Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan tài liệu 1. Khái quát về kiến thức bản địa và vai trò của kiến thức bản địa 1. Khái quát về kiến thức bản địa Hiện nay, kiến thức bản địa (Indigenous Knowledge) ngày càng nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế.
Điều này xuất phát từ tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong đời sống cư dân, đặc biệt là với những nước đa tộc người như Việt Nam. Việc phát huy và kết hợp những giá trị của kiến thức bản địa với tri thức khoa học cần phải được vận dụng một cách hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa. Thuật ngữ “kiến thức bản địa” được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979. Sau đó, thuật ngữ này được Brokensha và D.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay (Hoàng Xuân Tý - Lê Trọng Cúc, 1998)[22].
Lê Trọng Cúc cho rằng: “kiến thức địa phương hay còn gọi là kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Kiến thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên nhiên” (Lê Trọng Cúc, 1996)[6]. Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Kiến thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trường.
Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội. Kiến thức bản địa gồm các lĩnh vực sau: kiến thức về tự nhiên và môi trường (kể cả vũ trụ); kiến thức về bản thân con người (cơ thể học, dưỡng sinh, trị bệnh); kiến n 5 thức về ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng; kiến thức về sáng tạo nghệ thuật; kiến thức về sản xuất, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên” (Ngô Đức Thịnh, 2004)[20]. Trần Công Khánh cho rằng: “Kiến thức bản địa là hệ thống tri thức, bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, sức khỏe, tổ chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại một khu vực địa lý cụ thể. Nó được hình thành trong quá trình sống và lao động của cả cộng đồng, từ đàn ông, đàn bà, người lớn tuổi đến trẻ em.
Nó được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền bằng miệng” (Trần Công Khánh 2002)[13]. Tóm lại, kiến thức bản địa là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Kiến thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội như sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong làng bản… Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc [22], trong cuộc sống và trong thực tiễn sản xuất, chống đỡ và chinh phục tự nhiên, các cộng đồng đều có nhiều kinh nghiệm và được thể hiện dưới nhiều thể loại: Ở dạng thông tin: Một vài ví dụ điển hình của dạng này là: Những cây nào, thực vật nào có thể trồng cùng với nhau. Đó phải chăng là câv muồng trồng trong nương chè để che bóng; cây keo dậu trồng che bóng cho cây cà phê; cây đậu đỗ trồng xen với nhiều loại cây trồng hoặc cây hành tỉa theo luống cải bắp, mùi của cây hành có tác dụng hạn chế sâu hại cây bắp cải… Những loài cây nào là phù họp nhất dùng cho phủ tủ mặt đất chống xói mòn, phải chăng đó là thân cây lạc, cây đậu đỗ và cây cốt khí.
Những thông tin này phần lớn mang tính gợi mở còn việc cụ thể hóa lại phụ thuộc vào đặc điểm cây trồng và tập quán của từng vùng. n 6 Ở dạng kinh nghiệm thực tế và công nghệ: Những kinh nghiệm thực tế mang tính bản địa cũng rất phong phú, đa dạng. Những kinh nghiệm này trải qua nhiều năm bổ sung, cải tiến và hoàn thiện phản ánh đầy đủ nội dung của một công nghệ, ở Tuyên Hóa, Quảng Bình, nông dân thường dùng lá xoan khô đưa vào trong chậu vại cùng với đậu xanh, đậu đen, ngô để bảo quản. Nông dân ở một số nơi ngâm bồ hóng có thêm vôi, lá xoan, bã trầu, nước điếu… lấy nước này phun phòng chống sâu hại, sâu bị chết nhưng không gây ô nhiễm môi trường, ở Quảng Bình, nông dân thường lấy bồ hóng trộn với phân gà và vãi vào ruộng lúc buổi sáng có tác dụng rất tốt để diệt sâu hại rễ.
Cách làm ruộng bậc thang san đất hay xếp đá. Phương thức này rất phổ biến ở vùng cao của các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang… Ở dạng tín ngưỡng: Tín ngưỡng có thể giữ vai trò quan trọng trong phương thức kiếm sống và duy trì môi trường sinh thái trong lành ở nhiều cộng đồng các dân tộc. Rừng thần thánh, rừng linh thiêng là những loại rừng dùng để bảo vệ, xuất phát từ những nguyên nhân về tín ngưỡng. Trong thực tế, những khu rừng này làm nhiệm vụ của rừng đầu nguồn, cung cấp gồ củi, sản phẩm rừng và nước cho làng bản.
