Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp với sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán, lũ lụt và suy thoái hệ sinh thái. Theo Báo cáo đặc biệt về quản lý rủi ro của các sự kiện cực đoan và thảm họa (SREX), Việt Nam xếp thứ 23 trên 193 quốc gia về chỉ số chịu thương tổn do các tác động của biến đổi khí hậu trong vòng 30 năm tới. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, ước tính đến năm 2030, nước biển dâng sẽ khiến 45% diện tích đất bị ảnh hưởng bởi mặn hóa cực đoan. Song song với vùng đồng bằng ven biển, khu vực trung du và miền núi phía Bắc cũng chịu tác động nặng nề không kém bởi các đợt không khí lạnh kéo dài, sương muối, lũ ống, lũ quét và hạn hán nghiêm trọng.

Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc có địa hình đồi núi dốc, chia cắt mạnh, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số như Tày, Dao, H’Mông, Nùng, Kinh, Sán Chay, Hoa. Trong giai đoạn 2005–2010, đây là một trong những tỉnh chịu thiệt hại lớn về sản xuất nông nghiệp do thiên tai và thời tiết cực đoan. Đời sống của người dân địa phương phụ thuộc phần lớn vào sản xuất nông - lâm nghiệp tự nhiên nên khả năng thích ứng còn hạn chế. Tuy nhiên, qua quá trình sinh sống lâu đời, các cộng đồng dân tộc thiểu số tại đây đã tích lũy và lưu truyền kho tàng kiến thức bản địa phong phú về thời vụ, chọn lọc giống cây trồng, kỹ thuật làm đất dốc và giữ ẩm. Việc đúc kết và kết hợp tri thức dân gian này với tiến bộ khoa học kỹ thuật để xây dựng các mô hình canh tác thích ứng là hướng đi thực tiễn cấp bách.

Khóa luận được triển khai nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Xác định kiến thức bản địa của người dân trong ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp.
  2. Xác định được mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sản xuất nông nghiệp của địa phương.
  3. Đánh giá hiệu quả, khả năng tạo sinh khối, năng suất và khả năng cải tạo đất của một số mô hình cây trồng trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng các dân tộc thiểu số tại địa bàn; các mô hình trồng trọt thích ứng với biến đổi khí hậu; mô hình cây trồng xen canh chuối - gừng và cây củ đậu.
  • Phạm vi không gian: Xã Mai Lạp, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông Lâm nghiệp miền núi - ADC và Ủy ban nhân dân xã Mai Lạp).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, thử nghiệm và thu thập số liệu được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên các khung lý thuyết, định nghĩa và văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp:

  • Khái niệm then chốt: Biến đổi khí hậu (BĐKH), khả năng bị tổn thương, ứng phó với BĐKH, thích ứng với BĐKH, sinh khối, và kiến thức bản địa (KTBĐ) - được hiểu là hệ thống tri thức kỹ thuật và sinh thái gắn liền với quản lý đất đai, nguồn nước, rừng do cộng đồng sáng tạo, tích lũy qua nhiều thế hệ và lưu truyền bằng kinh nghiệm.
  • Cơ sở pháp lý và kịch bản khí hậu:
    • Hệ thống văn bản trung ương: Nghị định thư Kyoto (phê chuẩn năm 2002); Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg về Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia; Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về Định hướng chiến lược phát triển bền vững (Chương trình Nghị sự 21); Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH; Quyết định số 1002/QĐ-TTg năm 2009 phê duyệt Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Quyết định số 2139/QĐ-TTg năm 2011 về Chiến lược quốc gia về BĐKH.
    • Hệ thống văn bản tỉnh Bắc Kạn: Quyết định số 799/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2011–2020; Quyết định số 1113/QĐ-UBND và 1114/QĐ-UBND phê duyệt đề cương dự án đánh giá kịch bản và kế hoạch ứng phó BĐKH; Quyết định số 590/QĐ-UBND quy định hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi khôi phục sản xuất sau thiên tai.
    • Khung kịch bản phát thải: Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007) và kịch bản biến đổi khí hậu của Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (IMHEN/Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011, 2012) áp dụng cho vùng Đông Bắc với 3 kịch bản: phát thải thấp (B1), trung bình (B2) và cao (A2).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Tổng hợp số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 2001–2011 từ Trạm Khí tượng Thủy văn tỉnh Bắc Kạn; các báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê đất đai năm 2012 và số liệu dự án của tổ chức ADC tại xã Mai Lạp.
  • Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Thiết lập 5 nhóm thảo luận (quy mô từ 7 đến 10 người/nhóm), cơ cấu gồm: nhóm nam giới, nhóm nữ giới, nhóm nam dân tộc khó khăn nhất, nhóm nữ dân tộc khó khăn nhất để thu thập thông tin về hiện tượng thời tiết cực đoan, thiệt hại sản xuất, kinh nghiệm ứng phó và tiêu chí chọn mô hình canh tác.
  • Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi: Điều tra 30 phiếu ngẫu nhiên có phân tầng đại diện cho các nhóm hộ (giàu, trung bình, nghèo) thuộc các dân tộc Tày, Dao, Kinh, Nùng, H'Mông tại xã Mai Lạp để đánh giá nhận thức về BĐKH, tình hình sinh kế và hiệu quả mô hình thử nghiệm.
  • Phương pháp đánh giá hiệu quả tổng hợp:
    • Hiệu quả kinh tế: Xác định Giá trị sản xuất ($GO$), Chi phí trung gian ($IC$) và Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$).
    • Hiệu quả xã hội: Đánh giá qua nhu cầu sử dụng lao động tại chỗ, giá trị ngày công lao động và hiệu quả quay vòng vốn đầu tư.
    • Hiệu quả môi trường và nông sinh học: Đo lường lượng hóa chất bảo vệ thực vật, mức sử dụng phân bón hóa học so với quy trình, khả năng tận dụng phế phụ phẩm hữu cơ, xác định năng suất sinh khối khô và phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng đất (đặc biệt là hàm lượng đạm tổng số).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả và phân tích số liệu định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của việc nghiên cứu ứng dụng kiến thức bản địa trong nông nghiệp tại vùng núi phía Bắc trước bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu. Tác giả khẳng định miền núi là vùng dễ bị tổn thương cao do địa hình dốc và người dân sinh sống dựa hoàn toàn vào sản xuất nông - lâm nghiệp tự nhiên. Xác lập rõ ràng mục đích, 3 nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận đối với công tác bảo vệ môi trường nông thôn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các cơ sở khoa học về biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính và phân tích nguồn gốc phát thải các chất khí CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs, SF6. Làm rõ đặc trưng của tri thức bản địa: hình thành qua lao động trực tiếp, chi phí thấp, thích ứng cao với vi khí hậu địa phương nhưng không được văn bản hóa mà lưu truyền qua trí nhớ. Điểm lại các nghiên cứu của Vũ Văn Liết và cộng sự (2011) về nguồn gen bản địa của đồng bào Tày, Dao tại Bắc Kạn (người Tày sử dụng 20 giống cây trồng và 3 giống vật nuôi; người Dao sử dụng 19 giống cây trồng và 4 giống vật nuôi bản địa thích ứng thời tiết bất lợi). Trình bày hệ thống văn bản pháp lý quốc gia và của tỉnh Bắc Kạn, cùng số liệu kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường về mức tăng nhiệt độ và nước biển dâng tại các vùng sinh thái Việt Nam.

Mốc thời gian Kịch bản thấp B1 (cm) Kịch bản trung bình B2 (cm) Kịch bản cao A1FI (cm)
2020 11 12 12
2040 23 23 24
2060 35 37 44
2080 50 54 71
2100 65 75 100

Phần 3: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể địa bàn nghiên cứu tại xã Mai Lạp, huyện Chợ Mới, thời gian thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014. Mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận điều tra thứ cấp, quy trình tổ chức 5 nhóm thảo luận chuyên sâu, quy mô phỏng vấn 30 phiếu nông hộ và phương pháp luận tính toán các chỉ số kinh tế $GO$, $IC$, $VA$. Đưa ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả môi trường và xã hội của các mô hình canh tác cây trồng trên đất dốc.

Phần 4: Dự kiến kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả điều tra thực địa và thực nghiệm:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Mai Lạp có diện tích tự nhiên 4.310,22 ha, địa hình chia cắt mạnh. Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối với 3.691 ha (85%), đất nông nghiệp chỉ có 238,8 ha (5,5%), còn lại là đất khác (9%). Toàn xã có 396 hộ với 1.552 nhân khẩu (năm 2010), gồm 5 dân tộc (Tày, Dao, Kinh, Nùng, H’Mông), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 92%. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 56,3% (theo số liệu ADC là 48,4%), thu nhập bình quân 4,5 triệu đồng/người/năm (17,9 triệu đồng/hộ/năm). Thu nhập từ nông nghiệp chiếm 43,05%, chăn nuôi chiếm 20,1%, lâm nghiệp chiếm 19,35%, ngành nghề phụ chiếm 17,5%.
  • Biểu hiện biến đổi khí hậu tại trạm khí tượng và địa phương: Nhiệt độ trung bình năm của Bắc Kạn là 22,8°C, lượng mưa trung bình 1.369 mm. Giai đoạn 2001–2011, mùa đông có xu hướng lạnh sâu và kéo dài sang tháng 4 (đặc biệt các năm 2008 và 2010). Lượng mưa biến động thất thường: tháng 7/2001 đạt 500 mm nhưng đến năm 2005 tháng 7 chỉ đạt 150 mm.
  • Đánh giá và nhận thức của người dân: Có 87% số hộ nhận thức được sự hiện diện của biến đổi khí hậu. Nguồn tiếp cận thông tin chủ yếu qua truyền hình (60%), kết hợp 3 hình thức (17%), đài truyền thanh xã (13%), sách báo (10%).
Hiện tượng thời tiết cực đoan Cường độ Tần suất Thời gian Mốc thời gian Thứ tự mức độ tác động
Nắng nóng, hạn hán kéo dài ++ +++ +++ 2003 1
Rét đậm, rét hại +++ +++ +++ 2007–2008 2
Lũ quét, sạt lở đất - +++ - 2007–2008 3
Thời tiết thất thường ++ ++ +++ 2008–2010 4
Lốc xoáy - ++ - 2011 5
Mưa đá +++ - - 2011 6
Sấm sét, mưa nhiều - ++ - 2013 7
  • Tác động đến nông nghiệp và chăn nuôi:
    • Cây lúa: Hạn kéo dài làm bùng phát bọ xít đen, sâu đục thân (gây hại 4–5% diện tích năm 2010), rầy nâu, nhện vàng, bệnh lùn sọc đen. Năm 2010, 100% diện tích lúa Nếp Lào mất trắng do bọ xít đen, giống lúa bản địa Bao Thai giảm 60% năng suất. Rét kéo dài năm 2010–2011 làm chậm lịch gieo cấy vụ mùa 1 tháng. Chi phí thuốc, công cấy, xăng dầu bơm nước tăng gấp 2–3 lần.
    • Cây màu: Ngô bị hạn làm giảm hạt hoặc không kết bắp; thời tiết thất thường gây thối nhũn thân gốc khi trổ cờ. Đỗ xanh bị rệp muội xanh đen (con Nhẵn) và bọ ban miêu cắn hoa; mưa ẩm tháng 2–3 làm rụng hoa, ra hoa nhiều đợt. Khoai tây và lạc bị kiến đỏ đục củ trong điều kiện khô hạn; khoai tây quăn lá khi rét đậm.
    • Gia súc: Rét đậm rét hại làm chết hàng loạt trâu bò: năm 2008 chết 32 con trâu, năm 2011 chết 43 con, năm 2013 chết 45 con. Thời tiết thất thường làm phát sinh bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cước chân ở trâu bò và phân trắng, phân xanh ở gia cầm.
  • Ứng dụng mô hình xen canh chuối - gừng và cây củ đậu: Mô hình thử nghiệm vụ mùa 2013 tại Mai Lạp dựa trên kiến thức bản địa về trồng xen che phủ đất dốc. Củ đậu là cây che phủ tầng thấp và thu hoạch ngắn ngày; gừng ưa bóng râm được bố trí dưới tán chuối; chuối che bóng, giữ ẩm và cung cấp thân xốp làm phân xanh sau thu hoạch. Mô hình tạo sinh khối khô cao, giảm rửa trôi đất, hạn chế thoát hơi nước vào mùa khô và nâng cao độ phì nhiêu (hàm lượng đạm tổng số trong đất) trên diện tích thử nghiệm 1.000 m2.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện chính về biến động khí hậu tại địa phương, khẳng định hiệu quả thích ứng của mô hình trồng xen chuối - gừng - củ đậu. Kiến nghị chính quyền cơ sở mở rộng quy mô mô hình, hỗ trợ giống bản địa chống chịu tốt, tăng cường tập huấn kỹ thuật che chắn chuồng trại dự trữ thức ăn cho gia súc và nâng cấp hệ thống loa truyền thanh thôn bản để nâng cao nhận thức cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và lượng hóa các số liệu thực tế tại xã Mai Lạp, phản ánh tình hình sản xuất và tác động của biến đổi khí hậu:

  • Tình trạng nhận thức của người dân: Khảo sát 30 hộ ghi nhận 87% hộ nhận biết được biến đổi khí hậu; kênh tiếp cận thông tin chủ yếu là truyền hình (18/30 phiếu, chiếm 60%), đài phát thanh (4/30 phiếu, 13%), sách báo (3/30 phiếu, 10%), tiếp cận cả ba kênh (5/30 phiếu, 17%).
  • Mức độ thiệt hại thực tế trên cây trồng và vật nuôi:
    • Hạn hán và dịch hại năm 2010 đã làm mất trắng 100% diện tích giống lúa Nếp Lào; giống lúa bản địa Bao Thai giảm 60% năng suất do bọ xít đen gây hại; sâu đục thân hại 4–5% diện tích; chi phí sản xuất (phân bón, bơm tưới) tăng từ 2 đến 3 lần.
    • Rét hại gây tử vong đàn gia súc lớn: năm 2008 làm chết 32 con trâu, năm 2011 làm chết 43 con trâu, năm 2013 làm chết 45 con gia súc.
  • Mô hình canh tác xen canh thích ứng: Thiết lập và đánh giá mô hình xen canh chuối - gừng - củ đậu vụ mùa 2013 trên diện tích 1.000 m2. Kết quả bước đầu ghi nhận:
    • Cấu trúc đa tầng (chuối ở tầng cao, củ đậu tầng thấp, gừng tầng dưới tán) giải quyết hiện tượng xói mòn rửa trôi đất dốc vào mùa mưa và chống bốc thoát hơi nước trong mùa khô hạn kéo dài.
    • Tận dụng sinh khối khô từ thân lá chuối và phế phẩm sau thu hoạch để che phủ gốc và bổ sung chất hữu cơ, cải thiện hàm lượng đạm tổng số trong đất canh tác.
    • Đa dạng hóa nguồn thu nhập: thu nhập trước mắt từ củ đậu ngắn ngày kết hợp thu nhập dài hạn từ gừng và chuối, giảm thiểu rủi ro kinh tế khi thời tiết biến động bất thường so với độc canh cây lúa hoặc ngô.

Đóng góp mới của tác giả so với các nghiên cứu trước đó:

  • Đã cụ thể hóa các nhận định chung về biến đổi khí hậu vùng Đông Bắc thành các dẫn chứng, số liệu đo đạc vi khí hậu và đánh giá xếp hạng thiên tai tại một xã vùng sâu cụ thể (Mai Lạp, huyện Chợ Mới).
  • Khai thác và hệ thống hóa được tri thức bản địa tích lũy lâu đời của đồng bào Tày, Dao (như kinh nghiệm nhận biết thời tiết qua hành vi vật nuôi, kỹ thuật canh tác tạo bờ đồng mức, trồng xen che phủ) để tích hợp thành một mô hình kỹ thuật nông học có khả năng kiểm chứng về mặt sinh khối và kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Thời gian theo dõi ngắn: Đề tài thực hiện trong 5 tháng (từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014), trong khi chu kỳ sinh trưởng và thu hoạch trọn vẹn của cây chuối và gừng kéo dài qua nhiều mùa vụ, dẫn đến số liệu thu hoạch cuối kỳ và phân tích đất nhiều năm chưa thể hoàn tất đầy đủ.
  • Quy mô mẫu khảo sát hẹp: Số lượng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp dừng lại ở 30 hộ và 5 nhóm thảo luận tại một địa bàn xã duy nhất (Mai Lạp), do đó tính đại diện thống kê cho toàn huyện Chợ Mới hoặc toàn tỉnh Bắc Kạn còn có giới hạn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập và định hướng:

  • Tiếp tục theo dõi, thu thập số liệu sinh khối, năng suất kinh tế toàn phần và phân tích diễn biến lý - hóa tính đất (đặc biệt là hàm lượng mùn, lân, kali và đạm tổng số) của mô hình xen canh chuối - gừng - củ đậu trong các năm tiếp theo.
  • Nghiên cứu nhân rộng mô hình sang các địa bàn lân cận có điều kiện địa hình đất dốc và tiểu khí hậu tương đồng trong khu vực miền núi phía Bắc.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động nghiên cứu cụ thể:

  • Học viên, sinh viên và nghiên cứu sinh: Thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Nông học, Khuyến nông và Phát triển Nông thôn; có thể tham khảo phương pháp tiếp cận điều tra nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), kỹ thuật lập bảng hỏi phân tầng xã hội học và phương pháp đánh giá tri thức bản địa.
  • Cán bộ quản lý và khuyến nông địa phương: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về cơ cấu cây trồng chịu hạn trên đất dốc, bảng danh mục sâu bệnh mới phát sinh do biến động thời tiết, cùng dữ liệu định lượng về thiệt hại gia súc để xây dựng kế hoạch phòng chống rét đậm, rét hại cấp cơ sở.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng phân loại mức độ tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan đối với từng loại cây trồng/vật nuôi và quy trình kỹ thuật bố trí mô hình trồng xen chuối, gừng, củ đậu (Phần 4 của khóa luận).

Câu hỏi thường gặp

1. Những hiện tượng thời tiết cực đoan nào được người dân xã Mai Lạp xếp hạng tác động lớn nhất đến sản xuất nông nghiệp? Theo kết quả điều tra và thảo luận nhóm năm 2014, hiện tượng "Nắng nóng, không có mưa - Hạn kéo dài" (xuất hiện điển hình từ năm 2003) được xếp hạng 1 về mức độ tác động; hiện tượng "Rét đậm, rét hại" (điển hình giai đoạn 2007–2008) xếp thứ 2; hiện tượng "Lũ quét, sạt lở đất" xếp thứ 3; và "Thời tiết thất thường" xếp thứ 4.

2. Biến đổi thời tiết và dịch hại năm 2010 đã gây thiệt hại cụ thể như thế nào đối với các giống lúa tại địa bàn nghiên cứu? Năm 2010, hạn hán kéo dài làm phát sinh dịch bọ xít đen khiến 100% diện tích giống lúa Nếp Lào tại hai xã nghiên cứu bị mất trắng. Giống lúa địa phương Bao Thai có khả năng chống chịu tốt hơn nhưng năng suất cũng bị sụt giảm tới 60% so với các năm trước. Đồng thời, sâu đục thân gây thiệt hại từ 4% đến 5% diện tích lúa toàn vùng.

3. Tỷ lệ tiếp cận thông tin về biến đổi khí hậu của người dân Mai Lạp qua các kênh truyền thông đạt mức nào? Khảo sát 30 hộ dân ghi nhận 87% người dân đã biết đến khái niệm biến đổi khí hậu. Trong đó, kênh tiếp cận chiếm tỷ trọng cao nhất là truyền hình với 60% (18 phiếu); tiếp cận đồng thời cả 3 hình thức (truyền hình, đài phát thanh, sách báo) đạt 17% (5 phiếu); đài phát thanh địa phương đạt 13% (4 phiếu); và thấp nhất là qua sách báo với 10% (3 phiếu).

4. Vì sao mô hình xen canh chuối - gừng và củ đậu lại thích ứng tốt với điều kiện biến đổi khí hậu trên đất dốc? Mô hình kết hợp hài hòa 3 tầng sinh thái: cây chuối tán cao có khả năng giữ ẩm thân cây và che bóng; cây củ đậu tầng thấp bò lan che phủ bề mặt đất chống xói mòn và rửa trôi do mưa lớn; cây gừng tầng trung ưa bóng râm phát triển tốt dưới tán chuối. Mô hình giúp tận dụng tối đa ánh sáng, giữ ẩm đất trong mùa khô hạn, tăng sinh khối hữu cơ trả lại cho đất và phân tán rủi ro kinh tế.

5. Tình hình thiệt hại trâu bò do rét đậm, rét hại tại xã Mai Lạp được ghi nhận cụ thể ra sao trong các năm 2008, 2011 và 2013? Năm 2008, các đợt rét đậm rét hại kéo dài đã làm chết 32 con trâu trên toàn xã Mai Lạp; năm 2011 số lượng trâu chết rét tăng lên 43 con; và đến năm 2013 số lượng gia súc bị chết ghi nhận là 45 con.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lường Văn Bắc đã phản ánh chi tiết thực trạng tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến hệ thống cây trồng, vật nuôi và sinh kế nông hộ tại xã miền núi Mai Lạp, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Đề tài làm nổi bật vai trò then chốt của tri thức bản địa trong việc ứng phó với hạn hán, rét hại thông qua việc lựa chọn giống chống chịu và kỹ thuật canh tác truyền thống. Mô hình thử nghiệm xen canh chuối - gừng - củ đậu trên đất dốc đã chứng minh được tính khả thi trong việc nâng cao sinh khối, hạn chế rửa trôi, cải tạo độ phì nhiêu của đất và tạo nguồn thu nhập phân tán rủi ro cho người dân địa phương.