Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về kiến thức bản địa và vai trò của kiến thức bản địa 1. Khái quát về kiến thức bản địa Theo Dewes (1983) cho rằng kiến thức của dân địa phương là một hợp phần thúc đẩy phát triển. Ông so sánh giữa kiến thức bản địa với bộ lông chim, vì ‘con chim chỉ có thể bay nếu có được bộ lông’.
Thuật ngữ ‘kiến thức bản địa’ đồng nghĩa với ‘kiến thức địa phương’. Tuy nhiên các chuyên gia phát triển không đồng ý với việc đánh đồng truyền thống với các kiến thức riêng biệt của một người, bởi vì từ ‘truyền thống’ bị gắn với một số hàm ý từ thế kỷ 19 là ‘đơn giản, mông muội và trì trệ’. Warren (1991), khái niệm kiến thức bản địa hay địa phương được sử dụng để phân biệt các kiến thức do một cộng đồng nhất định sáng tạo ra, nó khác hệ thống kiến thức hoặc khoa học quốc tế. Về sau này đôi khi người ta nói đến hệ thống kiến thức ‘Phương Tây’ do các trường đại học, trung tâm nghiên cứu của chính phủ và doanh nghiệp tư nhân sáng tạo ra.
Kiến thức bản địa có thể là hiểu biết ‘kỹ thuật’ sâu sắc hoặc sự thông thái do người dân ở một vùng nhất định sáng tạo và phát triển, thông qua nhiều năm quan sát, khảo nghiệm các hiện tượng tự nhiên xung quanh họ. Người ta phân biệt hệ thống kiến thức phương Tây với hệ thống kiến thức bản địa trên cơ sở phương pháp, biểu hiện tồn tại và bối cảnh. Trước tiên, hệ thống kiến thức phương Tây là chung cho toàn thế giới, do nền giáo dục phương Tây ảnh hưởng tới rất nhiều văn hoá trên thế giới. Thứ hai, nó được trải qua quá trình quan sát, khảo nghiệm và phê chuẩn, tất cả các giai đoạn đều được ghi thành tư liệu cẩn thận.
Điều này không có được đối với hệ thống kiến thức bản địa, nhất là khâu ghi chép thành tư liệu. Thuật ngữ "kiến thức chính thống" (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây. Đó là những kiến thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. n 4 Ngược lại, khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phương dùng để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên.
Kiến thức bản địa là những kinh nghiệm được thử thách và đúc rút qua nhiều thế hệ ở các cộng đồng cư dân qua thực tiễn sản xuất và đời sống. Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng dân cư đã tích góp được lượng lớn các thông tin, các kỹ năng, tay nghề và công nghệ trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và chế biến lương thực, quản lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức cộng đồng làng bản. Trên thực tế, kiến thức bản địa và khoa học hiện đại cần được hiểu là hai hệ thống kiến thức bổ trợ chứ không cạnh tranh với nhau. Việc đưa ra mối liên hệ giữa kiến thức địa phương và kiến thức toàn cầu cũng rất quan trọng (trong khi vẫn phải tránh xu thế biến kiến thức địa phương thành kiến thức toàn cầu).
Những cố gắng này cũng đã tạo ra sự quan tâm sâu sắc đến hệ thống kiến thức dựa trên nền tảng truyền thống và văn hoá địa phương và nhu cầu làm sao để hệ thống này có hiệu lực xét trên quan điểm giáo dục. Kiến thức bản địa được hình thành và phát triển là kết quả tương tác của nhiều yếu tố: Dân số, khoa học, kỹ thuật, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo đức, thể chế và cơ cấu xã hội. Đó là kết quả tích luỹ những kinh nghiệm to lớn thông qua các quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc trong quá trình tiến hóa của sinh quyển và dần dần trở thành thói quen truyền thống. Nói một cách khác, kiến thức bản địa của một cộng đồng, một dân tộc, phản ánh tính thích ứng với những điều kiện kinh tế xã hội và sinh thái đặc thù.
Như vậy, kiến thức bản địa đều là những thứ phải học, phải tiếp xúc mới có được, là những thứ được chia xẻ, là một hệ thống các đặc thù có tính thích ứng cao. Trong nỗ lực đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, các cộng đồng nông thôn sử dụng ‘thử nghiệm tò mò, thử nghiệm giải quyết vấn đề, và thử nghiệm thích nghi’ (Rhoades & Bebbington 1995). Khi đã được khẳng định, thì kết quả được bổ sung vào khối tri thức của tổ tiên. Thông qua xã hội hoá và truyền miệng, khối tri thức đó được truyền tải từ người già đến thế hệ trẻ.
Khó có sự mai một trong cách lưu truyền hiểu biết sâu sắc như trên. n 5 Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc [52], trong cuộc sống và trong thực tiễn sản xuất, chống đỡ và chinh phục tự nhiên, các cộng đồng đều có nhiều kinh nghiệm và được thể hiện dưới nhiều thể loại: Ở dạng kinh nghiệm thực tế và công nghệ: Những kinh nghiệm thực tế mang tính bản địa cũng rất phong phú, đa dạng. Những kinh nghiệm này trải qua nhiều năm bổ sung, cải tiến và hoàn thiện phản ánh đầy đủ nội dung của một công nghệ. ở Tuyên Hóa, Quảng Bình, nông dân thường dùng lá xoan khô đưa vào trong chậu vại cùng với đậu xanh, đậu đen, ngô để bảo quản.
Nông dân ở một số nơi ngâm bồ hóng có thêm vôi, lá xoan, bã trầu, nước điếu. lấy nước này phun phòng chống sâu hại, sâu bị chết nhưng không gây ô nhiễm môi trường. ở Quảng Bình, nông dân thường lấy bồ hóng trộn với phân gà và vãi vào ruộng lúc buổi sáng có tác dụng rất tốt để diệt sâu hại. Cách làm ruộng bậc thang san đất hay xếp đá.
Phương thức này rất phổ biến ở vùng cao của các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang. Ở dạng tín ngưỡng: Tín ngưỡng có thể giữ vai trò quan trọng trong phương thức kiếm sống và duy trì môi trường sinh thái trong lành ở nhiều cộng đồng các dân tộc. Rừng thần thánh, rừng linh thiêng là những loại rừng dùng để bảo vệ, xuất phát từ những nguyên nhân về tín ngưỡng. Trong thực tế, những khu rừng này làm nhiệm vụ của rừng đầu nguồn, cung cấp gỗ củi, sản phẩm rừng và nước cho làng bản.
Ở dạng thí nghiệm: Đó là sự gieo trồng có tính tích hợp những giống loài cây mới vào trong các hệ thống nông nghiệp hiện hành dưới dạng trồng xen, trồng cây che bóng; băng xanh chống xói mòn, hàng cây chắn gió. Đó là những thay đổi và biến thể trong thực tiễn gieo trồng, nhưng dạng này nhiều khi đã trở thành những câu ca dao, tục ngữ để dễ truyền đạt cho các thế hệ. Ở dạng công cụ: Công cụ thường sử dụng để gieo trồng hoặc thu hoạch. Những công cụ do người H'Mông sáng tạo như "cày Mèo" rất phù hợp cho việc canh tác trên đất dốc, "dao Mèo" tự chế sắc bén đa dụng hơn bất cứ loại dao nào.
Ở dạng thông tin: Một vài ví dụ điển hình của dạng này là: Những cây nào, thực vật nào có thể trồng cùng với nhau. Đó phải chăng là cây muồng trồng trong nương chè để che bóng; cây keo dậu trồng che bóng cho cây cà phê; cây đậu đỗ n 6 trồng xen với nhiều loại cây trồng hoặc cây hành tỉa theo luống cải bắp, mùi của cây hành có tác dụng hạn chế sâu hại cây bắp cải. Những loài cây nào là phù hợp nhất dùng cho phủ tủ mặt đất chống xói mòn, phải chăng đó là thân cây lạc, cây đậu đỗ và cây cốt khí. Những thông tin này phần lớn mang tính gợi mở còn việc cụ thể hóa lại phụ thuộc vào đặc điểm cây trồng và tập quán của từng vùng.
Ở dạng nguồn nhân lực: Trong cuộc sống và sản xuất, những kiến thức bản địa đã đào tạo những chuyên gia giàu kinh nghiệm như những người hòa giải ở nông thôn; những người có tay nghề cao và khéo léo như thợ rèn, thợ nguội. Trong các tổ chức cộng đồng như tổ chức dòng họ, tổ chức người cao tuổi hoặc các nhóm, tổ đổi công lao động. Ở dạng vật liệu: Đó là những loại đá được tạo hình dùng xây tường nhà và rất nhiều vật liệu khác dùng để xây dựng nhà ở, kho tàng. Về sinh học: Đó là những kinh nghiệm trong chăn nuôi và chọn giống động vật.
Nếu chúng ta lên miền núi phía Bắc đến với người H'Mông sẽ thấy "lợn Mèo" và "Bò Mèo" đã trở thành đỉnh cao của công tác tuyển chọn. Ngoài ra những kinh nghiệm về thuần hóa trâu, bò, ngựa dùng kéo cày, kéo xe cũng đã trở thành hình tượng văn hóa độc đáo của đông đảo các cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đó là những kinh nghiệm trong chọn giống cây trồng mà điển hình là đồng bào H'Mông ở Hà Giang thâm canh ngô trên các hốc đá đã chọn được giống ngô "chao đèn", đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống và các bẹ ngô xoè ra như cái chao đèn che cho những hạt ngô không bị ướt và có thể để rất lâu trên nương mà không sợ thối, mục. Những kiến thức bản địa là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội.
Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại. Hệ thống kiến thức bản địa cần phải được duy trì, gìn giữ vì những tư tưởng phương Tây đang có xu thế thống trị hầu hết những quan điểm về chính sách phát n 7 triển. Tuy nhiên, trên thực tế những cố gắng nhằm giải quyết tình trạng đói nghèo cho thấy những dự án hỗ trợ phát triển thường xuyên thất bại. Tồi tệ hơn là đôi khi chúng gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người dân.
Giải pháp theo phương pháp của phương Tây đã được áp dụng ngay cả trong những trường hợp mà những kiến thức bản địa có thể giải quyết được tốt hơn, nhưng lại không được lựa chọn vì một lí do nào đó [52]. Mặc dù đã chứng tỏ được giá trị trong nhiều trường hợp, song kiến thức bản địa không thể - hay không nên - được quảng bá khi chưa được xem xét một cách thận trọng.