ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là một vấn đề được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, những cơn bão bất thường, những đợt hạn hán, cháy rừng…xảy ra trái với chu kì của nó hàng thập kỷ qua, điều này dẫn đến những thiệt hại hết sức nặng nề cả về con người và sự phát triển của các nền kinh tế. Theo RSEX – báo cáo đặc biệt về quản lí rủi ro của các sự kiện cực đoan và thảm họa, nhận định rằng Việt Nam xếp hạng thứ 23 trên 193 quốc gia về chỉ số chịu thương tổn do các tác động của BĐKH trong vòng 30 năm tới. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi được xem là vựa lúa của cả nước, sản xuất ra hơn 1/2 lượng thủy sản và trái cây của cả nước, UNDP ước tính, đến năm 2030, nước biển dâng sẽ làm cho 45% diện tích đất bị tổn thương do hiện tượng mặn hóa cực đoan.
Tình trạng này khiến cuộc sống của hơn 4 triệu người đói nghèo tại đây có nguy cơ tổn thương cao.Ông RK Pachauri - chủ tịch IPCC cho rằng: nền nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải nghiên cứu giống cây chịu sự thay đổi nhiệt độ nếu cần thiết Việt Nam phải tính đến việc thay đổi cơ cấu mùa vụ. Ai cũng biết tác hại của biến đổi khí hậu mang lại, có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều tồi tệ sau đây: Gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về 2 cực, những đợt nóng, bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá hủy hệ sinh thái. việt nam có đường bờ biển dài với hai phần ba lãnh thổ là diện tích đất đồi núi, nên là một trong những nước dễ bị tổn thương nhất trong khu vực Đông Nam Á khi phải đối mặt với biến đổi khí hậu. Chưa bao giờ vấn đề biến đổi khí hậu lại được đề cập nhiều và nóng bỏng như thời điểm này.
Theo nghiên cứu của liên hợp quốc, việt nam sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á từ sự biến đổi khí hậu này. Khu vực trung du và miền núi phía Bắc được đánh giá là khu vực chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu không kém so với các tỉnh ven biển và các tỉnh trung bộ, về mùa đông những đợt không khí lạnh kéo dài, những trận n 2 lũ ống, lũ quét, các dịch bệnh,…. trong khi người dân nơi đây sống dựa vào nguồn thu nhập chính từ các hoạt động thuộc lĩnh vực nông – lâm nghiệp, những thay đổi khí hậu sẽ làm ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp: năng suất giảm, cây sinh trưởng chậm, gia súc chết,….làm cho đời sống người dân trở nên khó khăn. Chính vì vậy mà việc tìm ra các mô hình trồng trọt, chăn nuôi để thích ứng với thực trạng BĐKH đối với khu vực này là rất quan trọng.
Một trong những hướng đi mà hiện nay các nhà khoa học đang quan tâm để giải quyết vấn đề này là đó là dựa vào kiến thức của người dân bản địa để tìm ra các mô hình sản xuất nông nghiêp thích ứng với BĐKH. Bắc Kạn một tỉnh thuộc khu vực trung du và miền núi phía Bắc là nơi sinh sống của bảy dân tộc anh em bao gồm Tày, Dao, Việt (Kinh), H’Mông, Nùng, Sán Chay, Hoa. Trong 5 năm gần đây là tỉnh phải chịu thiệt hại lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện tượng thời tiết cực đoan (CARE international in Viet Nam, 2010). Do vậy trong những năm qua tỉnh đã và đang được tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và nhiều tổ chức khác triển khai các dự án xóa đói giảm nghèo và giảm thiểu các tác động xấu của biến đổi khí hậu.
Do nơi đây có nhiều dân tộc cùng sinh sống cùng với việc hoạt động nông nghiệp là chủ yếu nên vốn kiến thức truyền thống và kinh nghiệm trong trồng trọt và chăn nuôi của họ rất phong phú, những kinh nghiệm quý giá này được lưu truyền có chọn lọc từ thế hệ này qua thế hệ khác, giúp cho người nông dân có các mô hình canh tác phù hợp với sự biến đổi của khí hậu. Cộng đồng dân ở Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía bắc nói chung có vốn kiến thức truyền thống và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp giúp họ linh hoạt hơn với những biến đổi khắc nghiệt trong môi trường sống. Nhiều cộng đồng bản địa là dân tộc thiểu số ở Bắc kạn đã có rất nhiều kinh nghiệm trong canh tác nông nghiệp bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Những kiến thức và các kỹ thuật bản địa nãy đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong từng cộng đồng dân tộc thiểu số (Tran Van Đien, 2012).
Từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu, ứng dụng kiến thức bản địa trong xây dựng mô hình cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu tại Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích đề tài - Xác định kiến thức bản địa của người dân trong ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp. - Xác định được mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất nông nghiệp của địa phương.
- Đánh giá hiệu quả, khả năng tạo sinh khối, năng suất và khả năng cải tạo đất của một số mô hình cây trồng trong điều kiện biến biển khí hậu hiện nay. Yêu cầu của đề tài - Thông tin số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác. - Đánh giá được hiệu quả, khả năng tạo sinh khối, khả năng cải tạo đất và tính phù hợp của một số mô hình cây trồng trên cơ sở áp dụng kiến thức bản địa của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Xã Mai Lạp, Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa của đề tài - Đối với việc học tập và nghiên cứu + Nâng cao được kĩ năng và kiến thức thông qua các hoạt động thực tế.
+ Vận dụng được những kiến thức đã được học. + Nâng cao khả năng tự học, khả năng tìm kiếm, chọn lọc tài liệu. + Hiểu biết rõ hơn về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. + Củng cố thêm kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Đối với hoạt động thực tiễn + Từ các mô hình thử nghiệm tại địa phương từ đó tìm ra mô hình thích hợp nhất cho người dân. + Góp phần giảm thiểu được các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía bắc. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1Các khái niệm có liên quan : + Biến đổi khí hậu : là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người.Khả năng bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. + Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
+ Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng. + Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. + Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức bao gồm kiến thức kỹ thuật bản địa và kiến thức địa phương, nhưng được cụ thể hóa trong khía cạnh liên quan đến sinh thái, đến quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất rừng, nguồn nước. Nó phản ánh những kiến thức kinh nghiệm của từng nhóm cộng đồng đang cùng sinh sống trong từng vùng sinh thái nhân văn, đây là hệ thống kiến thức kết hợp các hiểu biết bên trong lẫn bên ngoài, sự giao thoa kế thừa giữa kinh nghiệm của các dân tộc đang chung sống, sự kiểm nghiệm các kỹ thuật mới du nhập và sự thích ứng nó với điều kiện sinh thái địa phương.2 Nguyên nhân của BĐKH Có hai nguyên nhân chính dẫn đến BĐKH đó là do thiên nhiên và do con người.
Trong những thập niên gần đây các hoạt động kinh tế - xã hội của con người ngày một phát triển dẫn đến lượng khí thải nhà kính không ngừng tăng lên, cùng với đó việc khai thác các bể hấp thụ khí nhà kính như rừng, hệ sinh thái biển.làm cho hàm lượng các khí nhà kính trong không khí luôn ở mức cao. Một số loại khí nhà kính điển hình : - CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép. - CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. - HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC- 23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22. - PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm. - SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
Hiện nay, Nghị định thư kyoto vẫn là một công cụ hữu hiệu được hầu hết các quốc gia ủng hộ nhằm hạn chế và ổn định các loại khí nhà kính nói trên.3 Vai trò của kiến thức bản địa đối với việc thích ứng BĐKH Hiện nay BĐKH được coi là một trong những thách thức lớn nhất của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ở thế kỉ 21.