Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đậu Xuân Hòa (2018) thuộc chuyên ngành Lâm nghiệp, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, nghiên cứu về lĩnh vực lâm sản ngoài gỗ và tri thức sinh thái học dân tộc (ethnobotany).

Bối cảnh thực tiễn của đề tài xuất phát từ thực trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngày càng hướng về các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược tự nhiên. Theo số liệu của Viện Dược liệu (2007) được tác giả trích dẫn, Việt Nam sở hữu hệ thực vật phong phú với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 3.948 loài được dùng làm thuốc (chiếm khoảng 37% tổng số loài đã biết). Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây thuốc tự nhiên và kho tàng tri thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng miền núi đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng theo thời gian.

Xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là địa bàn miền núi nằm sát chân dãy núi Tam Đảo. Người dân địa phương có đời sống gắn bó và phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng, đặc biệt là hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Thực tế tại địa bàn cho thấy nguồn cây dược liệu tự nhiên đang bị suy thoái do tình trạng khai thác ồ ạt, mang tính tận diệt để bán cho thương lái. Đồng thời, tri thức chữa bệnh bằng thảo dược của các ông lang, bà mế cao tuổi có nguy cơ thất truyền do thế hệ trẻ không mặn mà hoặc không đủ khả năng kế thừa.

Đề tài xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Điều tra tri thức bản địa về những loài cây lâm sản ngoài gỗ được sử dụng làm thuốc, lập danh mục và đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng tại địa phương.
  2. Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái và giá trị sử dụng của một số loài lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu tiêu biểu.
  3. Thu mẫu và ép tiêu bản thực vật đối với các loài cây lâm sản ngoài gỗ được sử dụng làm thuốc.
  4. Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các loài lâm sản ngoài gỗ cùng các bài thuốc dân gian của đồng bào trên địa bàn xã Quân Chu.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài cây lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng làm thuốc và tri thức bản địa của đồng bào các dân tộc (tập trung vào dân tộc Dao, Sán Dìu...) trong việc thu hái, chế biến và sử dụng dược liệu.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (tập trung thu thập thông tin và mẫu vật tại các xóm Chiểm 1, Chiểm 2, Vang, Hòa Bình 1, Hòa Bình 2).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018 (trong đó thời gian thu thập mẫu vật thực địa diễn ra từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận dựa trên lịch sử nghiên cứu và sử dụng thực vật rừng làm thuốc trên thế giới và tại Việt Nam. Khung lý thuyết tham chiếu các tài liệu y học cổ truyền kinh điển như Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh; Hải Thượng y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác; các công trình phân loại và dược điển học hiện đại gồm Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi), Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc (Vũ Văn Chuyên, 1966), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997), Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999–2000), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2006). Đánh giá tính nguy cấp dựa trên Sách đỏ Việt Nam (phần Thực vật, 2007), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam của Nguyễn Tập (2007).

Phương pháp nghiên cứu được xây dựng gồm các hợp phần chính:

  • Phương pháp thu thập thông tin:
    • Thu thập tài liệu thứ cấp: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng xã Quân Chu.
    • Điều tra xã hội học và phỏng vấn dân tộc học: Sử dụng phương pháp liệt kê tự do kết hợp bảng hỏi bán cấu trúc đối với các hộ gia đình; phỏng vấn sâu các lương y, ông lang, bà mế người Dao, Sán Dìu; tổ chức thảo luận nhóm cộng đồng nhằm ghi nhận tri thức sử dụng, kỹ thuật thu hái, các bài thuốc gia truyền và đánh giá mức độ khan hiếm của loài cây.
  • Phương pháp điều tra thực địa, thu mẫu và xử lý tiêu bản:
    • Tuyến điều tra thực địa được dẫn đường bởi thầy thuốc bản địa tại các khu vực rừng tự nhiên thuộc xã Quân Chu.
    • Thu thập mẫu vật theo quy chuẩn thực vật học: Lựa chọn mẫu đại diện từ 2-3 cá thể, ưu tiên mẫu có đầy đủ cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt). Kích thước tiêu bản định hình tiêu chuẩn 41 x 29 cm; gắn nhãn thực địa kích thước 8 x 13 cm ghi đầy đủ số hiệu, tên địa phương, tên khoa học, đặc điểm sinh thái, công dụng và ngày thu mẫu.
    • Xử lý và làm khô: Mẫu sau khi cố định được ép phẳng và sấy ở nhiệt độ 35–40°C trong 8–12 giờ liên tục cho đến khi khô kiệt, sau đó khâu cố định lên bìa tiêu bản cứng và xử lý chống nấm mốc.
    • Định danh tên khoa học: Mẫu vật được xử lý và giám định hình thái so sánh tại Phòng thí nghiệm của Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) bằng phương pháp so sánh hình thái học truyền thống đối chiếu với hệ thống tài liệu thực vật chí chuyên khảo.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê toán học mô tả, tổng hợp và xử lý dữ liệu định tính và định lượng theo tỷ lệ phần trăm phân bố taxon, cơ cấu bài thuốc và nhóm bệnh.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên rừng và bảo tồn tri thức bản địa về cây thuốc tại xã Quân Chu. Tác giả chỉ rõ mối quan hệ giữa sự suy giảm tài nguyên rừng vùng chân núi Tam Đảo với tình trạng mai một kinh nghiệm chữa bệnh dân gian. Đồng thời, chương này xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, phân tích ý nghĩa khoa học trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực địa cho sinh viên ngành lâm nghiệp và ý nghĩa thực tiễn trong công tác đề xuất giải pháp phát triển bền vững tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2 tổng hợp tư liệu về lịch sử sử dụng cây thuốc của nhân loại (Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Liên Xô cũ) và ước tính của các tổ chức quốc tế (WHO, WWF, IUCN, BGCI) về quy mô loài thực vật làm thuốc cũng như nguy cơ tuyệt chủng của chúng. Tác giả phân tích các giai đoạn phát triển nghiên cứu cây thuốc tại Việt Nam (thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn sau năm 1945 đến nay).

Bên cạnh đó, chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quân Chu: diện tích 4.040,19 ha (40,4 km²), dân số 3.912 người (với 998 hộ, 3.796 nhân khẩu theo thống kê hộ); địa hình đồi núi cao chuyển tiếp đồi bát úp nghiêng từ đông bắc sang tây nam; khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 22,9°C; cơ cấu dân tộc gồm 6 thành phần: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Thái; diện tích đất lâm nghiệp 2.818,14 ha (rừng phòng hộ 260,91 ha, rừng sản xuất 502,23 ha). Chương này cũng chỉ rõ những mặt thuận lợi về nguồn tài nguyên thảo dược phong phú và khó khăn do giao thông hiểm trở, khai thác tự do làm suy thoái nguồn gen dược liệu quý.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương 3 chi tiết hóa đối tượng nghiên cứu là các loài cây lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và tri thức bản địa của đồng bào Dao, Sán Dìu; địa bàn điều tra tại 5 xóm thuộc xã Quân Chu. Tác giả xây dựng bảng khung phân tích phương pháp nghiên cứu (Bảng 3.1) tương ứng từng mục tiêu cụ thể, quy trình phỏng vấn người dân và các thầy lang, kỹ thuật lấy mẫu tiêu bản thực vật ngoài thực địa, nguyên tắc định hình và sấy mẫu ở 35–40°C, tiêu chuẩn nhãn tiêu bản (8 x 13 cm) và kỹ thuật định danh mẫu tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu khảo sát thực địa:

1. Đa dạng thành phần loài và các bậc taxon: Điều tra đã ghi nhận 156 loài cây thuốc thuộc 96 chi, 61 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Sự phân bố giữa các ngành và các lớp có sự chênh lệch lớn.

TT Ngành và lớp Số họ Tỷ lệ (%) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
1 Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 3 4,91 3 3,12 4 2,56
2 Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) 57 93,44 92 95,83 151 96,79
3 Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) 1 1,63 1 1,04 1 0,64
Tổng 3 ngành 61 100 96 100 156 100

Trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta), sự phân bố số lượng họ, chi, loài giữa hai lớp được thống kê như sau:

TT Lớp phân loại Số họ Tỷ lệ (%) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
1 Lớp Mộc lan (Magnoliopsida) 51 89,47 71 77,17 120 79,47
2 Lớp Hành (Liliopsida) 6 10,52 21 22,83 31 20,52
Tổng Ngành Mộc lan 57 100 92 100 151 100

2. Kinh nghiệm chữa bệnh và các bài thuốc dân gian: Khóa luận đã thống kê 10 bài thuốc tiêu biểu trị các nhóm bệnh phổ biến của người dân địa phương, ghi rõ tên phổ thông, tên địa phương, bộ phận dùng và cách phối chế:

TT Nhóm bệnh Tên phổ thông của cây thuốc Tên địa phương Bộ phận sử dụng Cách chế biến và sử dụng
1 Chữa thấp khớp Đu đủ rừng
Cây thu tranh
Cây lai đá
Mạc mươi đông
Mây páng pẩu
Mầy lái
Lá
Lá
Lá
Lấy lá 3 loại cây với tỷ lệ bằng nhau, dùng tươi hoặc phơi khô, xao nóng rồi đắp vào chỗ đau.
2 Bệnh gan Cây chấp bút
Cây huyết dụ
Cây hà thủ ô
Như tóc tàm
Mầy thít sội
Hào ém pệ
Lá
Lá
Thân, lá, rễ
Dùng khoảng 0,3 kg khô sắc lấy nước uống, có thể uống thay nước hằng ngày.
3 Cảm cúm Tía tô
Cây duối
Bưởi bung
Đài bi
Phạc hum lơng
Mây xịch san
Mặc kệt đông
Mây xi phông
Lá, thân
Lá
Lá
Lá
Dùng thân và lá đun sôi với nước để xông hơi.
4 Chữa đau đầu Nhọ nồi
Chuối rừng
Đơn nem
Nhọ nồi
Cở cói đông
Mây măng xi
Cả cây
Lá
Cành, lá
Giã nhỏ, bọc vào lá chuối, vùi tro bếp cho nóng rồi chườm lên thái dương.
5 Viêm phế quản cấp Ngải cứu
Cây xương sông
Phặc kim
Phặc hom nèn
Cả cây
Lá
Giã nát, vắt lấy một bát nước cốt để uống.
6 Đái ra máu Thầu dầu đỏ
Bông mã đề
Mạc lụm ca lơng
Phặc mạ mèn
Lá
Cả cây
Đun nước uống.
7 Bệnh thận Cây chay
Mía đỏ
Dạ cẩm
Núc nác
Cây tre
Cây mào gà
Tơ hồng vàng
Cờ chay
Tấn ói lơng
Tấn ma lưng
Mạc mác nác
Tấn mươi phay
Mạc cày lưng
Nhữ hang lưng
Lá, vỏ thân
Thân
Lá
Thân, lá
Lá
Hoa, lá
Toàn cây
Thu hái dược liệu về phơi khô, phối hợp sắc nước uống.
8 Bệnh trĩ Dây huyết dụ
Nhọ nồi
Vông gai
Lá gai
Mầy thít sụi
Nhọ nồi
Cờ tào nam
Mầy đái
Lá
Cả cây
Lá
Thân, lá
Phối hợp các vị, sắc nước uống.
9 Hạ sốt Đu đủ rừng
Rau dấp cá
Mạc mươi đông
Tầm sằm lùng
Cả cây
Cả cây
Giã nhỏ, đun sôi lấy nước uống.
10 Chữa hắc lào Cây riềng Làng lèo Củ Giã nhỏ củ riềng, ngâm với rượu rồi dùng bôi trực tiếp vào vùng da bị bệnh.

3. Đặc điểm hình thái và sinh thái của các loài cây thuốc tiêu biểu: Khóa luận mô tả hình thái, đặc điểm sinh thái và phân bố của 40 loài cây thuốc quen thuộc tại xã Quân Chu: Bưởi bung, Bồ công anh, Cây lá bỏng, Cà gai, Cỏ lào, Cỏ xước, Cối xay, Dâm bụt, Dẻ quạt, Đinh lăng, Đu đủ rừng, Duối, Gạo, Huyết dụ, Kim giao, Gai, Mía dò, Nhọ nồi, Ngải cứu, Ngái, Nghệ đen, Phèn đen, Rau má, Sa nhân, Tía tô, Thanh táo, Thầu dầu tía, Thuốc lá, Tai chua, Cỏ mần trầu, Kim ngân, Dành dành, Chìa vôi, Hà thủ ô, Ké đầu ngựa, Lá lốt, Núc nác, Mò trắng, Gấc, Mua.

4. Đánh giá thực trạng khai thác, quản lý và áp lực thị trường:

  • Phương thức khai thác của người dân chủ yếu là hái bằng tay, dùng dao chặt cành/thân hoặc dùng cuốc đào rễ củ. Thói quen thu hái triệt để cả thân, cành, lá, rễ khiến cây không còn khả năng tái sinh tự nhiên.
  • Thị trường thu mua dược liệu tự do với giá cao từ các thương gia Trung Quốc đã kích thích hoạt động thu hái tận diệt các loài như: Trầm gửi cây gạo, Cốt toái bổ, Thạch xương bồ, Bạch đồng nữ, Bồ công anh, Ké đầu ngựa, Kim ngân, Bông mã đề, Tam thất, Sa nhân.
  • Nguồn tài nguyên của nhiều loài cây thuốc quý hiếm ngày càng cạn kiệt, rất khó tìm gặp trong tự nhiên như: Bình vôi (Stephania spp.), Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì, Ba kích.

Kết quả và đóng góp

Về mặt khoa học, khóa luận đã khảo sát và lập danh mục nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc tại xã Quân Chu với 156 loài thuộc 96 chi và 61 họ thuộc 3 ngành thực vật có mạch:

  • Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) giữ vai trò ưu thế tuyệt đối với 57 họ (93,44%), 92 chi (95,83%) và 151 loài (96,79%). Trong đó, lớp Mộc lan (Magnoliopsida) chiếm đa số với 120 loài (79,47% tổng số loài của ngành), lớp Hành (Liliopsida) có 31 loài (20,52%).
  • Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) ghi nhận 3 họ (4,91%), 3 chi (3,12%), 4 loài (2,56%).
  • Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) chỉ có 1 họ (1,63%), 1 chi (1,04%), 1 loài (0,64%).

Về mặt tri thức sinh thái học bản địa, đề tài đã tư liệu hóa được 10 bài thuốc cổ truyền trị 10 nhóm bệnh thường gặp (thấp khớp, bệnh gan, cảm cúm, đau đầu, viêm phế quản cấp, đái ra máu, bệnh thận, bệnh trĩ, hạ sốt, hắc lào) kèm theo tên gọi bằng tiếng dân tộc, bộ phận sử dụng và cách thức chế biến cụ thể; đồng thời mô tả chi tiết đặc điểm nhận dạng của 40 loài cây thuốc lâm sản ngoài gỗ tiêu biểu.

Về mặt thực tiễn, đề tài phản ánh bức tranh thực trạng khai thác dược liệu mang tính tận diệt tại vùng đệm Tam Đảo, xác định rõ các loài đang bị suy giảm nghiêm trọng (Bình vôi, Ba kích, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì) và danh mục các loài đang bị thương lái thu mua ồ ạt; qua đó cung cấp dữ liệu cơ sở phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành trong khuôn khổ đồ án tốt nghiệp đại học với một số hạn chế nhất định được chỉ ra từ phạm vi và phương pháp nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018), do đó việc thu thập mẫu vật chỉ phản ánh được thành phần loài thực vật sinh trưởng và ra hoa, tạo quả trong giai đoạn mùa xuân - hè.
  • Nghiên cứu dừng lại ở mức độ điều tra kinh nghiệm dân gian, mô tả hình thái học truyền thống và lập danh lục phân loại học; chưa có điều kiện phân tích định tính, định lượng các hoạt chất hóa học sinh học, cũng như chưa kiểm chứng lâm sàng về hiệu lực điều trị và độc tính của các bài thuốc.
  • Số lượng hộ gia đình làm nghề bốc thuốc được phỏng vấn còn hạn chế do các thầy lang sinh sống rải rác ở các vùng núi cao hiểm trở, đi lại khó khăn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Tiếp tục khảo sát bổ sung thành phần loài cây thuốc vào mùa khô và thu thập các bài thuốc dân gian còn tiềm ẩn ở các thôn bản vùng sâu.
  • Phối hợp với các cơ quan chuyên môn về dược lý học để chiết xuất, phân tích thành phần hoạt chất của các loài cây thuốc bản địa có giá trị.
  • Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng và xây dựng các mô hình trồng thử nghiệm bảo tồn chuyển vị (ex situ) đối với các loài cây thuốc có nguy cơ cạn kiệt cao như Ba kích, Bình vôi, Hà thủ ô đỏ tại vườn gia đình của người dân địa phương.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, giảng viên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng trong việc tham khảo phương pháp điều tra thực địa tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và quy trình thu mẫu, sấy khô, ép tiêu bản thực vật chuẩn kích thước 41 x 29 cm.
  • Các nhà nghiên cứu về thực vật học dân tộc (ethnobotany) và dược học cổ truyền quan tâm đến tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số (Dao, Sán Dìu) cư trú quanh dãy núi Tam Đảo.
  • Chính quyền địa phương và các cơ quan kiểm lâm huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong việc hoạch định chính sách bảo tồn nguồn gen dược liệu quý, ngăn chặn việc khai thác cạn kiệt lâm sản ngoài gỗ và tổ chức mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng nhằm nâng cao thu nhập cho người dân.

Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm: Bảng 4.1 và 4.2 về cơ cấu taxon phân loại; Bảng 4.3 tổng hợp 10 bài thuốc dân gian theo nhóm bệnh kèm tên địa phương; Bảng 4.4 mô tả hình thái và sinh thái chi tiết của 40 loài cây thuốc làm cơ sở định danh ngoài thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài cây lâm sản ngoài gỗ làm thuốc tại xã Quân Chu và phân bố theo các ngành thực vật như thế nào?
Nghiên cứu đã ghi nhận được 156 loài cây thuốc thuộc 96 chi, 61 họ, phân bố ở 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó: ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có 57 họ (chiếm 93,44%), 92 chi (95,83%), 151 loài (96,79%); ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 3 họ (4,91%), 3 chi (3,12%), 4 loài (2,56%); ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 1 họ (1,63%), 1 chi (1,04%), 1 loài (0,64%).

2. Bài thuốc dân gian chữa bệnh gan của người dân tại xã Quân Chu gồm những loài cây nào và cách sử dụng ra sao?
Bài thuốc chữa bệnh gan kết hợp 3 loài cây: Cây chấp bút (tên địa phương: Như tóc tàm, dùng lá), Cây huyết dụ (tên địa phương: Mầy thít sội, dùng lá) và Cây hà thủ ô (tên địa phương: Hào ém pệ, dùng thân, lá và rễ). Cách chế biến: Lấy khoảng 0,3 kg dược liệu khô đem sắc lấy nước uống, có thể uống thay nước hằng ngày.

3. Quy trình làm tiêu bản thực vật được thực hiện theo các thông số kỹ thuật nào?
Mẫu vật thu hái ngoài thực địa được lựa chọn từ 2–3 cá thể tiêu biểu, gắn nhãn kích thước 8 x 13 cm. Mẫu được đặt giữa các lớp giấy báo, ép chặt trên cặp ép dày không quá 40 cm và sấy ở nhiệt độ 35–40°C trong khoảng 8–12 giờ cho đến khi khô hoàn toàn. Tiêu bản sau đó được khâu cố định lên giấy bìa trắng theo kích thước tiêu chuẩn 41 x 29 cm và lưu trữ nơi khô ráo. Việc định danh mẫu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm của Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh.

4. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến sự suy thoái tài nguyên cây thuốc tại xã Quân Chu theo ghi nhận của tác giả?
Các nguyên nhân chính gồm: Người dân có thói quen thu hái tận diệt (đào cả rễ, chặt cả cây) khiến cây không còn khả năng tái sinh; áp lực thu mua với giá cao của các thương nhân Trung Quốc đối với các loài dược liệu có giá trị; việc phát triển nghề thuốc diễn ra tự do, thiếu quy định quản lý của cơ quan chức năng; tri thức bản địa bị mai một do thế hệ trẻ không kế thừa nghề thuốc của cha ông; sự phổ biến của thuốc tây làm giảm việc ứng dụng thuốc nam trong cộng đồng.

5. Các loài cây thuốc quý hiếm nào tại địa bàn nghiên cứu được tác giả ghi nhận là đang ngày càng ít đi và khó tìm kiếm?
Các loài cây dược liệu quý hiếm đang ngày càng cạn kiệt, khó tìm thấy trong tự nhiên tại địa bàn xã Quân Chu bao gồm: cây Bình vôi (Stephania spp.), Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì và Ba kích.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đậu Xuân Hòa đã phản ánh trung thực nguồn tài nguyên cây thuốc lâm sản ngoài gỗ tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với 156 loài thuộc 96 chi, 61 họ của 3 ngành thực vật có mạch, trong đó ngành Mộc lan giữ vị thế chủ đạo. Công trình đã hệ thống hóa và tư liệu hóa được 10 bài thuốc dân gian đặc trưng cùng tri thức sử dụng 40 loài cây thuốc tiêu biểu của cộng đồng dân tộc bản địa vùng chân núi Tam Đảo. Các dữ liệu định lượng và phát hiện thực tế về áp lực khai thác trong nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và định hướng gây trồng, phát triển bền vững tài nguyên dược liệu tại địa phương.