Tổng quan luận án
Tỉnh An Giang là một trong chín tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động trực tiếp của lũ lụt định kỳ hàng năm từ thượng nguồn sông Mekong đổ về kết hợp lượng mưa nội vùng. Theo các ghi nhận thực tế, lũ mang lại nguồn lợi tự nhiên đáng kể như bồi đắp phù sa, cải thiện độ phì nhiêu của đất canh tác, vệ sinh đồng ruộng, thau chua rửa phèn và tạo nguồn sinh kế thủy sản tự nhiên (đánh bắt cá, hái rau thủy sinh, dịch vụ du lịch mùa nước nổi). Tuy nhiên, từ sau các trận lũ lớn như năm 2000 đến nay, diễn biến ngập lũ ngày càng có xu hướng bất thường, thất thường và suy giảm về lượng phù sa cũng như nguồn lợi thủy sản, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh. Nông dân địa phương qua nhiều thế hệ đã tích lũy kho tàng tri thức bản địa phong phú để ứng phó và thích nghi. Mặc dù vậy, nguồn tri thức này chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền miệng, chưa được tư liệu hóa, phân loại hay đánh giá một cách có hệ thống về mức độ phù hợp trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hệ thống đê bao khép kín phát triển mạnh mẽ.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Phát triển nông thôn (mã ngành: 9620116) của nghiên cứu sinh Phạm Xuân Phú, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Ngọc Đệ tại Trường Đại học Cần Thơ (năm 2019), mang tên: "Kiến thức bản địa và khả năng thích ứng với lũ của nông dân tỉnh An Giang". Đề tài tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc hệ thống hóa, kiểm chứng mức độ phù hợp của các kinh nghiệm dân gian và lượng hóa mối liên hệ giữa việc sử dụng kiến thức bản địa với tính dễ bị tổn thương sinh kế của nông hộ.
Mục tiêu của luận án:
- Mục tiêu tổng quát: Cung cấp các thông tin về kiến thức bản địa và khả năng thích ứng với lũ của nông dân tỉnh An Giang nhằm làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp và chính sách phù hợp trong việc sử dụng kiến thức bản địa để giảm tính dễ bị tổn thương, thích ứng với thay đổi chế độ ngập lũ và giúp chiến lược sinh kế của người dân vùng lũ đạt hiệu quả bền vững.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Hệ thống hóa và đánh giá được sự phù hợp của kiến thức bản địa và khả năng thích ứng của nông dân đối với lũ trong các điều kiện khác nhau.
- Mục tiêu 2: Phân tích được tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của nông dân đối với lũ trong các điều kiện khác nhau.
- Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị sử dụng kiến thức của nông dân tỉnh An Giang.
Câu hỏi nghiên cứu:
- (i) Các kiến thức bản địa nào đã và đang được người dân trong vùng nghiên cứu ứng dụng?
- (ii) Kiến thức bản địa đối với khả năng thích ứng của nông dân đối với lũ trong các điều kiện khác nhau như thế nào?
- (iii) Các yếu tố dễ bị tổn thương ảnh hưởng đến sinh kế của nông dân đối với lũ trong các điều kiện khác nhau ra sao?
- (iv) Cần có giải pháp, chính sách gì để duy trì và bảo tồn kiến thức bản địa của nông dân tỉnh An Giang mang lại hiệu quả và bền vững để góp phần hỗ trợ việc thích ứng và giảm nhẹ tác động tiêu cực trong điều kiện của biến đổi khí hậu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nông dân sản xuất nông nghiệp đang sinh sống trong vùng lũ (phân bổ theo 3 tiểu vùng: đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn) tại các khu vực trong đê bao và ngoài đê bao thuộc ba huyện An Phú, Châu Thành và Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Phạm vi không gian: Địa bàn ba huyện đại diện cho các vùng sinh thái ngập lũ khác nhau của tỉnh An Giang, gồm huyện An Phú (xã Phú Hữu - vùng đầu nguồn ngập sâu), huyện Châu Thành (xã Vĩnh An - vùng giữa nguồn ngập trung bình) và huyện Tri Tôn (xã Vĩnh Phước - vùng cuối nguồn thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên).
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung phân tích kiến thức bản địa trong dự báo và thích ứng với lũ gắn liền với sản xuất nông nghiệp và sinh kế hộ nông dân; luận án không đi sâu phân tích kỹ thuật canh tác chuyên sâu hay đánh giá chi tiết hạch toán kinh tế - môi trường vĩ mô.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức bản địa, biến đổi khí hậu, sinh kế bền vững và các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do thiên tai, ngập lũ:
Các hướng nghiên cứu quốc tế:
- Về khái niệm và đặc tính tri thức bản địa: Khung lý thuyết của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1998) và Louise (1998, 1999) xác định kiến thức bản địa là nền tảng hình thành các quyết định tại địa phương trong quản lý tài nguyên, y tế, giáo dục và giải quyết xung đột cộng đồng. Warren (1995) nhấn mạnh tính đặc thù không gian và tính thích nghi động của tri thức địa phương. Broding và Schonberger (2000) đã phân định sự khác biệt bản chất giữa kiến thức bản địa và kiến thức hàn lâm trên các khía cạnh phương thức lưu truyền, cơ chế tiếp cận, bản chất dữ liệu và hệ thống tư duy.
- Về ứng dụng tri thức bản địa trong dự báo và thích ứng khí hậu: Báo cáo IPCC (2007), nghiên cứu của Senanayake (2006), Vinita và cộng sự, Susan và cộng sự, Judith Ehlert (2010), Ajani và cộng sự ghi nhận các cộng đồng nông nghiệp tại châu Phi và châu Á sử dụng hành vi động vật (chim, côn trùng, lợn), chỉ thị thực vật (chu kỳ ra hoa, kết trái) và hiện tượng thiên văn (mây, trăng, sao) để dự báo thời tiết, hạn hán, lũ lụt và xác định lịch mùa vụ. Dewalt (1994) và Paul Mundy (1993) khẳng định việc tích hợp tri thức địa phương vào các dự án phát triển giúp tăng quyền tự quyết và năng lực tự phục hồi của cộng đồng.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam:
- Về lý luận tri thức địa phương: Các công trình của Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc (1998), Ngô Đức Thịnh (1995, 2004), Nguyễn Duy Thiệu (1994), Phạm Quang Hoan (2005), Phan Văn Tân và cộng sự, Bùi Hoài Sơn (2008), Vũ Trường Giang (2007, 2009, 2012), Ngô Thị Phương Lan (2013), Ngô Văn Lệ và cộng sự (2012, 2015, 2016) đã phân loại tri thức dân gian thành các nhóm: nhận thức tự nhiên - môi trường, kỹ thuật sản xuất, đời sống vật chất, tổ chức quản lý xã hội và văn hóa tinh thần.
- Về thích ứng lũ và sinh kế tại Đồng bằng sông Cửu Long: Nghiên cứu của Dương Văn Nhã (2006), Mai Văn Tùng (2006), Hoàng Thị Hoàng Ngân (2010), Van và cộng sự (2011), Bùi Quang Vinh (2013), Nguyễn Kim Uyên (2013), Hanh (2014) khảo sát tác động của lũ, biện pháp công trình (đê bao triệt để, đê bao tháng Tám) và phi công trình đối với sinh kế nông hộ vùng ngập lũ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu riêng lẻ về lũ lụt ở ĐBSCL hoặc nghiên cứu tri thức bản địa ở vùng đồng bào thiểu số miền núi, nhưng chưa có công trình nào hệ thống hóa đầy đủ, chi tiết các nhóm kinh nghiệm bản địa trong dự báo thời tiết, dự báo lũ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tại vùng đầu nguồn lũ An Giang. Đồng thời, các nghiên cứu trước đây chưa lượng hóa được mức độ phù hợp thực tế của từng kinh nghiệm trong điều kiện thủy văn thay đổi, cũng như chưa kết hợp Khung sinh kế bền vững để phân tích tương quan giữa việc áp dụng kiến thức bản địa với Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) theo các tiểu vùng sinh thái (đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn) và theo điều kiện có đê bao hoặc không có đê bao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân loại khái niệm
Luận án dựa trên các khung lý thuyết và khái niệm chuẩn mực sau:
- Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF của DFID): Phân tích sinh kế dựa trên 5 nguồn vốn: Nguồn vốn nhân lực (học vấn, kinh nghiệm, lao động), Nguồn vốn tự nhiên (đất đai, nước mặt, phù sa, nguồn lợi thủy sản), Nguồn vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, sự tương trợ cộng đồng, tổ hợp tác), Nguồn vốn vật chất (nhà cửa, công trình đê bao, máy móc, ngư cụ) và Nguồn vốn tài chính (thu nhập, tích lũy, tiếp cận tín dụng).
- Chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index - LVI): Được phát triển để lượng hóa mức độ tổn thương của nông hộ vùng lũ. Chỉ số này tích hợp các hợp phần chính gồm: đặc điểm nhân khẩu, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên, kiến thức - kỹ năng, thu nhập - tài chính và thảm họa thiên tai.
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương theo IPCC (LVI-IPCC): Tổng hợp các hợp phần thành ba chiều cạnh tác động: Phơi nhiễm (Exposure), Độ nhạy cảm (Sensitivity) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity).
- Phân loại kiến thức bản địa: Kế thừa cách tiếp cận của Louise (1998), IIRR (1996) và Ngô Đức Thịnh (2004), phân chia thành: thông tin, kỹ thuật thực hành sản xuất, nhận biết chỉ thị môi trường, bảo quản nông sản và phương thức sinh hoạt thích nghi.
| Tiêu chí phân định |
Kiến thức bản địa (Broding & Schonberger, 2000; Bùi Hoài Sơn, 2008) |
Kiến thức khoa học / hàn lâm (Broding & Schonberger, 2000; Bùi Hoài Sơn, 2008) |
| Hình thức lưu truyền |
Truyền miệng, thực hành, câu ca dao tục ngữ, biểu diễn |
Ghi chép văn bản, giáo trình, ấn phẩm, cơ sở dữ liệu số |
| Cơ chế tiếp nhận |
Quan sát, thử - sai, trải nghiệm thực tiễn cuộc sống |
Lý thuyết, nghiên cứu quy chuẩn, giáo dục chính quy |
| Phương pháp tư duy |
Trực giác, tiếp cận tổng thể, kinh nghiệm dân gian |
Phân tích, quy nạp, trừu tượng hóa, thực nghiệm kiểm chứng |
| Bản chất dữ liệu |
Chủ yếu định tính, mang tính đại chúng tại địa phương |
Chủ yếu định lượng, mang tính chuyên môn hóa, phổ quát |
| Mục đích sử dụng |
Phục vụ trực tiếp cho sự sinh tồn và sinh kế địa phương |
Khám phá quy luật tự nhiên, dự báo có kiểm soát |
Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp chọn vùng nghiên cứu: Chọn 3 huyện đại diện theo lát cắt thủy văn dọc tỉnh An Giang:
- Vùng đầu nguồn: Huyện An Phú (xã Phú Hữu), đặc trưng ngập sâu, lũ về sớm, tiếp giáp biên giới Campuchia.
- Vùng giữa nguồn: Huyện Châu Thành (xã Vĩnh An), đặc trưng ngập trung bình, có hệ thống đê bao sản xuất lúa 3 vụ phát triển.
- Vùng cuối nguồn: Huyện Tri Tôn (xã Vĩnh Phước), đặc trưng ngập nông hơn, chịu ảnh hưởng thoát lũ ra biển Tây thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên.
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu khí tượng - thủy văn (chuỗi dữ liệu mực nước đỉnh lũ và tần suất lũ tại trạm Tân Châu giai đoạn 1926-2015, dữ liệu nhiệt độ giai đoạn 1985-2015), số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo thiệt hại do lũ (các năm 2000, 2011, 2016) và tiến trình phát triển hệ thống đê bao qua các thời kỳ.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
- Khảo sát nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) tại các điểm nghiên cứu.
- Thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn bảng hỏi đối với Người am hiểu địa phương (Key Informant Panel - KIP) bao gồm các nông dân cao tuổi, giàu kinh nghiệm và cán bộ nông nghiệp cơ sở.
- Điều tra nông hộ bằng bảng câu hỏi cấu trúc đối với các hộ sản xuất nông nghiệp trong và ngoài đê bao tại 3 xã nghiên cứu.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Xử lý dữ liệu: Nhập liệu và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS (Statistical Package for Social Sciences).
- Các kỹ thuật phân tích thống kê:
- Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) nhằm mô tả đặc điểm nhân khẩu, hiện trạng áp dụng kiến thức bản địa.
- Bảng chéo (crosstab) để phân tích tần suất sử dụng các chỉ báo dân gian giữa các tiểu vùng.
- Kiểm định so sánh trung bình hai mẫu độc lập (Independent Samples T-test) để đánh giá sự khác biệt về chỉ số tổn thương sinh kế giữa nhóm nông hộ trong và ngoài đê bao.
- Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) so sánh sự khác biệt về kiến thức và các chỉ số LVI giữa 3 vùng sinh thái (đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn).
- Phân tích hệ số tương quan Pearson (Pearson correlation) nhằm xác định chiều hướng và mức độ liên hệ giữa việc nắm giữ/sử dụng kiến thức bản địa với mức độ tổn thương sinh kế của nông hộ.
- Xây dựng chỉ số LVI và LVI-IPCC: Chuẩn hóa các biến chỉ thị thành các chỉ số thành phần từ 0 đến 1, sau đó tổng hợp trọng số để tính chỉ số tổn thương chung cho từng nhóm nông hộ theo khu vực địa lý và đê bao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương này thiết lập cơ sở đặt vấn đề nghiên cứu về vai trò kép của lũ tại tỉnh An Giang: vừa mang lại phù sa, nguồn lợi thủy sản, cải tạo môi trường đất, vừa tiềm ẩn hiểm họa thiên tai đe dọa sinh kế khi diễn biến ngập lụt trở nên dị thường. Tác giả xác định tính cấp thiết của việc bảo tồn tri thức bản địa, trình bày hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể), 4 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm, xác định đối tượng là nông hộ sản xuất nông nghiệp trong và ngoài đê bao tại 3 huyện An Phú, Châu Thành, Tri Tôn, đồng thời nêu rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 cung cấp nền tảng lý luận toàn diện qua 6 nội dung trọng tâm:
- Khái niệm, bản chất, 4 đặc điểm cốt lõi và các loại hình kiến thức bản địa; so sánh kiến thức bản địa với kiến thức khoa học và kiến thức hàn lâm.
- Tổng quan về biến đổi khí hậu, thiên tai và các kịch bản nước biển dâng, mức độ hiểm họa thiên tai tại Việt Nam và ĐBSCL.
- Lý thuyết về sinh kế bền vững và khung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế (SLF).
- Các phương pháp lượng hóa tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và lũ lụt (phương pháp LVI, LVI-IPCC, FVI).
- Khái niệm thích ứng và các giải pháp thích ứng công trình/phi công trình.
- Đặc điểm thủy văn lũ ở ĐBSCL và tỉnh An Giang: phân tích diễn biến đỉnh lũ trạm Tân Châu từ năm 1926 đến 2015, nhiệt độ từ 1985 đến 2015, cùng quá trình hình thành, phát triển của hệ thống đê bao kiểm soát lũ.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa phương pháp luận và tiến trình triển khai nghiên cứu:
- Thiết lập khung tiếp cận sinh kế bền vững gắn với phân tích tri thức bản địa.
- Quy trình chọn 3 tiểu vùng nghiên cứu đại diện cho vùng đầu nguồn (An Phú), giữa nguồn (Châu Thành) và cuối nguồn (Tri Tôn) cùng cơ cấu mẫu điều tra hộ trong và ngoài đê bao.
- Hệ thống hóa các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (khí tượng thủy văn, lịch sử thiệt hại lũ 2000, 2011, 2016) và sơ cấp (PRA, KIP, điều tra hộ).
- Quy định cụ thể hệ thống thang đo, bảng phân loại mức độ tổn thương của chỉ số LVI, phân nhóm các hợp phần chính theo ba yếu tố ảnh hưởng của IPCC (phơi nhiễm, nhạy cảm, năng lực thích ứng).
- Chi tiết hóa quy trình phân tích định lượng trên phần mềm SPSS phục vụ giải quyết từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Chương 4: Kết quả thảo luận
Chương 4 là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm của luận án, tập trung vào các kết quả phân tích số liệu thu thập được:
1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và diễn biến lũ:
- Khảo sát đặc điểm nhân khẩu của nông hộ (trình độ học vấn, quy mô gia đình, diện tích đất canh tác, số năm kinh nghiệm sản xuất lúa).
- Tổng hợp biên niên các sự kiện lịch sử liên quan đến lũ tại xã Phú Hữu (An Phú), xã Vĩnh An (Châu Thành) và xã Vĩnh Phước (Tri Tôn).
- Đánh giá diễn biến đỉnh lũ tháng 9 qua các năm và phân tích quan điểm của người dân về sự suy giảm lượng nước lũ và lượng phù sa trong 10 năm qua, cùng thiệt hại qua các đợt lũ lớn (2000, 2011, 2016).
2. Hệ thống hóa và đánh giá tính phù hợp của 9 nhóm kiến thức bản địa:
Luận án đã hệ thống hóa kho tàng tri thức dân gian của nông dân An Giang thành 9 nhóm nội dung cụ thể:
- Dự báo thời tiết: Quan sát dấu hiệu của động vật (kiến di đàn, chuồn chuồn bay thấp/cao, ếch nhái kêu, chim chóc); thực vật (cây cỏ chỉ thị, hiện tượng rụng lá, ra chồi); hiện tượng khí quyển (trời, mây ráng đỏ, sao sáng/mờ, cầu vồng).
- Dự báo lũ lụt: Nhận biết lũ lớn/nhỏ, lũ sớm/muộn qua sự xuất hiện của các loài cá non, tổ ong làm trên cao hay thấp, mức độ sinh trưởng của cây bình bát, cỏ ống; hướng gió thổi (gió chướng, gió bấc) và sự thay đổi màu sắc của nước sông.
- Nhận biết đất tốt và đất xấu: Dựa vào sự xuất hiện của các loài chỉ thị đất (giun đất, cỏ dại đặc trưng) và màu sắc, kết cấu tầng đất phù sa bồi đắp sau mùa lũ.
- Bảo quản giống và thực phẩm: Kỹ thuật phơi sấy, gác bếp, bảo quản hạt giống lúa trong chum, vò bằng tro trấu; phương pháp ủ mắm, làm cá khô để dự trữ lương thực trong mùa nước nổi kéo dài.
- Ươm giống nảy mầm và bón phân: Kỹ thuật ủ giống lúa theo độ ẩm tự nhiên, quan sát bọt nước để xác định thời điểm bón phân đón đòng phù hợp.
- Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong mùa lũ: Làm chuồng trại nổi, bè nuôi gia cầm trên mặt nước, kỹ thuật chăm sóc thú y bằng thảo mộc tự nhiên.
- Đánh bắt thủy sản mùa lũ: Kinh nghiệm sử dụng cành cây me nước (ngọt nước, nhiều rong bám) để làm chà (đặt chà dưới lòng sông) nhằm thu hút tôm cá tập trung đánh bắt tự nhiên.
- Kỹ thuật cất nhà sàn thích ứng ngập lụt: Thiết kế cột kê, sàn gỗ nâng cao vượt mức đỉnh lũ lịch sử, xu hướng điều chỉnh độ cao sàn nhà khi chế độ lũ có sự thay đổi.
- Sử dụng cây thuốc nam tự nhiên trị bệnh: Danh mục các loại cây cỏ vườn nhà và mọc hoang dã dùng chữa trị các bệnh thông thường phát sinh trong mùa lũ (tiêu chảy, cảm sốt, da liễu do ngâm nước).
3. Đánh giá tính phù hợp và hiện trạng sử dụng:
- Đánh giá mức độ chính xác của các dấu hiệu dự báo thời tiết, dự báo lũ và kỹ thuật sản xuất trong bối cảnh khí hậu biến động. Nhiều kinh nghiệm dự báo lũ dựa vào chu kỳ thời gian cố định trước đây đã giảm độ chính xác do tác động điều tiết của các công trình thủy điện thượng nguồn và hệ thống đê bao vùng châu thổ.
- So sánh sự khác biệt trong việc tiếp cận và ứng dụng kiến thức bản địa giữa ba vùng sinh thái (đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn) và giữa nhóm nông hộ trong vùng đê bao khép kín (tập trung sản xuất lúa vụ 3) với ngoài đê bao (duy trì sinh kế khai thác mùa lũ).
4. Đánh giá Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI và LVI-IPCC):
- Tính toán chi tiết giá trị của 5 nguồn vốn sinh kế và các yếu tố phụ của chỉ số LVI đối với nông hộ vùng trong và ngoài đê bao.
- Kết quả kiểm định t-test và ANOVA cho thấy: Mức độ tổn thương sinh kế có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các vùng sinh thái. Vùng đầu nguồn (An Phú) có mức độ phơi nhiễm thiên tai cao hơn nhưng nguồn vốn tự nhiên từ lũ dồi dào hơn; vùng giữa nguồn (Châu Thành) có thế mạnh về vốn tài chính và vật chất nhờ sản xuất thâm canh trong đê bao nhưng đối mặt với suy giảm độ phì nhiêu của đất và gia tăng chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
- Phân tích tương quan Pearson: Cho thấy mối tương quan nghịch giữa mức độ am hiểu/áp dụng kiến thức bản địa phù hợp với chỉ số tổn thương sinh kế (nông hộ nắm giữ và vận dụng linh hoạt kiến thức bản địa có chỉ số tổn thương sinh kế thấp hơn).
5. Những trở ngại trong sản xuất và giải pháp:
- Nông dân đối mặt với các trở ngại lớn: dịch hại chuột phá hoại mùa màng, suy giảm nguồn lợi cá tự nhiên, suy giảm phù sa bồi đắp, thiếu thông tin dự báo chính xác và áp lực chi phí vật tư nông nghiệp gia tăng.
- Đề xuất hai nhóm giải pháp: Giải pháp kỹ thuật - sinh kế thích ứng lũ (chuyển đổi mùa vụ, mô hình sinh kế dựa vào lũ như trồng rau màu trên bè lục bình, nuôi thủy sản mùa lũ) và Giải pháp bảo tồn, tư liệu hóa, tích hợp kiến thức bản địa vào chương trình khuyến nông địa phương.
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Chương 5 đúc kết toàn bộ các kết quả đạt được tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu; khẳng định vai trò thực tiễn của tri thức bản địa trong quản lý rủi ro thiên tai; đồng thời đưa ra các đề xuất cụ thể đối với chính quyền các cấp, cơ quan quản lý nông nghiệp tỉnh An Giang và vùng ĐBSCL nhằm bảo tồn tri thức dân gian, quy hoạch đê bao hợp lý và nâng cao năng lực thích ứng sinh kế bền vững cho người dân vùng lũ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa toàn diện tri thức bản địa vùng lũ: Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tại tỉnh An Giang tiến hành tổng hợp, phân loại có hệ thống 9 nhóm kiến thức bản địa trong dự báo thời tiết, dự báo lũ và kỹ thuật sản xuất - sinh hoạt nông nghiệp của cư dân châu thổ.
- Cung cấp cơ sở khoa học kiểm chứng tri thức dân gian: Nghiên cứu đã phân tích, luận giải tính phù hợp và tính hạn chế của các chỉ báo dân gian dưới tác động của biến đổi khí hậu và can thiệp nhân tạo (thủy điện thượng nguồn, đê bao khép kín), chỉ ra những kinh nghiệm còn giữ nguyên giá trị dự báo và những kinh nghiệm đã bị sai lệch.
- Phương pháp luận tích hợp: Ứng dụng thành công Khung sinh kế bền vững (SLF) kết hợp phương pháp tính toán Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) và LVI-IPCC để lượng hóa mối tương quan giữa tri thức bản địa và năng lực giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của nông hộ theo từng tiểu vùng thủy văn (đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn) và theo quy hoạch đê bao (trong/ngoài đê bao).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý rủi ro thiên tai: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp và quản lý tài nguyên nước tại An Giang và ĐBSCL trong việc xây dựng kế hoạch thích ứng dựa vào cộng đồng.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy tri thức:
- Xây dựng cẩm nang ghi chép và tư liệu hóa tri thức bản địa phục vụ giáo dục cộng đồng và truyền dạy cho thế hệ trẻ.
- Kết hợp hài hòa giữa dự báo khí tượng thủy văn hiện đại với các dấu hiệu quan sát sinh thái dân gian trong hệ thống cảnh báo sớm tại cộng đồng.
- Tái cơ cấu mô hình sản xuất nông nghiệp mùa lũ: khuyến khích xả lũ lấy phù sa theo chu kỳ vào vùng đê bao, phát triển các mô hình sinh kế thích ứng mùa nước nổi (trồng dưa hấu/hoa màu trên nền lục bình, khai thác và nuôi thủy sản nước ngọt) nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập và giảm phụ thuộc vào độc canh cây lúa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo nội dung trình bày trong phạm vi luận án, các hạn chế và hướng mở rộng nghiên cứu được ghi nhận như sau:
- Về phạm vi nội dung: Luận án giới hạn khảo sát ở khía cạnh kiến thức bản địa và năng lực thích ứng sinh kế trong sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân; chưa đi sâu phân tích cơ chế sinh lý, sinh hóa của các chỉ thị thực vật/động vật trong dự báo cũng như chưa thực hiện hạch toán chi tiết hiệu quả kinh tế - kỹ thuật nông học và cân bằng sinh thái môi trường chuyên sâu.
- Về phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 3 huyện đại diện của tỉnh An Giang (An Phú, Châu Thành, Tri Tôn); đặc thù thủy văn và văn hóa của vùng Tứ giác Long Xuyên có thể có những nét riêng biệt so với vùng Đồng Tháp Mười hoặc vùng bán đảo Cà Mau.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng khảo sát trên toàn vùng sinh thái ngập lũ ĐBSCL; tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm liên ngành giữa sinh học, khí tượng học và nông học để kiểm chứng cơ chế khoa học của các loài chỉ thị môi trường; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển giao và bảo tồn tri thức bản địa trong trường học và các hợp tác xã nông nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên: Cung cấp tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Xã hội học nông thôn; là hình mẫu về phương pháp luận kết hợp phân tích định tính (PRA, KIP) và định lượng (LVI, LVI-IPCC, ANOVA, kiểm định t, tương quan Pearson).
- Các nhà quản lý nông nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang và các tỉnh vùng ĐBSCL trong việc quy hoạch phân vùng kiểm soát lũ, điều tiết lịch thời vụ xả lũ lấy phù sa và thiết kế các chương trình sinh kế thích ứng dựa vào cộng đồng.
- Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý thiên tai: Sử dụng làm tài liệu hướng dẫn khai thác tri thức bản địa trong các dự án nâng cao năng lực ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng châu thổ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã hệ thống hóa bao nhiêu nhóm kiến thức bản địa của nông dân tỉnh An Giang?
Luận án đã hệ thống hóa 9 nhóm kiến thức bản địa chính: (1) Dự báo thời tiết; (2) Dự báo lũ lụt; (3) Nhận biết đất tốt và đất xấu; (4) Bảo quản các loại giống và bảo quản thực phẩm; (5) Ươm giống nảy mầm và bón phân; (6) Chăn nuôi gia súc, gia cầm; (7) Đánh bắt cá trên sông bằng chà me nước; (8) Cất nhà sàn thích ứng với lũ; (9) Chữa bệnh thông thường bằng các loại cây thuốc tự nhiên.
2. Người dân địa phương sử dụng những dấu hiệu tự nhiên nào để dự báo thời tiết và dự báo lũ?
Để dự báo thời tiết và lũ lụt, người dân dựa vào:
- Dấu hiệu động vật: Tập tính di đàn của kiến, chuồn chuồn bay, tiếng kêu của ếch nhái, vị trí làm tổ của chim cút/ong, sự xuất hiện của cá non.
- Dấu hiệu thực vật: Sự đâm chồi, ra hoa, kết trái của các cây thân gỗ địa phương (bình bát, me nước), sự phát triển của cỏ ống.
- Hiện tượng tự nhiên - thủy văn: Quan sát trăng, sao, mây ráng đỏ, cầu vồng, chu kỳ con nước, hướng gió chướng/gió bấc và sự thay đổi màu nước trên sông.
3. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế được luận án sử dụng là gì?
Luận án sử dụng Khung sinh kế bền vững (SLF) kết hợp phương pháp tính toán Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) và Chỉ số tổn thương sinh kế theo IPCC (LVI-IPCC). Chỉ số được tính toán dựa trên các hợp phần chính (nhân khẩu, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, nguồn nước, tài nguyên, kiến thức - kỹ năng, thu nhập - tài chính, thiên tai) và quy về 3 yếu tố: Phơi nhiễm, Độ nhạy cảm và Năng lực thích ứng.
4. Sự khác biệt về tính dễ bị tổn thương sinh kế giữa nông hộ trong đê bao và ngoài đê bao là gì?
Nông hộ ngoài đê bao có mức độ phơi nhiễm trực tiếp với lũ cao hơn, dễ bị gián đoạn sinh kế khi lũ lớn bất thường nhưng lại thụ hưởng nguồn lợi tự nhiên (phù sa, thủy sản) và nắm giữ, áp dụng nhiều kiến thức bản địa thích ứng hơn. Ngược lại, nông hộ trong đê bao kiểm soát được mùa vụ để sản xuất 3 vụ lúa, có vốn vật chất tốt hơn nhưng đối mặt với tình trạng suy thoái độ phì đất, chi phí sản xuất tăng do thiếu phù sa và giảm dần các kỹ năng thích nghi với lũ tự nhiên.
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Xuân Phú là công trình nghiên cứu chuyên ngành Phát triển nông thôn, đã hệ thống hóa thành công 9 nhóm kiến thức bản địa và đánh giá mức độ phù hợp thực tế của chúng trong việc thích ứng với lũ tại tỉnh An Giang. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua Khung sinh kế bền vững và chỉ số LVI, luận án đã làm rõ sự khác biệt về mức độ tổn thương sinh kế giữa ba vùng sinh thái (đầu nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn) cũng như giữa khu vực trong và ngoài đê bao. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc ban hành các chính sách bảo tồn tri thức dân gian và hoạch định chiến lược sinh kế thích ứng lũ bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu.