, chăn nuôi đã trở thành một ngành sản xuất chính trong sản xuất nông nghiệp, góp phần to lớn vào phát triển kinh tế xã hội, trong đó có chăn nuôi dê. Theo số liệu của Cục thống kê Thái Nguyên (2019, 2020) [18] [19] tổng số lượng dê tính đến thời điểm 01/10 hàng năm, năm 2018 là 42.260 con, tương đương với 77,47% so với năm 2017, năm 2019 là 21.180 con, tương đương 52,13% so với năm 2018. Do số lượng dê bị giảm nên kéo theo sản lượng thịt hơi xuất chuồng cũng giảm, năm 2018 sản lượng của tỉnh Thái Nguyên là 480 tấn giảm 132,9 tấn tương đương 78,31% so với năm 2017. Mặc dù con dê đã và đang dần khẳng định được những ưu thế của nó nhưng để ngành chăn nuôi dê phát triển hơn nữacần rất nhiều yếu tố để thúc đẩy.
Đặc biệt là những nghiên cứu về khả năng sản xuất và các phương pháp phòng và trị bệnh cho con dê trong thời kỳ sắp tới. Dê là một loài có khả năng thích nghi cao với nhiều điều kiện sống khác nhau, bộ máy tiêu hóa của dê rất phát triển, dê có thể tiêu hóa nhiều loại chất xơ khác nhau, ngoài ra dê có thể tiêu hóa cả tinh bột. Dê ăn được nhiều loại cỏ và lá cây ăn quả như: lá mít, lá ổi, lá sấu,. Dê có khả năng leo trèo lên những đồi núi dốc đề tìm kiếm các nguồn thức ăn.
Các sản phẩm từ dê là sữa dê và thịt dê có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, sữa dê và thịt dê chiếm vị trí quan trọng là một nguồn cung cấp protein động vật cho con người. Vì những ưu điểm mà dê mang lại, chăn nuôi dê đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, trong cải thiện kinh tế gia đình ở các nông hộ, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo ở các địa phương. m 2 Xuất phát từ vấn đề thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực hiện các biện pháp phòng trị bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu biện pháp phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục đích nghiên cứu - Đưa ra được biện pháp phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên dê hiệu quả để giải quyết được những khó khăn về dịch bệnh trên đàn đê địa phương nuôi tại Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Thu thập những thông tin khoa học về các biện pháp phòng và điều trị một số bệnh thường gặp xảy ra ở dê địa phương Định Hóa nuôi tại Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đưa ra các biện pháp phòng và phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp cho dê đạt hiểu quả cao. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài là cơ sở hướng dẫn cho người chăn nuôi dê nâng cao hiệu quả phòng và điều trị một số bệnh thường gặp trên dê. Qua đó, nâng cao hiệu quả, hiệu suất sản xuất kinh tế trong chăn nuôi dê. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập * Điều kiện tự nhiên - Huyện Phú Lương có tổng diện tích tự nhiên là 369,34 km2 gồm thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên và 14 xã. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: nằm trên địa bàn xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên 5,8ha. Địa giới hành chính tiếp giáp với các xã sau: phía Đông Bắc và Đông tiếp giáp với xã Phú Đô; phía Tây và Tây bắc tiếp giáp xã Yên Lạc; phía Nam giáp với xã Vô Tranh.
* Điều kiện về khí hậu - Huyện Phú Lương có kiểu khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng V đến tháng X và mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau. Thời tiết chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Mỗi lần gió mùa Đông Bắc tràn về, nhiệt độ thường hạ xuống đột ngột và hay có giông đi kèm nhất là vào thời kì đầu (tháng IX-X) và cuối (tháng IV-V). Ngoài ra, thời tiết nồm, độ ẩm có thể lên tới trên 90% đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình chăn nuôi nuôi.
- Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: nằm trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc nên có đặc điểm chung về thời tiết của khu vực. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 nhưng lượng mưa chủ yếu tập chung vào các tháng 6, 7, 8. Những tháng còn lại lượng mưa thấp hơn.
Nhiệt độ trung bình từ 23˚C - 28˚C. Độ ẩm tương đối từ 80 - 85%. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, đặc điểm của những tháng này là lượng mưa ít, nhiệt độ thấp, thời tiết khô lạnh. Nhiệt độ trung bình từ 15 - 19˚C.
Có những thời điểm m 4 nhiệt độ xuống tới 4 - 7˚C, độ ẩm tương đối 70 - 75%. Nhìn chung điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sản xuất của trang trại. Tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 mùa là điều kiện bất lợi cho sản xuất. Lượng mưa tập chung vào tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình đất canh tác bằng phẳng, pha cát dẫn đến hiện tượng ngập úng cây trồng.
Ngược lại mùa khô kéo dài nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất cây thức ăn cho đàn gia súc. * Giao thông - Huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là huyện miền núi, nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Phía Bắc giáp với huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn); phía Nam và Đông Nam giáp T.P Thái Nguyên; phía Tây giáp huyện Định Hóa; phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ; phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ. Huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm T.P Thái Nguyên 22km về phía Bắc.
Giao thông có nhiều trục đường chính nên rất thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y và các sản phẩm chăn nuôi. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: nằm ở xã Tức Tranh có điều kiện giao thông thuận lợi. Cách thành phố Thái Nguyên 30km về phía Tây Nam theo tuyến quốc lộ 3. * Thủy lợi - Huyện Phú Lương có 41 trạm bơm, 193 công trình thủy lợi lớn, nhỏ (29 bơm; 49 hồ; 9 đập; 61 ao đầm; 45 phai), hàng trăm km kênh mương dẫn nước và kênh nội mương đồng, đảm bảo tưới tiêu cho 1.
- Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa có dòng Sông Cầu chảy qua nên thường xuyên cung cấp nước cho trồng trọt và chăn nuôi. Trang trại còn xây dựng hệ thống ống dẫn nước cho sản xuất. Chính vì vậy, diện tích sản xuất của trang trại được đảm bảo về nước tưới. * Điều kiện về địa hình, đất đai - Huyện Phú Lương là vùng đồi núi phía Bắc độ dốc lớn, phía Nam địa m 5 hình khá bằng phẳng, xen đồi thấp.
Rừng và đồi núi chiếm khoảng 75% diện tích. Phú Lương, có hệ thống đường giao thông thuận lợi. Với 38 km đường quốc lộ 3, chạy dọc theo chiều dài của huyện; toàn huyện có 136 km đường liên xã và 448 km đường liên thôn, các tuyến đường đã và đang được đầu tư, nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Hợp tác xã Chăn nuôi động vật Bản địa: có địa hình bằng phẳng, có dòng Sông Cầu chảy qua, đất đai tương đối màu mỡ, tầng đất canh tác khá dầy.
Đây là điều kiện tương đối thuận lợi cho việc sản xuất của trang trại, đặc biệt là sản xuất cây thức ăn xanh phục vụ cho đàn gia súc. Trong những năm gần đây trại đã đầu tư cho thử nghiệm các giống cây thức ăn xanh có năng xuất cao và giá trị dinh dưỡng cao. Chính vì vậy, mà đã giải quyết được nhu cầu thức ăn xanh cho gia súc vào mùa mưa và có thức ăn dự trữ cho mùa khô. Tổng diện tích của trang trại là 5,8ha trong đó có 1,5ha là diện tích trồng cây thức ăn cho gia súc.
Diện tích đồng cỏ chăn thả là 01ha. Như vậy, đây là điều kiện khá thuận lợi cho phát triển cây thức ăn gia súc. * Điều kiện kinh tế - xã hội - Huyện Phú Lương là cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, kết nối với các tỉnh: Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang qua các tuyến giao thông như tuyến Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B, Quốc lộ 3 mới, Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn)… Phía Bắc của huyện là xã Yên Ninh, tiếp giáp với huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch khu đô thị cửa ô phía Bắc tỉnh Thái Nguyên với diện tích 29 ha và quy hoạch tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua. Phía Nam của huyện là xã Sơn Cẩm tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên, có cụm công nghiệp Sơn Cẩm được quy hoạch với diện tích 75ha và cũng là điểm nối với tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên.
Đây là điều kiện quan trọng cho việc giao thương hàng hóa giữa Thái Nguyên với các tỉnh lân cận cũng như cơ hội để thu hút sự quan tâm của các doanh m 6 nghiệp, các tổ chức, cá nhân tìm hiểu cơ hội đầu tư vào huyện Phú Lương. Sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, thế mạnh, huyện Phú Lương đã tăng cường triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng và giá trị của sản phẩm nông nghiệp. Thông qua triển khai hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 4,2%; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt đến năm 2020 ước đạt 92 triệu đồng, đời sống kinh tế của người dân khu vực nông thôn không ngừng được cải thiện. Những năm gần đây huyện Phú Lương đẩy mạnh việc phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng đa dạng hóa các loại vật nuôi đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế lâu dài cho người nông dân góp phần đáng kể vào mục tiêu xây dựng nông mới tại các địa phương trên địa bàn huyện.