Ở dạng công cụ: Công cụ thường sử dụng để gieo trồng hoặc thu hoạch. Những công cụ do người H’Mông sáng tạo như “cày Mèo” rất phù hợp cho việc canh tác trên đất dốc, “dao Mèo” tự chế sắc bén đa dụng hơn bất cứ loại dao nào,… Ở dạng thí nghiệm: Đó là sự gieo trồng có tính tích hợp những giống loài cây mới vào trong các hệ thống nông nghiệp hiện hành dưới dạng trồng xen, trồng cây che bóng; băng xanh chống xói mòn, hàng cây chắn gió… Đó là những thay đổi và biến thể trong thực tiễn gieo trồng, những dạng này nhiều khi đã trở thành những câu ca dao, tục ngữ để dễ truyền đạt cho các thế hệ. Ở dạng nguồn nhân lực: Trong cuộc sống và sản xuất, những kiến thức bản địa đã đào tạo những chuyên gia giàu kinh nghiệm như những người hòa giải ở nông thôn; những người có tay nghề cao và khéo léo như thợ rèn, thợ nguội. Trong n 7 các tổ chức cộng đồng như tổ chức dòng họ, tổ chức người cao tuôi hoặc các nhóm, tổ đổi công lao động.
Về sinh học: Đó là nhũng kinh nghiệm trong chăn nuôi và chọn giống động vật. Nếu chúng ta lên miền núi phía Bắc đến với người H’mông sẽ thấy “lợn Mèo” và “chó Mèo” đã trở thành đỉnh cao của công tác tuyển chọn. Ngoài ra những kinh nghiệm về thuần hóa trâu, bò, ngựa dùng kéo cày, kéo xe cũng đã trở thành hình tượng văn hóa độc đáo của đông đảo các cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là những kinh nghiệm trong chọn giống cây trồng mà điển hình là đồng bào H’Mông ở Hà Giang thâm canh ngô trên các hốc đá đã chọn được giống ngô “chao đèn”, đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống và các bẹ ngô xoè ra như cái chao đèn che cho những hạt ngô không bị ướt và có thế đế rất lâu trên nương mà không sợ thối, mục.
Ở dạng vật liệu: Đó là những loại đá được tạo hình dùng xây tường nhà và rất nhiều vật liệu khác dùng để xây dựng nhà ở, kho tàng. Những kiến thức bản địa là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội. Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại. Hệ thống kiến thức bản địa cần phải được duy trì, gìn giữ vì những tư tưởng phương Tây đang có xu thế thống trị hầu hết những quan điểm về chính sách phát triển.
Tuy nhiên, trên thực tế những cố gắng nhằm giải quyết tình trạng đói, nghèo cho thấy những dự án hỗ trợ phát triển thường xuyên thất bại. Tồi tệ hơn là đôi khi chúng gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người dân. Giải pháp theo phương pháp của phương Tây đã được áp dụng ngay cả trong những trường hợp mà những kiến thức bản địa có thể giải quyết được tốt hơn, nhưng lại không được lựa chọn vì một lí do nào đó. Mặc dù đã chứng tỏ được giá trị trong nhiều trường hợp, song kiến thức bản n 8 địa không thể - hay không nên - được quảng bá khi chưa được xem xét một cách thận trọng.
Không phải tất cả các kiến thức bản địa đều đưa ra được những giải pháp bền vững cho những vấn đề phát sinh ngày nay. Thêm vào đó, hầu hết các giải pháp mang tính địa phương đều rất đặc trưng cho từng bối cảnh. Cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn nữa và phát triển các phương pháp xử lý đối với hệ thống kiến thức bản địa. Có như vậy chúng ta mới có thế dùng kiến thức bản địa để đưa ra được giải pháp cụ thể cho từng vấn đề thông qua việc nâng cấp hoặc thay đổi những hệ thống kiến thức này.
Việc nghiên cứu cần tiến hành với sự tham gia của những người sở hữu kiến thức bản địa và cộng đồng địa phương trong khu vực. Tầm quan trọng của kiến thức bản địa Kiến thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương.