LỜI MỞ ĐẦU Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong chương trình đào tạo của các trường đại học. Trong thời gian thực tập người sinh viên được tiếp cận với thực tiễn sản xuất, rèn luyện tay nghề củng cố và nâng cao kiến thức chuyên môn, nắm được phương pháp nghiên cứu khoa học. Đồng thời, thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian để người sinh viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết về xã hội khi ra trường trở thành người cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn có năng lực công tác. Vì vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học trước khi ra trường.
Xuất phát từ những đòi hỏi trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, được sự phân công của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Công ty CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp điều trị bệnh tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội”.Trong thời gian thực tập được sự giúp đỡ nhiệt tình của chủ trại, cán bộ kỹ thuật và toàn bộ công nhân trong trại cùng với sự chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo và sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và thu được một số kết quả nghiên cứu nhất định. Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập còn ngắn nên trong bản khóa luận này của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! n 1 PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.
Điều tra cơ bản về xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Xã Phù Lưu Tế là một xã nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam. Xã Phù Lưu Tế có địa giới hành chính như sau: Phía Tây giáp xã Xuy Xá, phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa, phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa, phía Đông giáp xã Phùng Xá.
Điều kiện địa hình, đất đai Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng. Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 6,71km2. Trong đó đất nông nghiệp là 318,366 ha, chiếm 47,45%, đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 49,75%), đất chưa sử dụng là 18,81 ha, chiếm 2,8%. Đất đai đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp.
Giao thông vận tải Giao thông ở đây khá phát triển, thuận tiện cho việc giao lưu, đi lại của người dân địa phương. Hầu hết các tuyến đường đã được trải nhựa hoặc rải cấp phối. Ở các thôn còn tự xây dựng các đoạn đường tự quản. Hiện nay, xã đang nâng cấp tuyến đường 430, đoạn chạy ra trục đường 21B đi Hà Nam.
Điều kiện khí hậu thời tiết Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa. - Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,157 mm, thấp nhất là 1,060 mm, trung bình là 1,567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 7 trong năm. n 2 - Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%. - Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC đến 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 7.
Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa trong năm. - Về chế độ gió, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Điều kiện kinh tế, xã hội 1. Dân số và lao động Tính đến đầu năm 2013, dân số của xã là gần 9000 người ở 8 thôn, tỷ lệ tăng dân số qua các năm 2012 là 1,47% và năm 2011 là 1,5%, mật độ dân số 1070 người/km2, số người trong độ tuổi lao động chiếm 56% dân số, chủ yếu là lao động nông nghiệp.
Lao động chưa có chuyên môn kỹ thuật chiếm 80,2%. Dân cư trong xã phân bố chưa đồng đều. Các khu vực lân cận thị trấn và gần trục đường giao thông chính, mật độ dân cư đông, sống tập trung hơn. Dân tộc ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 96%), bên cạnh đó còn có một số dân tộc ít người như: Mường, Thái, H’Mông.
Người dân trong xã cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất, đoàn kết trong nếp sống. Cơ cấu kinh tế Phù Lưu Tế chủ yếu sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc-gia cầm, nuôi trồng thủy sản. Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể trồng hai vụ lúa và một vụ hoa màu trong một năm. Trong những năm gần đây, xã đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại.
Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng trên địa bàn xã đạt 46. Ngành tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, rải rác còn một số hộ trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, đan cói… n 3 1. Văn hóa xã hội - Giáo dục: Trong những năm gần đây ngành giáo dục của xã Phù Lưu Tế có những bước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng giáo dục. Xã đã đầu tư một số trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học.
Trong xã có: + 2 trường mẫu giáo + 1 trường tiểu học + 1 trường trung học cơ sở + Trung tâm hướng nghiệp, bồi dưỡng chính trị huyện cũng được đặt tại xã Phù Lưu Tế. Xã đã phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở. Đa số người dân có trình độ dân trí cao. - Công tác y tế: Xã có trạm y tế với quy mô 3 giường bệnh.
Các thôn đều có y tá chăm sóc sức khỏe cho người dân. Ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân. Chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân ngày càng được quan tâm, nhất là phụ nữ, trẻ em. Thường xuyên quan tâm, tuyên truyền với nhiều hình thức, kết hợp với nhiều biện pháp nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật đã làm giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hàng năm.
Tình hình sản xuất nông nghiệp 1. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt Trồng trọt là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp. Diện tích và sản lượng của một số cây trồng chính được trình bày ở bảng 1. Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 đến năm 2013 Năm 2011 2012 2013 Cây Diện Sản Diện Sản Diện Sản trồng tích lượng tích lượng tích lượng (ha) (tấn) (ha) (tấn) (ha) (tấn) Lúa 380 2.344 Ngô 50 400 42 369,6 30 270 Lạc 38 570 39,5 691,25 42,8 864,56 Khoai tây 17 212,5 20 191,8 24,7 187 Rau màu 50 2.1 cho thấy: Mấy năm trở lại đây, diện tích và sản lượng một số loại cây trồng chính có những biến động nhất định.
Lúa vẫn là cây trồng chủ đạo trên địa bàn xã, với tổng diện tích năm 2011 là 380 ha, sản lượng đạt 2.538 tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 186,7ha nhưng sản lượng đạt 1.344 tấn, tuy diện tích có giảm nhưng năng suất vẫn đạt 7,2 tấn/ha, là do người dân đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, đưa năng suất lên cao. Diện tích và sản lượng ngô giảm mạnh, thay vào đó là các cây công nghiệp và hoa màu ngắn ngày, nhưng đem lại năng suất cao như khoai tây, lạc, bắp cải, su hào,… vào sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do người dân thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng vốn đầu tư cho những loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế. Việc đưa các loại cây có giá trị vào sản xuất được chú trọng, cho nên năng suất và sản lượng cây trồng không ngừng được nâng lên.
Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi Số lượng gia súc, gia cầm của xã có sự biến động qua 3 năm gần đây. Kết quả điều tra số lượng gia súc, gia cầm được trình bày ở bảng 1. Số lượng gia súc, gia cầm của xã năm 2011 - 2013 Đơn vị tính: Con STT Vật nuôi Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 1 Trâu 138 124 115 2 Bò 258 247 235 3 Lợn 9.2 cho thấy: - Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm. Năm 2011 toàn xã có 138 con trâu, đến năm 2013, số lượng đàn trâu giảm xuống còn 115 con.Số lượng bò giảm từ 258 con trong năm 2011, xuống 235 con vào năm 2013.
- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn các xã xuất hiện một số gia đình chăn nuôi từ 10 - 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng với sự thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện, do đó số lượng đàn lợn của xã không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2011, số lượng là 9.898 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 12. Nguyên nhân là một số công ty liên doanh như CP, Dabaco… tập trung đầu tư vốn và kỹ thuật, người dân thuê đất đai và nhân lực để hợp tác phát triển chăn nuôi. - Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt.
Năm 2011, số lượng đàn gia cầm là 46.658 con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn đã tăng lên 54. Có sự tăng lên không ngừng về số lượng đàn như vậy là do mấy năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực hiện triệt để. Giá bán sản phẩm chưa cao nhưng đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. n 6 * Công tác thú y: Huyện Mỹ Đức hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm.
Công tác kiểm tra xuất nhập con giống và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt.